Ngành Ngân hàng "tổng lực” xử lý tồn đọng, chủ động quản trị rủi ro

(TBTCO) - Hệ thống ngân hàng vẫn đối diện nghịch lý ngày càng rõ: tăng trưởng tín dụng khởi sắc cùng đà phục hồi kinh tế kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Bối cảnh đó buộc ngành Ngân hàng phải tăng tốc xử lý tồn đọng, đồng thời chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng chuẩn quản trị rủi ro, tạo dư địa cho chu kỳ tăng trưởng mới.
aa

“Nhận diện” rủi ro tiềm ẩn

Đằng sau những con số cải thiện về tín dụng là rủi ro tiềm ẩn. Nếu không được nhận diện và kiểm soát kịp thời, những yếu tố này hoàn toàn có thể kích hoạt “làn sóng” nợ xấu tiếp theo, phức tạp và khó lường hơn trong chu kỳ mới.

Thứ nhất, “bộ đệm” dự phòng rủi ro tại nhiều ngân hàng đang mỏng dần. Sau 2 năm liên tục trích lập mạnh để xử lý nợ xấu, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tại một số tổ chức đã giảm đáng kể. Dự báo năm 2026, không ít ngân hàng khó duy trì LLR trên 100%, trong khi môi trường kinh tế vẫn tiềm ẩn các cú sốc từ thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp và thương mại toàn cầu.

Ngành Ngân hàng
Việc xử lý nợ nhanh hơn đồng nghĩa với khả năng hoàn nhập dự phòng sớm hơn, cải thiện lợi nhuận và vốn tự có. Ảnh: An Thư

Thứ hai, áp lực tăng trưởng tín dụng có thể đẩy dòng vốn quay trở lại các lĩnh vực rủi ro cao. Khi mục tiêu lợi nhuận và chỉ tiêu tăng trưởng được nới lỏng, bất động sản, xây dựng và các dự án hạ tầng dài hạn có nguy cơ trở thành “điểm nóng” mới của nợ xấu trong trung hạn, nếu thiếu các hàng rào quản trị rủi ro phù hợp.

Thứ ba, xử lý nợ xấu bằng phát mại tài sản quy mô lớn cũng tiềm ẩn rủi ro, tạo làn sóng chào bán ồ ạt ra thị trường, đặc biệt với bất động sản công nghiệp và thương mại. Nếu cung vượt cầu, giá tài sản bảo đảm có thể giảm sâu, làm gia tăng tổn thất thực tế so với giá trị sổ sách.

Tăng tốc xử lý nợ xấu, tiến về “vùng an toàn”

Báo cáo tài chính của các ngân hàng đang phản ánh khá rõ nỗ lực xử lý nợ xấu. Nhiều ngân hàng ghi nhận mức thu hồi nợ ngoại bảng và hoàn nhập dự phòng cao kỷ lục. VietinBank thu hồi khoảng 6.800 tỷ đồng nợ ngoại bảng, tăng 13% so với cùng kỳ. MB, ACB, ABBank cũng ghi nhận sự cải thiện rõ rệt cả về lợi nhuận lẫn tỷ lệ nợ xấu (NPL).

Đáng chú ý, một số ngân hàng đã đưa tỷ lệ NPL về sát hoặc dưới ngưỡng 1%, mức được xem là “vùng an toàn” trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động. Agribank đặt mục tiêu kéo NPL xuống dưới 1%, trong khi ACB tiếp tục duy trì lợi thế nhờ hệ thống cảnh báo sớm và mô hình xử lý nợ phi tố tụng hiệu quả.

Tăng trưởng tín dụng không đi kèm kỷ luật, nợ xấu sẽ gây áp lực

Có thể kỳ vọng mặt bằng nợ xấu năm 2026 sẽ duy trì ổn định trong ngắn hạn, nhờ hiệu ứng của “chiến dịch tổng lực” cuối năm 2025, cùng hành lang pháp lý được củng cố sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 được luật hóa. Tuy nhiên, áp lực nợ xấu trung hạn 2027 - 2028 vẫn hiện hữu, đặc biệt nếu tăng trưởng tín dụng được đẩy mạnh, mà không đi kèm kiểm soát chất lượng tài sản.

Ở chiều sâu hơn, thương vụ bán hơn 37.000 tỷ đồng nợ theo chương trình của Ngân hàng Nhà nước của HDBank cho thấy xu hướng làm sạch bảng cân đối một lần, để tạo nền móng cho tăng trưởng tín dụng cao trong năm 2026.

