Điều hành tỷ giá linh hoạt trong "vùng nhiễu động"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bốn năm vừa qua là giai đoạn “thử lửa” của đồng Việt Nam (VND) trước làn sóng dịch chuyển dòng vốn toàn cầu trong bối cảnh USD mạnh lên. Nhà điều hành lựa chọn cách tiếp cận linh hoạt, ưu tiên các biện pháp “mềm” để ổn định thị trường ngoại tệ, củng cố vị thế VND, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
aa

Giữ VND ổn định trước áp lực đa chiều

Năm 2025, tỷ giá trung tâm khép lại ở mức 25.121 VND/USD, tăng 786 đồng so với đầu năm, tương ứng mức tăng 3,2%. Đáng chú ý, áp lực tỷ giá trong nước đã dịu bớt từ giữa tháng 8/2025, khi VND phục hồi khoảng 170 đồng so với đỉnh.

Tuy vậy, nhìn trên lát cắt dài hơn giai đoạn 2022 - 2025, có thể thấy, VND phải đối mặt với áp lực kéo dài từ chu kỳ tăng giá của USD trên thị trường tài chính toàn cầu. Riêng năm 2025, dù chỉ số DXY giảm gần 10%, mức sụt giảm mạnh hiếm thấy trong nhiều thập kỷ, tỷ giá USD/VND vẫn chịu sức ép đáng kể, phản ánh các yếu tố nội tại trong nước chưa hoàn toàn được tháo gỡ.

Sau 4 năm, tỷ giá trung tâm tăng 8,6% (khoảng 2.000 đồng); trong khi mức độ biến động tại các ngân hàng thương mại và trên thị trường tự do còn mạnh hơn đáng kể, lần lượt lên tới 15%, tương ứng tăng khoảng 3.400 - 3.500 đồng.

Điều hành tỷ giá linh hoạt trong
Nguồn: FiinPro, Bloomberg, CTCK Rồng Việt Đồ họa: tư liệu

Với vị thế dẫn dắt hoạt động kinh doanh ngoại hối, diễn biến tỷ giá tại Vietcombank phản ánh rõ xu hướng chung của thị trường. Tỷ giá tăng từ 22.920 VND/USD chiều bán cuối năm 2021 lên khoảng 26.377 VND/USD cuối năm 2025, tức tăng 3.457 đồng.

Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự phân kỳ chính sách tiền tệ, trong khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao kỷ lục để chống lạm phát, Việt Nam lại nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, tạo ra chênh lệch lãi suất âm kéo dài. Đà trượt giá này cũng phản ánh áp lực kép từ dòng vốn rút ròng, cán cân thanh toán tổng thể nhiều năm chịu sức ép.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2021 đến nay, thị trường ngoại tệ biến động phức tạp, tạo áp lực đa chiều tới tỷ giá và cung cầu thị trường ngoại tệ. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm biến động linh hoạt theo hai chiều tăng/giảm, kết hợp nới biên độ tỷ giá từ ±3% lên ±5%, tạo điều kiện cho tỷ giá biến động linh hoạt theo cung cầu thị trường, phù hợp với tình hình thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ, góp phần hấp thu các cú sốc từ bên ngoài.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước linh hoạt áp dụng các biện pháp mua/bán can thiệp ngoại tệ trên thị trường khi cần thiết; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với công tác truyền thông, các công cụ chính sách tiền tệ khác như lãi suất, thanh khoản VND..., nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, củng cố vị thế VND, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Đáng chú ý, thay vì bán hàng tỷ USD nhằm can thiệp tỷ giá như năm trước, năm 2025, nhà điều hành lựa chọn phương án bán ngoại tệ kỳ hạn có hủy ngang 180 ngày; đồng thời, từ ngày 4/12/2025, Ngân hàng Nhà nước triển khai công cụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, vừa góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ, vừa hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Điều hành tỷ giá bằng nhiều công cụ “mềm” hơn

Nhìn lại công tác điều hành tỷ giá thời gian qua, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đánh giá, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng các công cụ can thiệp theo hướng ngày càng tinh tế và hiệu quả hơn, đặc biệt là việc ưu tiên các biện pháp can thiệp “mềm”, như bán ngoại tệ có kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ (FX swap), thay vì bán giao ngay quy mô lớn như trước đây.

