Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6% Hạ lãi suất, ngân hàng “xoay trục” nguồn vốn

Điều hành tỷ giá linh hoạt trong “vùng nhiễu động”

Lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%, cao nhất từ đầu tháng 4/2026

Trong tuần cuối cùng của tháng 5/2026, từ ngày 25/5 đến ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã đảo chiều mạnh hoạt động trên thị trường mở (OMO) sau hai tuần liên tiếp hút ròng thanh khoản khỏi hệ thống.

Qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng hơn 129.480,31 tỷ đồng với kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày; với lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm, lượng phát hành tăng mạnh hai phiên giữa tuần (ngày 26 - 27/5) khi lãi suất liên ngân hàng bật tăng mạnh. Trong khi đó, lượng đáo hạn ở mức cao, lên tới 98.747 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng ra thị trường. Tính đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở tăng lên 332.311,66 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thanh khoản hệ thống vẫn chịu áp lực đáng kể khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh lên gần 8% trong tuần ở nhiều kỳ hạn, lên mức cao nhất kể từ đầu tháng 4/2026.

Đồng thời, quy mô giao dịch trên thị trường liên ngân hàng cũng tăng vọt, vượt 800.000 tỷ đồng, phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn gia tăng trong hệ thống ngân hàng.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất các kỳ hạn tiếp tục neo ở vùng cao.

Tại ngày 29/5, lãi suất qua đêm ở mức 6,96%/năm, tăng 0,39 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần ở mức 7,38%/năm, tăng 0,68 điểm phần trăm; kỳ hạn 2 tuần lên 7,35%/năm, tăng 0,33 điểm phần trăm; kỳ hạn 1 tháng ở mức 7,32%/năm, tăng 0,34 điểm phần trăm và kỳ hạn 3 tháng lên 7,69%/năm, tăng 0,49 điểm phần trăm.

Dù Ngân hàng Nhà nước đã chuyển sang bơm ròng thanh khoản quy mô lớn, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao, cho thấy áp lực tỷ giá và nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng chưa hạ nhiệt đáng kể cuối tháng 5/2026.

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), áp lực thanh khoản nhìn chung vẫn hiện hữu khi lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn 6 tháng (7,5 - 8,5%) 9 tháng (7,3 - 8,3%) liên tục tăng từ đầu năm 2026 đến nay, trong bối cảnh nhu cầu vốn ở mức cao khi tăng trưởng tín dụng 4 tháng đầu năm 2026 ở mức 4,4% và tăng trưởng huy động chỉ khoảng 2,6%.

“Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, Ngân hàng Nhà nước sẽ có các biện pháp hỗ trợ thị trường hoặc tăng quy mô phát hành OMO và lãi suất liên ngân hàng có thể không chịu áp lực lớn như giai đoạn đầu năm 2026. Đồng thời, duy trì quan điểm lãi suất trên thị trường 1 sẽ tiếp tục duy trì ở mặt bằng hiện tại ít nhất tới hết quý II/2026” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

USD tự do đảo chiều giảm mạnh, DXY dao động hẹp

Về biến động trên thị trường ngoại hối, trong tuần từ ngày 25/5 đến ngày 29/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục duy trì xu hướng tăng tuần thứ 3 liên tiếp, song mức tăng đã chậm lại đáng kể.

Chốt phiên ngày 29/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.139 đồng, tăng tổng cộng 5 đồng so với cuối tuần trước. Trong tuần, tỷ giá trung tâm chủ yếu dao động hẹp, với các phiên tăng, hoặc giảm nhẹ 1 - 2 đồng xen kẽ.

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%
Tỷ giá chính thức vẫn được điều hành theo hướng ổn định và kiểm soát biến động trong biên độ hẹp. Ảnh tư liệu.
Tỷ giá USD tự do phiên cuối tuần dao động quanh 26.380 - 26.420 VND/USD, giảm tới 140 đồng so với cuối tuần trước, đảo chiều hoàn toàn so với mức tăng 120 đồng của tuần trước đó. Đáng chú ý, trong phần lớn các phiên giao dịch trong tuần, giá USD tự do gần như đi ngang và không có nhiều biến động.

Diễn biến này cho thấy áp lực tỷ giá trên thị trường tự do đã phần nào hạ nhiệt, trong khi tỷ giá chính thức vẫn được điều hành theo hướng ổn định và kiểm soát biến động trong biên độ hẹp.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tuần qua dao động hẹp quanh ngưỡng 99 điểm, trong bối cảnh tâm lý thị trường dần ổn định hơn trước những tín hiệu hạ nhiệt căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông.

