Điều hành tỷ giá linh hoạt trong "vùng nhiễu động"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bốn năm vừa qua là giai đoạn “thử lửa” của đồng Việt Nam (VND) trước làn sóng dịch chuyển dòng vốn toàn cầu trong bối cảnh USD mạnh lên. Nhà điều hành lựa chọn cách tiếp cận linh hoạt, ưu tiên các biện pháp “mềm” để ổn định thị trường ngoại tệ, củng cố vị thế VND, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
aa

Giữ VND ổn định trước áp lực đa chiều

Năm 2025, tỷ giá trung tâm khép lại ở mức 25.121 VND/USD, tăng 786 đồng so với đầu năm, tương ứng mức tăng 3,2%. Đáng chú ý, áp lực tỷ giá trong nước đã dịu bớt từ giữa tháng 8/2025, khi VND phục hồi khoảng 170 đồng so với đỉnh.

Tuy vậy, nhìn trên lát cắt dài hơn giai đoạn 2022 - 2025, có thể thấy, VND phải đối mặt với áp lực kéo dài từ chu kỳ tăng giá của USD trên thị trường tài chính toàn cầu. Riêng năm 2025, dù chỉ số DXY giảm gần 10%, mức sụt giảm mạnh hiếm thấy trong nhiều thập kỷ, tỷ giá USD/VND vẫn chịu sức ép đáng kể, phản ánh các yếu tố nội tại trong nước chưa hoàn toàn được tháo gỡ.

Sau 4 năm, tỷ giá trung tâm tăng 8,6% (khoảng 2.000 đồng); trong khi mức độ biến động tại các ngân hàng thương mại và trên thị trường tự do còn mạnh hơn đáng kể, lần lượt lên tới 15%, tương ứng tăng khoảng 3.400 - 3.500 đồng.

Điều hành tỷ giá linh hoạt trong
Nguồn: FiinPro, Bloomberg, CTCK Rồng Việt Đồ họa: tư liệu

Với vị thế dẫn dắt hoạt động kinh doanh ngoại hối, diễn biến tỷ giá tại Vietcombank phản ánh rõ xu hướng chung của thị trường. Tỷ giá tăng từ 22.920 VND/USD chiều bán cuối năm 2021 lên khoảng 26.377 VND/USD cuối năm 2025, tức tăng 3.457 đồng.

Nguyên nhân cốt lõi nằm ở sự phân kỳ chính sách tiền tệ, trong khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao kỷ lục để chống lạm phát, Việt Nam lại nới lỏng để hỗ trợ tăng trưởng, tạo ra chênh lệch lãi suất âm kéo dài. Đà trượt giá này cũng phản ánh áp lực kép từ dòng vốn rút ròng, cán cân thanh toán tổng thể nhiều năm chịu sức ép.

Theo đánh giá của Ngân hàng Nhà nước, từ năm 2021 đến nay, thị trường ngoại tệ biến động phức tạp, tạo áp lực đa chiều tới tỷ giá và cung cầu thị trường ngoại tệ. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục áp dụng cơ chế tỷ giá trung tâm biến động linh hoạt theo hai chiều tăng/giảm, kết hợp nới biên độ tỷ giá từ ±3% lên ±5%, tạo điều kiện cho tỷ giá biến động linh hoạt theo cung cầu thị trường, phù hợp với tình hình thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ, góp phần hấp thu các cú sốc từ bên ngoài.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước linh hoạt áp dụng các biện pháp mua/bán can thiệp ngoại tệ trên thị trường khi cần thiết; phối hợp đồng bộ, chặt chẽ với công tác truyền thông, các công cụ chính sách tiền tệ khác như lãi suất, thanh khoản VND..., nhằm ổn định thị trường ngoại tệ, củng cố vị thế VND, góp phần kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Đáng chú ý, thay vì bán hàng tỷ USD nhằm can thiệp tỷ giá như năm trước, năm 2025, nhà điều hành lựa chọn phương án bán ngoại tệ kỳ hạn có hủy ngang 180 ngày; đồng thời, từ ngày 4/12/2025, Ngân hàng Nhà nước triển khai công cụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, vừa góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ, vừa hỗ trợ ổn định tỷ giá.

Điều hành tỷ giá bằng nhiều công cụ “mềm” hơn

Nhìn lại công tác điều hành tỷ giá thời gian qua, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đánh giá, Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng các công cụ can thiệp theo hướng ngày càng tinh tế và hiệu quả hơn, đặc biệt là việc ưu tiên các biện pháp can thiệp “mềm”, như bán ngoại tệ có kỳ hạn, hoán đổi ngoại tệ (FX swap), thay vì bán giao ngay quy mô lớn như trước đây.

Lựa chọn ổn định kỳ vọng, chứ không "đi ngược" xu hướng

"Cần nhìn nhận rằng, hiệu quả của các công cụ can thiệp hiện nay chủ yếu nằm ở quản trị biến động ngắn hạn và ổn định kỳ vọng, chứ không phải để "đi ngược" xu hướng nếu các yếu tố nền tảng thay đổi mạnh. Trong bối cảnh đồng USD toàn cầu biến động và chênh lệch lãi suất quốc tế vẫn là yếu tố chi phối, Ngân hàng Nhà nước đã lựa chọn đúng vai trò: không neo cứng tỷ giá, mà để tỷ giá điều chỉnh có kiểm soát, tránh tích tụ mất cân đối lớn trong dài hạn".