Lựa chọn ổn định kỳ vọng, chứ không "đi ngược" xu hướng

"Cần nhìn nhận rằng, hiệu quả của các công cụ can thiệp hiện nay chủ yếu nằm ở quản trị biến động ngắn hạn và ổn định kỳ vọng, chứ không phải để "đi ngược" xu hướng nếu các yếu tố nền tảng thay đổi mạnh. Trong bối cảnh đồng USD toàn cầu biến động và chênh lệch lãi suất quốc tế vẫn là yếu tố chi phối, Ngân hàng Nhà nước đã lựa chọn đúng vai trò: không neo cứng tỷ giá, mà để tỷ giá điều chỉnh có kiểm soát, tránh tích tụ mất cân đối lớn trong dài hạn".

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Về bản chất, bán ngoại tệ có kỳ hạn là một công cụ rất phù hợp trong bối cảnh tỷ giá chịu áp lực chủ yếu từ kỳ vọng và tâm lý thị trường, hơn là từ mất cân đối cung - cầu ngoại tệ mang tính cấu trúc.

"Công cụ này cho phép Ngân hàng Nhà nước vừa phát tín hiệu sẵn sàng cung ứng ngoại tệ trong tương lai, qua đó neo kỳ vọng tỷ giá, vừa tránh làm hao hụt ngay dự trữ ngoại hối và không gây sốc thanh khoản VND. Trên thực tế, việc sử dụng các giao dịch kỳ hạn ngắn đã giúp “làm phẳng” những thời điểm căng thẳng cục bộ, đặc biệt khi cầu USD tăng do yếu tố mùa vụ, nhập khẩu hoặc tâm lý phòng thủ trước biến động bên ngoài" - ông Huân đánh giá.

Điểm đáng ghi nhận là sự phối hợp linh hoạt giữa công cụ tỷ giá và công cụ tiền tệ. Khi áp lực tỷ giá tăng, Ngân hàng Nhà nước không phản ứng đơn tuyến bằng cách bán ngoại tệ, mà thường kết hợp điều tiết thanh khoản VND trên thị trường tiền tệ, để làm giảm động cơ đầu cơ và găm giữ ngoại tệ. Cách phối hợp này giúp chi phí nắm giữ USD tăng lên một cách gián tiếp, trong khi không cần phải đẩy mặt bằng lãi suất lên quá mạnh, qua đó, hạn chế tác động tiêu cực tới tăng trưởng.

Theo GS.TS Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, Việt Nam là nền kinh tế mở có độ hội nhập cao, do đó, các biến động bên ngoài, đặc biệt là chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn, có ảnh hưởng sâu sắc đến tỷ giá và dòng vốn.

Dẫn thông tin từ Ngân hàng Phát triển châu Á, ông Đạt cho rằng, Việt Nam cần duy trì chênh lệch lãi suất VND - USD ở mức dương 2 - 3 điểm phần trăm để tránh dòng vốn rút ra, đồng thời kiểm soát cung tiền nhằm ổn định tỷ giá danh nghĩa hiệu lực. Bởi rủi ro tỷ giá không chỉ ảnh hưởng đến nợ nước ngoài và chi phí nhập khẩu, mà còn tác động đến lạm phát kỳ vọng và giá trị tài sản.

Áp lực tỷ giá năm 2026 dự báo dịu bớt

Sau giai đoạn biến động mạnh và kéo dài tình trạng thâm hụt, cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam đã chuyển sang trạng thái thặng dư rõ nét, theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, với sự cải thiện rõ rệt nhất từ cán cân vãng lai. Từ mức thâm hụt sâu năm 2022 và 2024, cán cân thanh toán bắt đầu “đảo chiều” từ quý II/2025 và quý III/2025, ghi nhận thặng dư lần lượt là 1,49 tỷ USD và 1,7 tỷ USD, cho thấy dòng ngoại tệ quay trở lại tương đối ổn định.

Nhiều cơ quan phân tích dự báo, năm 2026, tỷ giá sẽ thiết lập mặt bằng giá mới quanh ngưỡng 27.000 VND/USD, song mức tăng chậm hơn, chỉ còn 1 - 2%.

