Điều hành tỷ giá linh hoạt trong "vùng nhiễu động"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bốn năm vừa qua là giai đoạn “thử lửa” của đồng Việt Nam (VND) trước làn sóng dịch chuyển dòng vốn toàn cầu trong bối cảnh USD mạnh lên. Nhà điều hành lựa chọn cách tiếp cận linh hoạt, ưu tiên các biện pháp “mềm” để ổn định thị trường ngoại tệ, củng cố vị thế VND, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
aa

Giữ VND ổn định trước áp lực đa chiều

Năm 2025, tỷ giá trung tâm khép lại ở mức 25.121 VND/USD, tăng 786 đồng so với đầu năm, tương ứng mức tăng 3,2%. Đáng chú ý, áp lực tỷ giá trong nước đã dịu bớt từ giữa tháng 8/2025, khi VND phục hồi khoảng 170 đồng so với đỉnh.

Tuy vậy, nhìn trên lát cắt dài hơn giai đoạn 2022 - 2025, có thể thấy, VND phải đối mặt với áp lực kéo dài từ chu kỳ tăng giá của USD trên thị trường tài chính toàn cầu. Riêng năm 2025, dù chỉ số DXY giảm gần 10%, mức sụt giảm mạnh hiếm thấy trong nhiều thập kỷ, tỷ giá USD/VND vẫn chịu sức ép đáng kể, phản ánh các yếu tố nội tại trong nước chưa hoàn toàn được tháo gỡ.

Sau 4 năm, tỷ giá trung tâm tăng 8,6% (khoảng 2.000 đồng); trong khi mức độ biến động tại các ngân hàng thương mại và trên thị trường tự do còn mạnh hơn đáng kể, lần lượt lên tới 15%, tương ứng tăng khoảng 3.400 - 3.500 đồng.

Điều hành tỷ giá linh hoạt trong
Nguồn: FiinPro, Bloomberg, CTCK Rồng Việt Đồ họa: tư liệu

Với vị thế dẫn dắt hoạt động kinh doanh ngoại hối, diễn biến tỷ giá tại Vietcombank phản ánh rõ xu hướng chung của thị trường. Tỷ giá tăng từ 22.920 VND/USD chiều bán cuối năm 2021 lên khoảng 26.377 VND/USD cuối năm 2025, tức tăng 3.457 đồng.

Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự phân kỳ chính sách tiền tệ, trong khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao kỷ lục để chống lạm phát, Việt Nam lại nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, tạo ra chênh lệch lãi suất âm kéo dài. Đà trượt giá này cũng phản ánh áp lực kép từ dòng vốn rút ròng, cán cân thanh toán tổng thể nhiều năm chịu sức ép.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2021 đến nay, thị trường ngoại tệ biến động phức tạp, tạo áp lực đa chiều tới tỷ giá và cung cầu thị trường ngoại tệ. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm biến động linh hoạt theo hai chiều tăng/giảm, kết hợp nới biên độ tỷ giá từ ±3% lên ±5%, tạo điều kiện cho tỷ giá biến động linh hoạt theo cung cầu thị trường, phù hợp với tình hình thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ, góp phần hấp thu các cú sốc từ bên ngoài.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước linh hoạt áp dụng các biện pháp mua/bán can thiệp ngoại tệ trên thị trường khi cần thiết; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với công tác truyền thông, các công cụ chính sách tiền tệ khác như lãi suất, thanh khoản VND..., nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, củng cố vị thế VND, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Đáng chú ý, thay vì bán hàng tỷ USD nhằm can thiệp tỷ giá như năm trước, năm 2025, nhà điều hành lựa chọn phương án bán ngoại tệ kỳ hạn có hủy ngang 180 ngày; đồng thời, từ ngày 4/12/2025, Ngân hàng Nhà nước triển khai công cụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, vừa góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ, vừa hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Điều hành tỷ giá bằng nhiều công cụ “mềm” hơn

Nhìn lại công tác điều hành tỷ giá thời gian qua, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đánh giá, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng các công cụ can thiệp theo hướng ngày càng tinh tế và hiệu quả hơn, đặc biệt là việc ưu tiên các biện pháp can thiệp “mềm”, như bán ngoại tệ có kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ (FX swap), thay vì bán giao ngay quy mô lớn như trước đây.

Lựa chọn ổn định kỳ vọng, chứ không "đi ngược" xu hướng

"Cần nhìn nhận rằng, hiệu quả của các công cụ can thiệp hiện nay chủ yếu nằm ở quản trị biến động ngắn hạn và ổn định kỳ vọng, chứ không phải để "đi ngược" xu hướng nếu các yếu tố nền tảng thay đổi mạnh. Trong bối cảnh đồng USD toàn cầu biến động và chênh lệch lãi suất quốc tế vẫn là yếu tố chi phối, Ngân hàng Nhà nước đã lựa chọn đúng vai trò: không neo cứng tỷ giá, mà để tỷ giá điều chỉnh có kiểm soát, tránh tích tụ mất cân đối lớn trong dài hạn".

