Điều hành tỷ giá linh hoạt trong "vùng nhiễu động"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bốn năm vừa qua là giai đoạn “thử lửa” của đồng Việt Nam (VND) trước làn sóng dịch chuyển dòng vốn toàn cầu trong bối cảnh USD mạnh lên. Nhà điều hành lựa chọn cách tiếp cận linh hoạt, ưu tiên các biện pháp “mềm” để ổn định thị trường ngoại tệ, củng cố vị thế VND, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
aa

Giữ VND ổn định trước áp lực đa chiều

Năm 2025, tỷ giá trung tâm khép lại ở mức 25.121 VND/USD, tăng 786 đồng so với đầu năm, tương ứng mức tăng 3,2%. Đáng chú ý, áp lực tỷ giá trong nước đã dịu bớt từ giữa tháng 8/2025, khi VND phục hồi khoảng 170 đồng so với đỉnh.

Tuy vậy, nhìn trên lát cắt dài hơn giai đoạn 2022 - 2025, có thể thấy, VND phải đối mặt với áp lực kéo dài từ chu kỳ tăng giá của USD trên thị trường tài chính toàn cầu. Riêng năm 2025, dù chỉ số DXY giảm gần 10%, mức sụt giảm mạnh hiếm thấy trong nhiều thập kỷ, tỷ giá USD/VND vẫn chịu sức ép đáng kể, phản ánh các yếu tố nội tại trong nước chưa hoàn toàn được tháo gỡ.

Sau 4 năm, tỷ giá trung tâm tăng 8,6% (khoảng 2.000 đồng); trong khi mức độ biến động tại các ngân hàng thương mại và trên thị trường tự do còn mạnh hơn đáng kể, lần lượt lên tới 15%, tương ứng tăng khoảng 3.400 - 3.500 đồng.

Điều hành tỷ giá linh hoạt trong
Nguồn: FiinPro, Bloomberg, CTCK Rồng Việt Đồ họa: tư liệu

Với vị thế dẫn dắt hoạt động kinh doanh ngoại hối, diễn biến tỷ giá tại Vietcombank phản ánh rõ xu hướng chung của thị trường. Tỷ giá tăng từ 22.920 VND/USD chiều bán cuối năm 2021 lên khoảng 26.377 VND/USD cuối năm 2025, tức tăng 3.457 đồng.

Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự phân kỳ chính sách tiền tệ, trong khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao kỷ lục để chống lạm phát, Việt Nam lại nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, tạo ra chênh lệch lãi suất âm kéo dài. Đà trượt giá này cũng phản ánh áp lực kép từ dòng vốn rút ròng, cán cân thanh toán tổng thể nhiều năm chịu sức ép.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2021 đến nay, thị trường ngoại tệ biến động phức tạp, tạo áp lực đa chiều tới tỷ giá và cung cầu thị trường ngoại tệ. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm biến động linh hoạt theo hai chiều tăng/giảm, kết hợp nới biên độ tỷ giá từ ±3% lên ±5%, tạo điều kiện cho tỷ giá biến động linh hoạt theo cung cầu thị trường, phù hợp với tình hình thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ, góp phần hấp thu các cú sốc từ bên ngoài.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước linh hoạt áp dụng các biện pháp mua/bán can thiệp ngoại tệ trên thị trường khi cần thiết; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với công tác truyền thông, các công cụ chính sách tiền tệ khác như lãi suất, thanh khoản VND..., nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, củng cố vị thế VND, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Đáng chú ý, thay vì bán hàng tỷ USD nhằm can thiệp tỷ giá như năm trước, năm 2025, nhà điều hành lựa chọn phương án bán ngoại tệ kỳ hạn có hủy ngang 180 ngày; đồng thời, từ ngày 4/12/2025, Ngân hàng Nhà nước triển khai công cụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, vừa góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ, vừa hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Điều hành tỷ giá bằng nhiều công cụ “mềm” hơn

Nhìn lại công tác điều hành tỷ giá thời gian qua, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đánh giá, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng các công cụ can thiệp theo hướng ngày càng tinh tế và hiệu quả hơn, đặc biệt là việc ưu tiên các biện pháp can thiệp “mềm”, như bán ngoại tệ có kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ (FX swap), thay vì bán giao ngay quy mô lớn như trước đây.

Lựa chọn ổn định kỳ vọng, chứ không "đi ngược" xu hướng

"Cần nhìn nhận rằng, hiệu quả của các công cụ can thiệp hiện nay chủ yếu nằm ở quản trị biến động ngắn hạn và ổn định kỳ vọng, chứ không phải để "đi ngược" xu hướng nếu các yếu tố nền tảng thay đổi mạnh. Trong bối cảnh đồng USD toàn cầu biến động và chênh lệch lãi suất quốc tế vẫn là yếu tố chi phối, Ngân hàng Nhà nước đã lựa chọn đúng vai trò: không neo cứng tỷ giá, mà để tỷ giá điều chỉnh có kiểm soát, tránh tích tụ mất cân đối lớn trong dài hạn".

