Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 18 - 22/5: Bơm ròng 8.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng dự báo duy trì vùng cân bằng 6% Hạ lãi suất, ngân hàng “xoay trục” nguồn vốn

Điều hành tỷ giá linh hoạt trong “vùng nhiễu động”

Lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%, cao nhất từ đầu tháng 4/2026

Trong tuần cuối cùng của tháng 5/2026, từ ngày 25/5 đến ngày 29/5, Ngân hàng Nhà nước đã đảo chiều mạnh hoạt động trên thị trường mở (OMO) sau hai tuần liên tiếp hút ròng thanh khoản khỏi hệ thống.

Qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng hơn 129.480,31 tỷ đồng với kỳ hạn 7 ngày, 35 ngày và 56 ngày; với lãi suất giữ nguyên ở mức 4,5%/năm, lượng phát hành tăng mạnh hai phiên giữa tuần (ngày 26 - 27/5) khi lãi suất liên ngân hàng bật tăng mạnh. Trong khi đó, lượng đáo hạn ở mức cao, lên tới 98.747 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng ra thị trường. Tính đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở tăng lên 332.311,66 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thanh khoản hệ thống vẫn chịu áp lực đáng kể khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh lên gần 8% trong tuần ở nhiều kỳ hạn, lên mức cao nhất kể từ đầu tháng 4/2026.

Đồng thời, quy mô giao dịch trên thị trường liên ngân hàng cũng tăng vọt, vượt 800.000 tỷ đồng, phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn gia tăng trong hệ thống ngân hàng.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất các kỳ hạn tiếp tục neo ở vùng cao.

Tại ngày 29/5, lãi suất qua đêm ở mức 6,96%/năm, tăng 0,39 điểm phần trăm so với cuối tuần trước. Lãi suất kỳ hạn 1 tuần ở mức 7,38%/năm, tăng 0,68 điểm phần trăm; kỳ hạn 2 tuần lên 7,35%/năm, tăng 0,33 điểm phần trăm; kỳ hạn 1 tháng ở mức 7,32%/năm, tăng 0,34 điểm phần trăm và kỳ hạn 3 tháng lên 7,69%/năm, tăng 0,49 điểm phần trăm.

Dù Ngân hàng Nhà nước đã chuyển sang bơm ròng thanh khoản quy mô lớn, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức cao, cho thấy áp lực tỷ giá và nhu cầu vốn ngắn hạn trong hệ thống ngân hàng chưa hạ nhiệt đáng kể cuối tháng 5/2026.

Theo đánh giá của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), áp lực thanh khoản nhìn chung vẫn hiện hữu khi lãi suất liên ngân hàng các kỳ hạn 6 tháng (7,5 - 8,5%) 9 tháng (7,3 - 8,3%) liên tục tăng từ đầu năm 2026 đến nay, trong bối cảnh nhu cầu vốn ở mức cao khi tăng trưởng tín dụng 4 tháng đầu năm 2026 ở mức 4,4% và tăng trưởng huy động chỉ khoảng 2,6%.

“Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, Ngân hàng Nhà nước sẽ có các biện pháp hỗ trợ thị trường hoặc tăng quy mô phát hành OMO và lãi suất liên ngân hàng có thể không chịu áp lực lớn như giai đoạn đầu năm 2026. Đồng thời, duy trì quan điểm lãi suất trên thị trường 1 sẽ tiếp tục duy trì ở mặt bằng hiện tại ít nhất tới hết quý II/2026” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

USD tự do đảo chiều giảm mạnh, DXY dao động hẹp

Về biến động trên thị trường ngoại hối, trong tuần từ ngày 25/5 đến ngày 29/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tiếp tục duy trì xu hướng tăng tuần thứ 3 liên tiếp, song mức tăng đã chậm lại đáng kể.

Chốt phiên ngày 29/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.139 đồng, tăng tổng cộng 5 đồng so với cuối tuần trước. Trong tuần, tỷ giá trung tâm chủ yếu dao động hẹp, với các phiên tăng, hoặc giảm nhẹ 1 - 2 đồng xen kẽ.

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%
Tỷ giá chính thức vẫn được điều hành theo hướng ổn định và kiểm soát biến động trong biên độ hẹp. Ảnh tư liệu.
Tỷ giá USD tự do phiên cuối tuần dao động quanh 26.380 - 26.420 VND/USD, giảm tới 140 đồng so với cuối tuần trước, đảo chiều hoàn toàn so với mức tăng 120 đồng của tuần trước đó. Đáng chú ý, trong phần lớn các phiên giao dịch trong tuần, giá USD tự do gần như đi ngang và không có nhiều biến động.

Diễn biến này cho thấy áp lực tỷ giá trên thị trường tự do đã phần nào hạ nhiệt, trong khi tỷ giá chính thức vẫn được điều hành theo hướng ổn định và kiểm soát biến động trong biên độ hẹp.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tuần qua dao động hẹp quanh ngưỡng 99 điểm, trong bối cảnh tâm lý thị trường dần ổn định hơn trước những tín hiệu hạ nhiệt căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông.

Đồng USD chịu áp lực giảm sau khi xuất hiện các báo cáo cho thấy Mỹ - Iran đạt được thỏa thuận sơ bộ về một biên bản ghi nhớ, nhằm gia hạn lệnh ngừng bắn thêm 60 ngày và nối lại các cuộc đàm phán liên quan đến chương trình hạt nhân của Tehran. Tuy nhiên, thỏa thuận này được cho là vẫn cần sự phê chuẩn cuối cùng từ Tổng thống Donald Trump. Thông tin trên đã giúp giảm bớt lo ngại về nguy cơ gián đoạn nguồn cung dầu toàn cầu, qua đó, làm suy yếu nhu cầu trú ẩn vào đồng USD.