Đồng USD chịu áp lực giảm sau khi xuất hiện các báo cáo cho thấy Mỹ - Iran đạt được thỏa thuận sơ bộ về một biên bản ghi nhớ, nhằm gia hạn lệnh ngừng bắn thêm 60 ngày và nối lại các cuộc đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Tuy nhiên, thỏa thuận này được cho là vẫn cần sự phê chuẩn cuối cùng từ Tổng thống Donald Trump. Thông tin trên đã giúp giảm bớt lo ngại về nguy cơ gián đoạn nguồn cung dầu toàn cầu, qua đó, làm suy yếu nhu cầu trú ẩn vào đồng USD.

Trước đó, đồng bạc xanh từng tăng mạnh cùng đà leo thang của giá dầu, khi thị trường lo ngại căng thẳng địa chính trị có thể đẩy lạm phát tăng trở lại và khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn dự kiến.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, tỷ giá thị trường tự do giảm, nhờ hỗ trợ bởi thị trường vàng, kéo chênh lệch giữa kênh tự do và ngân hàng tiếp tục thu hẹp. Giá vàng thế giới đang chịu áp lực khi USD và lợi suất Mỹ tăng, làm giảm sức hấp dẫn của vàng, trong khi kỳ vọng Fed nới lỏng chính sách tiền tệ trong năm nay tiếp tục bị thu hẹp.

“Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND sẽ chịu áp lực khi đồng USD khả năng mạnh lên trong ngắn hạn, nhưng không đáng kể, nhờ giá vàng hạ nhiệt và lãi suất ổn định” - nhóm phân tích của Chứng khoán Yuanta nhận định./.

Căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt có thể tạo hiệu ứng tích cực cho lạm phát, lãi suất và tỷ giá

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán An Bình (ABS), yếu tố quan trọng nhất mà thị trường thế giới đang trông chờ là triển vọng Mỹ - Iran sớm đạt được thỏa thuận về việc chấm dứt xung đột. Khi eo biển Hormuz được giải tỏa, cùng với việc Mỹ, UAE và các nước OPEC tăng lượng cung dầu như trong thời gian vừa qua, thị trường kỳ vọng giá dầu thế giới sẽ giảm đáng kể, giúp giảm áp lực lạm phát trên toàn thế giới. Trên cơ sở đó, các ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn có thể đẩy nhanh tiến trình cắt giảm lãi suất điều hành.

“Giá dầu giảm, áp lực tăng nhập khẩu xăng dầu và nguyên vật liệu sản xuất giảm bớt, giá vàng và DXY suy yếu có thể giúp giảm áp lực lạm phát, lãi suất và tỷ giá đối với Việt Nam trong thời gian tới, trong khi cải thiện sức cầu và biên lợi nhuận của hàng hóaViệt Nam” - Chứng khoán ABS kỳ vọng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

BIDV khẳng định vị thế “Thương hiệu quốc gia”

BIDV khẳng định vị thế “Thương hiệu quốc gia”

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa được Hội đồng thương hiệu quốc gia vinh danh tại Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026. Đây là lần thứ 9 BIDV được trao tặng danh hiệu uy tín này.
Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Đã chuyển đổi mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người

Tính đến ngày 16/10, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã thực hiện chuyển đổi thành công mã số bảo hiểm xã hội sang số định danh cá nhân/căn cước công dân cho hơn 101,49 triệu người trên phần mềm Thu và quản lý sổ, thẻ, đạt 99,17% tổng số người thuộc phạm vi chuyển đổi.
Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

Bảo Việt: Vì người Việt, Vì tương lai Việt - tự hào Thương hiệu quốc gia

(TBTCO) - Tại chương trình Lễ công bố sản phẩm đạt Thương hiệu quốc gia Việt Nam năm 2026, Bảo Việt một lần nữa được vinh danh Thương hiệu quốc gia với ba sản phẩm uy tín. Sự ghi nhận này góp phần khẳng định chất lượng và vị thế của Bảo Việt trên thị trường tài chính - bảo hiểm Việt Nam.
MSB muốn huy động hơn 9.000 tỷ đồng, thị giá cổ phiếu cao hơn 48% giá chào bán

MSB muốn huy động hơn 9.000 tỷ đồng, thị giá cổ phiếu cao hơn 48% giá chào bán

(TBTCO) - Sau nhiều năm chủ yếu chia cổ tức bằng cổ phiếu để tăng vốn, MSB lần này dự kiến huy động trực tiếp 9.360 tỷ đồng từ cổ đông hiện hữu, thông qua chào bán 936 triệu cổ phiếu giá 10.000 đồng/cổ phiếu, trong khi thị giá kết phiên 16/10 cao hơn 48%. Nếu thành công, vốn điều lệ ngân hàng sẽ tăng 50% so với đầu năm, lên 46.800 tỷ đồng.
MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