VPBankS nhận định, triển vọng cán cân thanh toán và tỷ giá trong năm 2026 có sự chuyển biến rõ rệt theo hướng tích cực, biến động biên độ 1%, nhờ thặng dư thương mại duy trì ở mức cao, xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng bền bỉ, đặc biệt ở nhóm điện tử, cùng dòng vốn FDI ổn định khoảng 6%. Bên cạnh đó, khoản mục "lỗi và sai sót" trong cán cân thanh toán tổng thể được kỳ vọng giảm mạnh nhờ cải cách thị trường vàng và hoàn thiện khung pháp lý cho tiền mã hóa, trong khi dòng vốn gián tiếp nước ngoài (FII) quay trở lại trạng thái dương.

Trong khi đó, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cho rằng, áp lực tỷ giá năm 2026 bớt căng thẳng hơn giai đoạn 2024 - 2025 nhờ lộ trình bình thường hóa lãi suất của các ngân hàng trung ương; chênh lệch lãi suất USD - VND tiếp tục thu hẹp, cùng với dòng vốn FDI duy trì ổn định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Kinh doanh gần như "đóng băng", một công ty “gọi” vốn hàng trăm tỷ đồng có “hình bóng” của PVComBank Chi nhánh Đống Đa

Dù kinh doanh thua lỗ, hoạt động gần như "đóng băng", Công ty cổ phần Đầu tư hội nhập Toàn Cầu vẫn gắn với những khoản huy động hàng trăm tỷ đồng, từ lô trái phiếu 190 tỷ đồng đến các giao dịch bảo đảm có giá trị khoản vay hàng trăm tỷ đồng tại PVComBank Chi nhánh Đống Đa. Phía sau các nghĩa vụ hàng trăm tỷ đồng là tài sản bảo đảm chỉ vài nghìn cổ phần, gắn với mạng lưới doanh nghiệp đan xen.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn

Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn

(TBTCO) - Tín dụng/GDP của Việt Nam dự báo tiếp tục leo dốc, lên 155% năm 2026, gia tăng áp lực khi tín dụng đã ở nền cao. Trong khi dòng vốn vẫn tìm về "chỗ trũng", yêu cầu điều hướng tín dụng, nâng chất lượng tín dụng và tăng cường kiểm soát rủi ro ngày càng được đặt ra rõ nét.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,900 ▲400K 144,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,160 ▲30K 14,460 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 14,160 ▲30K 14,460 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 14,160 ▲30K 14,460 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▲50K 14,550 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▲50K 14,550 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▲50K 14,550 ▲50K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,860 ▲50K 14,460 ▲50K
Trang sức 99.99 13,870 ▲50K 14,470 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,416 ▲3K 14,462 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,416 ▲3K 14,463 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,411 ▲3K 1,441 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,411 ▲3K 1,442 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▲3K 1,426 ▲3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▲297K 141,188 ▲297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▲225K 107,111 ▲225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▲204K 97,128 ▲204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▲183K 87,145 ▲183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▲175K 83,294 ▲175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44713K 5,962 ▼53533K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,416 ▲3K 1,446 ▲3K
Cập nhật: 13/08/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17834 18108 18681
CAD 18142 18418 19032
CHF 31350 31729 32372
CNY 0 3830 3940
EUR 29376 29597 30673
GBP 34318 34709 35655
HKD 0 3188 3391
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14920 15508
SGD 19800 20082 20650
THB 702 765 819
USD (1,2) 25783 0 0
USD (5,10,20) 25822 0 0
USD (50,100) 25850 25864 26230
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25840 25840 26210
AUD 18005 18105 19031
CAD 18307 18407 19419
CHF 31576 31606 33187
CNY 3798.9 3823.9 3959.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29536 29566 31291
GBP 34597 34647 36416
HKD 0 3355 0
JPY 159.73 160.23 170.75
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15025 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19944 20074 20796
THB 0 731.3 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14160000 14160000 14460000
SBJ 12500000 12500000 14460000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,880 25,930 26,250
USD20 25,830 25,930 26,794
USD1 25,780 25,930 26,844
AUD 18,091 18,191 19,311
EUR 29,386 29,486 31,164
CAD 18,283 18,383 19,700
SGD 20,056 20,206 20,774
JPY 160.52 162.02 167.68
GBP 34,560 34,710 35,850
XAU 14,158,000 0 14,462,000
CNY 0 3,713 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80