Trước đó, đồng bạc xanh từng tăng mạnh cùng đà leo thang của giá dầu, khi thị trường lo ngại căng thẳng địa chính trị có thể đẩy lạm phát tăng trở lại và khiến Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn dự kiến.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta, tỷ giá thị trường tự do giảm, nhờ hỗ trợ bởi thị trường vàng, kéo chênh lệch giữa kênh tự do và ngân hàng tiếp tục thu hẹp. Giá vàng thế giới đang chịu áp lực khi USD và lợi suất Mỹ tăng, làm giảm sức hấp dẫn của vàng, trong khi kỳ vọng Fed nới lỏng chính sách tiền tệ trong năm nay tiếp tục bị thu hẹp.

“Trong ngắn hạn, tỷ giá USD/VND sẽ chịu áp lực khi đồng USD khả năng mạnh lên trong ngắn hạn, nhưng không đáng kể, nhờ giá vàng hạ nhiệt và lãi suất ổn định” - nhóm phân tích của Chứng khoán Yuanta nhận định./.

Căng thẳng Trung Đông hạ nhiệt có thể tạo hiệu ứng tích cực cho lạm phát, lãi suất và tỷ giá

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán An Bình (ABS), yếu tố quan trọng nhất mà thị trường thế giới đang trông chờ là triển vọng Mỹ - Iran sớm đạt được thỏa thuận về việc chấm dứt xung đột. Khi eo biển Hormuz được giải tỏa, cùng với việc Mỹ, UAE và các nước OPEC tăng lượng cung dầu như trong thời gian vừa qua, thị trường kỳ vọng giá dầu thế giới sẽ giảm đáng kể, giúp giảm áp lực lạm phát trên toàn thế giới. Trên cơ sở đó, các ngân hàng trung ương các nền kinh tế lớn có thể đẩy nhanh tiến trình cắt giảm lãi suất điều hành.

“Giá dầu giảm, áp lực tăng nhập khẩu xăng dầu và nguyên vật liệu sản xuất giảm bớt, giá vàng và DXY suy yếu có thể giúp giảm áp lực lạm phát, lãi suất và tỷ giá đối với Việt Nam trong thời gian tới, trong khi cải thiện sức cầu và biên lợi nhuận của hàng hóaViệt Nam” - Chứng khoán ABS kỳ vọng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

(TBTCO) - Sáng 16/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.243 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần 55 đồng. Chỉ số DXY giảm 0,04% còn 100,48 điểm sau khi lạm phát Mỹ thấp hơn kỳ vọng, củng cố quan điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục "chờ và quan sát", trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada giữ nguyên lãi suất 2,25%.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,500 ▼2000K 145,500 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Nghệ An 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
Miếng SJC Thái Bình 14,360 ▼160K 14,660 ▼160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼120K 14,600 ▼120K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼120K 14,490 ▼120K
Trang sức 99.99 13,800 ▼120K 14,500 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 ▼16K 14,662 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 ▼16K 14,663 ▼160K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,421 ▼16K 1,456 ▼16K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,421 ▼16K 1,457 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,391 ▼21K 1,436 ▼16K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,178 ▼1584K 142,178 ▼1584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,061 ▼1200K 107,861 ▼1200K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,008 ▼1088K 97,808 ▼1088K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,955 ▼976K 87,755 ▼976K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,077 ▲66576K 83,877 ▲75396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,237 ▼667K 60,037 ▼667K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 ▼16K 1,466 ▼16K
Cập nhật: 17/07/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17809 18082 18661
CAD 18180 18456 19069
CHF 31823 32204 32850
CNY 0 3836 3928
EUR 29418 29639 30717
GBP 34565 34957 35899
HKD 0 3220 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15020 15607
SGD 19814 20096 20662
THB 697 760 813
USD (1,2) 26001 0 0
USD (5,10,20) 26042 0 0
USD (50,100) 26071 26085 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,060 26,060 26,440
USD(1-2-5) 25,018 - -
USD(10-20) 25,018 - -
EUR 29,530 29,554 30,965
JPY 157.17 157.45 166.95
GBP 34,735 34,829 36,039
AUD 18,031 18,096 18,777
CAD 18,356 18,415 19,094
CHF 32,068 32,168 33,115
SGD 19,918 19,980 20,765
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,280 3,290 3,428
KRW 16.38 17.08 18.58
THB 745.12 754.32 807.55
NZD 15,014 15,153 15,601
SEK - 2,674 2,769
DKK - 3,950 4,089
NOK - 2,666 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,008.13 - 6,782.2
TWD 734.41 - 889.63
SAR - 6,868.07 7,238.02
KWD - 83,059 88,370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26440
AUD 18005 18105 19028
CAD 18348 18448 19462
CHF 32058 32088 33678
CNY 3815.4 3840.4 3976.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29585 29615 31340
GBP 34859 34909 36667
HKD 0 3355 0
JPY 158.14 158.64 169.18
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15131 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20814
THB 0 725.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 18,061 18,161 19,268
EUR 29,453 29,553 31,211
CAD 18,288 18,388 19,695
SGD 20,071 20,221 20,780
JPY 158.89 160.39 165.93
GBP 34,932 35,082 36,139
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80