MBV được chấp thuận tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng

(TBTCO) - Mới đây, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) vừa ban hành Quyết định số 136/QĐ-QLGS4 ngày 15/10/2026 chấp thuận việc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) tăng vốn điều lệ lên 3500 tỷ đồng.
BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

BIDV lên kế hoạch phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu quý IV, lãi suất tăng nhiệt

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành tối đa 8.000 tỷ đồng trái phiếu riêng lẻ trong quý IV/2026, sau kế hoạch chào bán 20.000 tỷ đồng trái phiếu ra công chúng, lãi suất các lô trái phiếu BIDV gần đây tăng rõ rệt. Hiện nhiều ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn qua kênh trái phiếu nhằm bổ sung vốn cấp 2, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng.
Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

Sunlife ra mắt nhận diện thương hiệu mới trên toàn cầu

(TBTCO) - Tập đoàn Tài chính Sunlife (Sunlife) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu toàn cầu mới, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của tổ chức, đồng thời phản ánh vai trò ngày càng toàn diện và sự gắn kết mạnh mẽ hơn của các hoạt động kinh doanh của Sunlife trên toàn cầu.
ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

ADB bổ nhiệm tân Giám đốc Quốc gia tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 16/10 thông tin, ABD đã bổ nhiệm ông Scott Roberts làm Giám đốc Quốc gia mới của ADB tại Việt Nam. Ông chính thức nhậm chức tại Hà Nội từ hôm nay.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,100 143,100
Hà Nội - PNJ 140,100 143,100
Đà Nẵng - PNJ 140,100 143,100
Miền Tây - PNJ 140,100 143,100
Tây Nguyên - PNJ 140,100 143,100
Đông Nam Bộ - PNJ 140,100 143,100
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,060 14,360
Miếng SJC Nghệ An 14,060 14,360
Miếng SJC Thái Bình 14,060 14,360
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 14,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 14,280
NL 99.99 13,150
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,560 14,160
Trang sức 99.99 13,570 14,170
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,406 14,362
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,406 14,363
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,401 1,431
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,401 1,432
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,376 1,421
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 140,693
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,936 106,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,988 96,788
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,704 8,684
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,203 83,003
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,612 59,412
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,406 1,436
Cập nhật: 18/10/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17448 17720 18309
CAD 17779 18053 18675
CHF 30781 31158 31797
CNY 0 3830 3926
EUR 28473 28690 29770
GBP 33709 34098 35033
HKD 0 3168 3371
JPY 157 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14320 14917
SGD 19695 19976 20546
THB 689 752 806
USD (1,2) 25630 0 0
USD (5,10,20) 25668 0 0
USD (50,100) 25696 25710 26080
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,507 28,530 29,883
JPY 159.19 159.48 169.13
GBP 33,818 33,910 35,099
AUD 17,673 17,737 18,408
CAD 17,917 17,975 18,641
CHF 30,968 31,064 31,993
SGD 19,791 19,853 20,642
CNY - 3,795 3,940
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.9 18.67 20.31
THB 738.13 747.25 799.91
NZD 14,335 14,468 14,904
SEK - 2,566 2,656
DKK - 3,823 3,959
NOK - 2,691 2,787
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,923.13 - 6,687.65
TWD 721.45 - 874.11
SAR - 6,776.46 7,138.59
KWD - 81,705 86,947
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,665 25,695 26,075
EUR 28,502 28,645 29,870
GBP 33,836 34,006 35,040
HKD 3,225 3,244 3,361
CHF 30,831 30,986 31,935
JPY 158.94 160.55 168.54
AUD 17,634 17,758 18,354
SGD 19,774 19,954 20,548
THB 743 758 796
CAD 17,928 18,018 18,617
NZD 14,425 14,982
KRW 18.75 20.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25690 25690 26086
AUD 17676 17776 18701
CAD 17939 18039 19053
CHF 31052 31082 32659
CNY 3811.7 3836.7 3971.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28705 28735 30460
GBP 34035 34085 35837
HKD 0 3315 0
JPY 160.49 160.99 171.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14481 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19866 19996 20717
THB 0 720.1 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14090000 14090000 14390000
SBJ 12500000 12500000 14390000
Cập nhật: 18/10/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30