Một trong những yếu tố mang tính bước ngoặt cho năm 2026 là việc Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) đã được luật hóa trong Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi). Nếu như giai đoạn 2017 - 2023, Nghị quyết 42 chỉ mang tính thí điểm với thời hạn áp dụng, thì việc luật hóa đã tạo ra một hành lang pháp lý ổn định, lâu dài cho các tổ chức tín dụng.

Khung pháp lý mới cho phép ngân hàng chủ động hơn trong thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm, rút ngắn thời gian tranh chấp, giảm phụ thuộc vào các thủ tục tố tụng kéo dài. Điều này không chỉ giúp đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu hiện hữu, mà còn góp phần hình thành kỷ luật thị trường đối với người vay, đặc biệt trong các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản và xây dựng.

Về mặt tài chính, việc xử lý nợ nhanh hơn đồng nghĩa với khả năng hoàn nhập dự phòng sớm hơn, cải thiện lợi nhuận và vốn tự có. Đây là yếu tố then chốt để đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn ngày càng khắt khe theo Basel III.

Giữ nhịp kiểm soát nợ xấu, ngăn “vòng xoáy” mới

Năm 2026 được xem là năm bản lề đối với hệ thống ngân hàng. Việc giải quyết dứt điểm các khoản nợ tồn đọng không chỉ giúp làm sạch bảng cân đối kế toán, cải thiện hệ số an toàn vốn và khả năng sinh lời, mà còn mở ra dư địa cho tăng trưởng tín dụng trong chu kỳ mới.

Tuy nhiên, để tránh tái diễn “vòng xoáy” nợ xấu như các giai đoạn trước, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ nâng chuẩn quản trị rủi ro, siết chặt giám sát tín dụng đến tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và kỷ luật thị trường.

Đề xuất một số khuyến nghị về hoàn thiện khung khổ xử lý nợ xấu và củng cố năng lực quản trị rủi ro, PGS.TS Nguyễn Đức Trung - Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trước tiên, cần củng cố vốn tự có và dự phòng rủi ro. Các ngân hàng cần thận trọng trong chính sách cổ tức, ưu tiên giữ lại lợi nhuận để tăng vốn điều lệ. Duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức an toàn (80 - 100%) không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là “tấm đệm sinh tồn” trước các cú sốc chu kỳ.

Tiếp theo, tận dụng tối đa khung pháp lý mới về xử lý nợ xấu. Việc luật hóa Nghị quyết 42 đòi hỏi các ngân hàng phải chuyên nghiệp hóa bộ phận pháp chế và thu hồi nợ. Mô hình xử lý phi tố tụng, thương lượng linh hoạt với khách hàng cần được nhân rộng để giảm chi phí và thời gian.

Đặc biệt, cần kiểm soát chặt tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực rủi ro. Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục giám sát dòng vốn vào bất động sản, xây dựng, trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời gắn chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng với chất lượng tài sản và hệ số an toàn vốn (CAR) theo Basel III.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị rủi ro tín dụng. Ứng dụng AI, Big Data và các mô hình cảnh báo sớm sẽ giúp ngân hàng nhận diện rủi ro ngay từ giai đoạn tiền nợ xấu, chủ động cơ cấu lại khoản vay hoặc trích lập dự phòng phù hợp.

Việc xử lý nợ xấu không thể chỉ là một chiến dịch ngắn hạn, mà phải trở thành một năng lực quản trị cốt lõi. Trong một chu kỳ kinh tế đầy biến động, ngân hàng nào duy trì được kỷ luật tín dụng, “bộ đệm” tài chính vững chắc và hệ thống quản trị rủi ro hiện đại sẽ không chỉ vượt qua bài toán nợ xấu 2026, mà còn nắm lợi thế cạnh tranh bền vững cho cả giai đoạn sắp tới.

Tư duy xử lý nợ xấu chuyển từ phòng thủ sang chủ động

Thị trường mua bán nợ và phát mại tài sản bảo đảm đang trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Từ các ngân hàng thương mại nhà nước đến khối ngân hàng cổ phần, hàng loạt khoản nợ xấu quy mô lớn được đưa ra đấu giá công khai. Danh mục tài sản bảo đảm cũng rất đa dạng, trải dài từ “đất vàng” nội đô đến nhà máy, khu công nghiệp, công trình hạ tầng và các tài sản dịch vụ.