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Về bản chất, bán ngoại tệ có kỳ hạn là một công cụ rất phù hợp trong bối cảnh tỷ giá chịu áp lực chủ yếu từ kỳ vọng và tâm lý thị trường, hơn là từ mất cân đối cung - cầu ngoại tệ mang tính cấu trúc.

"Công cụ này cho phép Ngân hàng Nhà nước vừa phát tín hiệu sẵn sàng cung ứng ngoại tệ trong tương lai, qua đó neo kỳ vọng tỷ giá, vừa tránh làm hao hụt ngay dự trữ ngoại hối và không gây sốc thanh khoản VND. Trên thực tế, việc sử dụng các giao dịch kỳ hạn ngắn đã giúp “làm phẳng” những thời điểm căng thẳng cục bộ, đặc biệt khi cầu USD tăng do yếu tố mùa vụ, nhập khẩu hoặc tâm lý phòng thủ trước biến động bên ngoài" - ông Huân đánh giá.

Điểm đáng ghi nhận là sự phối hợp linh hoạt giữa công cụ tỷ giá và công cụ tiền tệ. Khi áp lực tỷ giá tăng, Ngân hàng Nhà nước không phản ứng đơn tuyến bằng cách bán ngoại tệ, mà thường kết hợp điều tiết thanh khoản VND trên thị trường tiền tệ, để làm giảm động cơ đầu cơ và găm giữ ngoại tệ. Cách phối hợp này giúp chi phí nắm giữ USD tăng lên một cách gián tiếp, trong khi không cần phải đẩy mặt bằng lãi suất lên quá mạnh, qua đó, hạn chế tác động tiêu cực tới tăng trưởng.

Theo GS.TS Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, Việt Nam là nền kinh tế mở có độ hội nhập cao, do đó, các biến động bên ngoài, đặc biệt là chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn, có ảnh hưởng sâu sắc đến tỷ giá và dòng vốn.

Dẫn thông tin từ Ngân hàng Phát triển châu Á, ông Đạt cho rằng, Việt Nam cần duy trì chênh lệch lãi suất VND - USD ở mức dương 2 - 3 điểm phần trăm để tránh dòng vốn rút ra, đồng thời kiểm soát cung tiền nhằm ổn định tỷ giá danh nghĩa hiệu lực. Bởi rủi ro tỷ giá không chỉ ảnh hưởng đến nợ nước ngoài và chi phí nhập khẩu, mà còn tác động đến lạm phát kỳ vọng và giá trị tài sản.

Áp lực tỷ giá năm 2026 dự báo dịu bớt

Sau giai đoạn biến động mạnh và kéo dài tình trạng thâm hụt, cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam đã chuyển sang trạng thái thặng dư rõ nét, theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, với sự cải thiện rõ rệt nhất từ cán cân vãng lai. Từ mức thâm hụt sâu năm 2022 và 2024, cán cân thanh toán bắt đầu “đảo chiều” từ quý II/2025 và quý III/2025, ghi nhận thặng dư lần lượt là 1,49 tỷ USD và 1,7 tỷ USD, cho thấy dòng ngoại tệ quay trở lại tương đối ổn định.

Nhiều cơ quan phân tích dự báo, năm 2026, tỷ giá sẽ thiết lập mặt bằng giá mới quanh ngưỡng 27.000 VND/USD, song mức tăng chậm hơn, chỉ còn 1 - 2%.

VPBankS nhận định, triển vọng cán cân thanh toán và tỷ giá trong năm 2026 có sự chuyển biến rõ rệt theo hướng tích cực, biến động biên độ 1%, nhờ thặng dư thương mại duy trì ở mức cao, xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng bền bỉ, đặc biệt ở nhóm điện tử, cùng dòng vốn FDI ổn định khoảng 6%. Bên cạnh đó, khoản mục "lỗi và sai sót" trong cán cân thanh toán tổng thể được kỳ vọng giảm mạnh nhờ cải cách thị trường vàng và hoàn thiện khung pháp lý cho tiền mã hóa, trong khi dòng vốn gián tiếp nước ngoài (FII) quay trở lại trạng thái dương.

Trong khi đó, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cho rằng, áp lực tỷ giá năm 2026 bớt căng thẳng hơn giai đoạn 2024 - 2025 nhờ lộ trình bình thường hóa lãi suất của các ngân hàng trung ương; chênh lệch lãi suất USD - VND tiếp tục thu hẹp, cùng với dòng vốn FDI duy trì ổn định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80