Ngành Ngân hàng "tổng lực” xử lý tồn đọng, chủ động quản trị rủi ro

(TBTCO) - Hệ thống ngân hàng vẫn đối diện nghịch lý ngày càng rõ: tăng trưởng tín dụng khởi sắc cùng đà phục hồi kinh tế kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Bối cảnh đó buộc ngành Ngân hàng phải tăng tốc xử lý tồn đọng, đồng thời chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng chuẩn quản trị rủi ro, tạo dư địa cho chu kỳ tăng trưởng mới.
aa

“Nhận diện” rủi ro tiềm ẩn

Đằng sau những con số cải thiện về tín dụng là rủi ro tiềm ẩn. Nếu không được nhận diện và kiểm soát kịp thời, những yếu tố này hoàn toàn có thể kích hoạt “làn sóng” nợ xấu tiếp theo, phức tạp và khó lường hơn trong chu kỳ mới.

Thứ nhất, “bộ đệm” dự phòng rủi ro tại nhiều ngân hàng đang mỏng dần. Sau 2 năm liên tục trích lập mạnh để xử lý nợ xấu, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tại một số tổ chức đã giảm đáng kể. Dự báo năm 2026, không ít ngân hàng khó duy trì LLR trên 100%, trong khi môi trường kinh tế vẫn tiềm ẩn các cú sốc từ thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp và thương mại toàn cầu.

Ngành Ngân hàng
Việc xử lý nợ nhanh hơn đồng nghĩa với khả năng hoàn nhập dự phòng sớm hơn, cải thiện lợi nhuận và vốn tự có. Ảnh: An Thư

Thứ hai, áp lực tăng trưởng tín dụng có thể đẩy dòng vốn quay trở lại các lĩnh vực rủi ro cao. Khi mục tiêu lợi nhuận và chỉ tiêu tăng trưởng được nới lỏng, bất động sản, xây dựng và các dự án hạ tầng dài hạn có nguy cơ trở thành “điểm nóng” mới của nợ xấu trong trung hạn, nếu thiếu các hàng rào quản trị rủi ro phù hợp.

Thứ ba, xử lý nợ xấu bằng phát mại tài sản quy mô lớn cũng tiềm ẩn rủi ro, tạo làn sóng chào bán ồ ạt ra thị trường, đặc biệt với bất động sản công nghiệp và thương mại. Nếu cung vượt cầu, giá tài sản bảo đảm có thể giảm sâu, làm gia tăng tổn thất thực tế so với giá trị sổ sách.

Tăng tốc xử lý nợ xấu, tiến về “vùng an toàn”

Báo cáo tài chính của các ngân hàng đang phản ánh khá rõ nỗ lực xử lý nợ xấu. Nhiều ngân hàng ghi nhận mức thu hồi nợ ngoại bảng và hoàn nhập dự phòng cao kỷ lục. VietinBank thu hồi khoảng 6.800 tỷ đồng nợ ngoại bảng, tăng 13% so với cùng kỳ. MB, ACB, ABBank cũng ghi nhận sự cải thiện rõ rệt cả về lợi nhuận lẫn tỷ lệ nợ xấu (NPL).

Đáng chú ý, một số ngân hàng đã đưa tỷ lệ NPL về sát hoặc dưới ngưỡng 1%, mức được xem là “vùng an toàn” trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động. Agribank đặt mục tiêu kéo NPL xuống dưới 1%, trong khi ACB tiếp tục duy trì lợi thế nhờ hệ thống cảnh báo sớm và mô hình xử lý nợ phi tố tụng hiệu quả.

Tăng trưởng tín dụng không đi kèm kỷ luật, nợ xấu sẽ gây áp lực

Có thể kỳ vọng mặt bằng nợ xấu năm 2026 sẽ duy trì ổn định trong ngắn hạn, nhờ hiệu ứng của “chiến dịch tổng lực” cuối năm 2025, cùng hành lang pháp lý được củng cố sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 được luật hóa. Tuy nhiên, áp lực nợ xấu trung hạn 2027 - 2028 vẫn hiện hữu, đặc biệt nếu tăng trưởng tín dụng được đẩy mạnh, mà không đi kèm kiểm soát chất lượng tài sản.

Ở chiều sâu hơn, thương vụ bán hơn 37.000 tỷ đồng nợ theo chương trình của Ngân hàng Nhà nước của HDBank cho thấy xu hướng làm sạch bảng cân đối một lần, để tạo nền móng cho tăng trưởng tín dụng cao trong năm 2026.

Một trong những yếu tố mang tính bước ngoặt cho năm 2026 là việc Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) đã được luật hóa trong Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi). Nếu như giai đoạn 2017 - 2023, Nghị quyết 42 chỉ mang tính thí điểm với thời hạn áp dụng, thì việc luật hóa đã tạo ra một hành lang pháp lý ổn định, lâu dài cho các tổ chức tín dụng.

Khung pháp lý mới cho phép ngân hàng chủ động hơn trong thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm, rút ngắn thời gian tranh chấp, giảm phụ thuộc vào các thủ tục tố tụng kéo dài. Điều này không chỉ giúp đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu hiện hữu, mà còn góp phần hình thành kỷ luật thị trường đối với người vay, đặc biệt trong các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản và xây dựng.