Ngân hàng Agribank nổi lên như một trong những tổ chức tiên phong, khi liên tục chào bán các khoản nợ hàng trăm tỷ đồng của doanh nghiệp lâm sản, thương mại và bất động sản, được bảo đảm bằng quyền sử dụng đất tại các vị trí đắc địa ở TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh công nghiệp phía Nam. Ngân hàng BIDV, VietinBank, Vietcombank cũng không đứng ngoài cuộc, khi đẩy mạnh xử lý các khoản nợ gắn với bất động sản nội đô TP. Hà Nội, nhà máy sản xuất, thậm chí cả những tài sản đặc thù như trạm dừng nghỉ cao tầng, khu logistics hay nhà máy xử lý nước.

Đáng chú ý là tốc độ và mức độ quyết liệt của các thương vụ này. Thay vì neo giá chờ thị trường, nhiều ngân hàng chấp nhận giảm giá sâu, ưu tiên thu hồi dòng tiền sớm để cải thiện chất lượng tài sản. Đây là dấu hiệu cho thấy tư duy xử lý nợ xấu đã thay đổi, từ phòng thủ sang chủ động, từ kéo dài thời gian sang chấp nhận chi phí để đổi lấy sự an toàn.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước khu vực 15

Đọc thêm

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

Tỷ giá USD hôm nay (16/7): Tỷ giá trung tâm lên 25.243 đồng, USD suy yếu khi Fed "chờ và quan sát"

(TBTCO) - Sáng 16/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.243 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần 55 đồng. Chỉ số DXY giảm 0,04% còn 100,48 điểm sau khi lạm phát Mỹ thấp hơn kỳ vọng, củng cố quan điểm Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục "chờ và quan sát", trong khi đó, Ngân hàng Trung ương Canada giữ nguyên lãi suất 2,25%.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

Khẩn trương thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, triển khai lộ trình Basel III toàn hệ thống ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đẩy nhanh lộ trình triển khai chuẩn mực vốn Basel trên toàn hệ thống. Tại cuộc họp ngày 15/7, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước yêu cầu khẩn trương hoàn thiện các dự thảo văn bản, trong đó có dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN; đồng thời xây dựng kế hoạch tập huấn, giải đáp các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai.
Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 14,820
Miếng SJC Nghệ An 14,520 14,820
Miếng SJC Thái Bình 14,520 14,820
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 14,720
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 14,720
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 14,610
Trang sức 99.99 13,920 14,620
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 14,822
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 14,823
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 1,472
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 1,473
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,412 1,452
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 143,762
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 109,061
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,096 98,896
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,931 88,731
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,501 8,481
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,904 60,704
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 1,482
Cập nhật: 17/07/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17848 18122 18698
CAD 18164 18440 19062
CHF 31861 32242 32886
CNY 0 3838 3931
EUR 29448 29669 30752
GBP 34637 35029 35967
HKD 0 3218 3420
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15051 15641
SGD 19818 20100 20681
THB 697 761 814
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,596 29,620 31,034
JPY 157.5 157.78 167.31
GBP 34,901 34,995 36,200
AUD 18,033 18,098 18,779
CAD 18,344 18,403 19,080
CHF 32,168 32,268 33,214
SGD 19,954 20,016 20,803
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.34 17.04 18.55
THB 746.08 755.29 808.1
NZD 15,032 15,172 15,620
SEK - 2,691 2,785
DKK - 3,959 4,099
NOK - 2,671 2,765
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,801.44
TWD 736.06 - 891.07
SAR - 6,872.72 7,238.83
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26432
AUD 18029 18129 19052
CAD 18347 18447 19461
CHF 32114 32144 33726
CNY 3819.1 3844.1 3979.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29648 29678 31403
GBP 34959 35009 36766
HKD 0 3355 0
JPY 158.36 158.86 169.38
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15160 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20838
THB 0 726.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,086 26,136 26,450
USD20 26,086 26,136 26,450
USD1 26,086 26,136 26,450
AUD 18,061 18,161 19,268
EUR 29,453 29,553 31,211
CAD 18,288 18,388 19,695
SGD 20,071 20,221 20,780
JPY 158.89 160.39 165.93
GBP 34,932 35,082 36,139
XAU 14,518,000 0 14,822,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/07/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80