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Về bản chất, bán ngoại tệ có kỳ hạn là một công cụ rất phù hợp trong bối cảnh tỷ giá chịu áp lực chủ yếu từ kỳ vọng và tâm lý thị trường, hơn là từ mất cân đối cung - cầu ngoại tệ mang tính cấu trúc.

"Công cụ này cho phép Ngân hàng Nhà nước vừa phát tín hiệu sẵn sàng cung ứng ngoại tệ trong tương lai, qua đó neo kỳ vọng tỷ giá, vừa tránh làm hao hụt ngay dự trữ ngoại hối và không gây sốc thanh khoản VND. Trên thực tế, việc sử dụng các giao dịch kỳ hạn ngắn đã giúp “làm phẳng” những thời điểm căng thẳng cục bộ, đặc biệt khi cầu USD tăng do yếu tố mùa vụ, nhập khẩu hoặc tâm lý phòng thủ trước biến động bên ngoài" - ông Huân đánh giá.

Điểm đáng ghi nhận là sự phối hợp linh hoạt giữa công cụ tỷ giá và công cụ tiền tệ. Khi áp lực tỷ giá tăng, Ngân hàng Nhà nước không phản ứng đơn tuyến bằng cách bán ngoại tệ, mà thường kết hợp điều tiết thanh khoản VND trên thị trường tiền tệ, để làm giảm động cơ đầu cơ và găm giữ ngoại tệ. Cách phối hợp này giúp chi phí nắm giữ USD tăng lên một cách gián tiếp, trong khi không cần phải đẩy mặt bằng lãi suất lên quá mạnh, qua đó, hạn chế tác động tiêu cực tới tăng trưởng.

Theo GS.TS Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, Việt Nam là nền kinh tế mở có độ hội nhập cao, do đó, các biến động bên ngoài, đặc biệt là chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn, có ảnh hưởng sâu sắc đến tỷ giá và dòng vốn.

Dẫn thông tin từ Ngân hàng Phát triển châu Á, ông Đạt cho rằng, Việt Nam cần duy trì chênh lệch lãi suất VND - USD ở mức dương 2 - 3 điểm phần trăm để tránh dòng vốn rút ra, đồng thời kiểm soát cung tiền nhằm ổn định tỷ giá danh nghĩa hiệu lực. Bởi rủi ro tỷ giá không chỉ ảnh hưởng đến nợ nước ngoài và chi phí nhập khẩu, mà còn tác động đến lạm phát kỳ vọng và giá trị tài sản.

Áp lực tỷ giá năm 2026 dự báo dịu bớt

Sau giai đoạn biến động mạnh và kéo dài tình trạng thâm hụt, cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam đã chuyển sang trạng thái thặng dư rõ nét, theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, với sự cải thiện rõ rệt nhất từ cán cân vãng lai. Từ mức thâm hụt sâu năm 2022 và 2024, cán cân thanh toán bắt đầu “đảo chiều” từ quý II/2025 và quý III/2025, ghi nhận thặng dư lần lượt là 1,49 tỷ USD và 1,7 tỷ USD, cho thấy dòng ngoại tệ quay trở lại tương đối ổn định.

Nhiều cơ quan phân tích dự báo, năm 2026, tỷ giá sẽ thiết lập mặt bằng giá mới quanh ngưỡng 27.000 VND/USD, song mức tăng chậm hơn, chỉ còn 1 - 2%.

VPBankS nhận định, triển vọng cán cân thanh toán và tỷ giá trong năm 2026 có sự chuyển biến rõ rệt theo hướng tích cực, biến động biên độ 1%, nhờ thặng dư thương mại duy trì ở mức cao, xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng bền bỉ, đặc biệt ở nhóm điện tử, cùng dòng vốn FDI ổn định khoảng 6%. Bên cạnh đó, khoản mục "lỗi và sai sót" trong cán cân thanh toán tổng thể được kỳ vọng giảm mạnh nhờ cải cách thị trường vàng và hoàn thiện khung pháp lý cho tiền mã hóa, trong khi dòng vốn gián tiếp nước ngoài (FII) quay trở lại trạng thái dương.

Trong khi đó, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cho rằng, áp lực tỷ giá năm 2026 bớt căng thẳng hơn giai đoạn 2024 - 2025 nhờ lộ trình bình thường hóa lãi suất của các ngân hàng trung ương; chênh lệch lãi suất USD - VND tiếp tục thu hẹp, cùng với dòng vốn FDI duy trì ổn định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 28/09/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 28/09/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30