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh

Về bản chất, bán ngoại tệ có kỳ hạn là một công cụ rất phù hợp trong bối cảnh tỷ giá chịu áp lực chủ yếu từ kỳ vọng và tâm lý thị trường, hơn là từ mất cân đối cung - cầu ngoại tệ mang tính cấu trúc.

"Công cụ này cho phép Ngân hàng Nhà nước vừa phát tín hiệu sẵn sàng cung ứng ngoại tệ trong tương lai, qua đó neo kỳ vọng tỷ giá, vừa tránh làm hao hụt ngay dự trữ ngoại hối và không gây sốc thanh khoản VND. Trên thực tế, việc sử dụng các giao dịch kỳ hạn ngắn đã giúp “làm phẳng” những thời điểm căng thẳng cục bộ, đặc biệt khi cầu USD tăng do yếu tố mùa vụ, nhập khẩu hoặc tâm lý phòng thủ trước biến động bên ngoài" - ông Huân đánh giá.

Điểm đáng ghi nhận là sự phối hợp linh hoạt giữa công cụ tỷ giá và công cụ tiền tệ. Khi áp lực tỷ giá tăng, Ngân hàng Nhà nước không phản ứng đơn tuyến bằng cách bán ngoại tệ, mà thường kết hợp điều tiết thanh khoản VND trên thị trường tiền tệ, để làm giảm động cơ đầu cơ và găm giữ ngoại tệ. Cách phối hợp này giúp chi phí nắm giữ USD tăng lên một cách gián tiếp, trong khi không cần phải đẩy mặt bằng lãi suất lên quá mạnh, qua đó, hạn chế tác động tiêu cực tới tăng trưởng.

Theo GS.TS Trần Thọ Đạt - Chủ tịch Hội đồng Khoa học và Đào tạo, Đại học Kinh tế Quốc dân, Việt Nam là nền kinh tế mở có độ hội nhập cao, do đó, các biến động bên ngoài, đặc biệt là chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn, có ảnh hưởng sâu sắc đến tỷ giá và dòng vốn.

Dẫn thông tin từ Ngân hàng Phát triển châu Á, ông Đạt cho rằng, Việt Nam cần duy trì chênh lệch lãi suất VND - USD ở mức dương 2 - 3 điểm phần trăm để tránh dòng vốn rút ra, đồng thời kiểm soát cung tiền nhằm ổn định tỷ giá danh nghĩa hiệu lực. Bởi rủi ro tỷ giá không chỉ ảnh hưởng đến nợ nước ngoài và chi phí nhập khẩu, mà còn tác động đến lạm phát kỳ vọng và giá trị tài sản.

Áp lực tỷ giá năm 2026 dự báo dịu bớt

Sau giai đoạn biến động mạnh và kéo dài tình trạng thâm hụt, cán cân thanh toán tổng thể của Việt Nam đã chuyển sang trạng thái thặng dư rõ nét, theo số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước, với sự cải thiện rõ rệt nhất từ cán cân vãng lai. Từ mức thâm hụt sâu năm 2022 và 2024, cán cân thanh toán bắt đầu “đảo chiều” từ quý II/2025 và quý III/2025, ghi nhận thặng dư lần lượt là 1,49 tỷ USD và 1,7 tỷ USD, cho thấy dòng ngoại tệ quay trở lại tương đối ổn định.

Nhiều cơ quan phân tích dự báo, năm 2026, tỷ giá sẽ thiết lập mặt bằng giá mới quanh ngưỡng 27.000 VND/USD, song mức tăng chậm hơn, chỉ còn 1 - 2%.

VPBankS nhận định, triển vọng cán cân thanh toán và tỷ giá trong năm 2026 có sự chuyển biến rõ rệt theo hướng tích cực, biến động biên độ 1%, nhờ thặng dư thương mại duy trì ở mức cao, xuất khẩu tiếp tục tăng trưởng bền bỉ, đặc biệt ở nhóm điện tử, cùng dòng vốn FDI ổn định khoảng 6%. Bên cạnh đó, khoản mục "lỗi và sai sót" trong cán cân thanh toán tổng thể được kỳ vọng giảm mạnh nhờ cải cách thị trường vàng và hoàn thiện khung pháp lý cho tiền mã hóa, trong khi dòng vốn gián tiếp nước ngoài (FII) quay trở lại trạng thái dương.

Trong khi đó, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt cho rằng, áp lực tỷ giá năm 2026 bớt căng thẳng hơn giai đoạn 2024 - 2025 nhờ lộ trình bình thường hóa lãi suất của các ngân hàng trung ương; chênh lệch lãi suất USD - VND tiếp tục thu hẹp, cùng với dòng vốn FDI duy trì ổn định.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 27/6: Thế giới tăng nhẹ, trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng gần 40 USD/ounce lên mức 4.072 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng đảo chiều tăng tại nhiều doanh nghiệp.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

ABBank sắp chia cổ tức 15% bằng cổ phiếu, khởi động kế hoạch tăng vốn vượt 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - ABBank dự kiến chia cổ tức bằng cổ phiếu tỷ lệ 15% trong nửa đầu tháng 7/2026, mở đầu kế hoạch tăng vốn năm nay, đưa vốn lên trên 20.000 tỷ đồng. Động thái diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay ngân hàng tiến sát 120 nghìn tỷ đồng và chất lượng tài sản cải thiện rõ nét.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80