Về mặt tài chính, việc xử lý nợ nhanh hơn đồng nghĩa với khả năng hoàn nhập dự phòng sớm hơn, cải thiện lợi nhuận và vốn tự có. Đây là yếu tố then chốt để đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn ngày càng khắt khe theo Basel III.

Giữ nhịp kiểm soát nợ xấu, ngăn “vòng xoáy” mới

Năm 2026 được xem là năm bản lề đối với hệ thống ngân hàng. Việc giải quyết dứt điểm các khoản nợ tồn đọng không chỉ giúp làm sạch bảng cân đối kế toán, cải thiện hệ số an toàn vốn và khả năng sinh lời, mà còn mở ra dư địa cho tăng trưởng tín dụng trong chu kỳ mới.

Tuy nhiên, để tránh tái diễn “vòng xoáy” nợ xấu như các giai đoạn trước, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ nâng chuẩn quản trị rủi ro, siết chặt giám sát tín dụng đến tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và kỷ luật thị trường.

Đề xuất một số khuyến nghị về hoàn thiện khung khổ xử lý nợ xấu và củng cố năng lực quản trị rủi ro, PGS.TS Nguyễn Đức Trung - Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trước tiên, cần củng cố vốn tự có và dự phòng rủi ro. Các ngân hàng cần thận trọng trong chính sách cổ tức, ưu tiên giữ lại lợi nhuận để tăng vốn điều lệ. Duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức an toàn (80 - 100%) không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là “tấm đệm sinh tồn” trước các cú sốc chu kỳ.

Tiếp theo, tận dụng tối đa khung pháp lý mới về xử lý nợ xấu. Việc luật hóa Nghị quyết 42 đòi hỏi các ngân hàng phải chuyên nghiệp hóa bộ phận pháp chế và thu hồi nợ. Mô hình xử lý phi tố tụng, thương lượng linh hoạt với khách hàng cần được nhân rộng để giảm chi phí và thời gian.

Đặc biệt, cần kiểm soát chặt tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực rủi ro. Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục giám sát dòng vốn vào bất động sản, xây dựng, trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời gắn chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng với chất lượng tài sản và hệ số an toàn vốn (CAR) theo Basel III.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị rủi ro tín dụng. Ứng dụng AI, Big Data và các mô hình cảnh báo sớm sẽ giúp ngân hàng nhận diện rủi ro ngay từ giai đoạn tiền nợ xấu, chủ động cơ cấu lại khoản vay hoặc trích lập dự phòng phù hợp.

Việc xử lý nợ xấu không thể chỉ là một chiến dịch ngắn hạn, mà phải trở thành một năng lực quản trị cốt lõi. Trong một chu kỳ kinh tế đầy biến động, ngân hàng nào duy trì được kỷ luật tín dụng, “bộ đệm” tài chính vững chắc và hệ thống quản trị rủi ro hiện đại sẽ không chỉ vượt qua bài toán nợ xấu 2026, mà còn nắm lợi thế cạnh tranh bền vững cho cả giai đoạn sắp tới.

Tư duy xử lý nợ xấu chuyển từ phòng thủ sang chủ động

Thị trường mua bán nợ và phát mại tài sản bảo đảm đang trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Từ các ngân hàng thương mại nhà nước đến khối ngân hàng cổ phần, hàng loạt khoản nợ xấu quy mô lớn được đưa ra đấu giá công khai. Danh mục tài sản bảo đảm cũng rất đa dạng, trải dài từ “đất vàng” nội đô đến nhà máy, khu công nghiệp, công trình hạ tầng và các tài sản dịch vụ.

Ngân hàng Agribank nổi lên như một trong những tổ chức tiên phong, khi liên tục chào bán các khoản nợ hàng trăm tỷ đồng của doanh nghiệp lâm sản, thương mại và bất động sản, được bảo đảm bằng quyền sử dụng đất tại các vị trí đắc địa ở TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh công nghiệp phía Nam. Ngân hàng BIDV, VietinBank, Vietcombank cũng không đứng ngoài cuộc, khi đẩy mạnh xử lý các khoản nợ gắn với bất động sản nội đô TP. Hà Nội, nhà máy sản xuất, thậm chí cả những tài sản đặc thù như trạm dừng nghỉ cao tầng, khu logistics hay nhà máy xử lý nước.

Đáng chú ý là tốc độ và mức độ quyết liệt của các thương vụ này. Thay vì neo giá chờ thị trường, nhiều ngân hàng chấp nhận giảm giá sâu, ưu tiên thu hồi dòng tiền sớm để cải thiện chất lượng tài sản. Đây là dấu hiệu cho thấy tư duy xử lý nợ xấu đã thay đổi, từ phòng thủ sang chủ động, từ kéo dài thời gian sang chấp nhận chi phí để đổi lấy sự an toàn.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước khu vực 15

Đọc thêm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 31/8: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 31/8 tăng nhẹ lên 4.459 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước nhìn chung ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Tỷ giá USD hôm nay (28/8): USD chờ thông điệp từ Fed, nhiều ngân hàng trung ương lớn phát tín hiệu tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (28/8): USD chờ thông điệp từ Fed, nhiều ngân hàng trung ương lớn phát tín hiệu tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 28/8, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng xuống 25.610 đồng; chỉ số DXY giảm nhẹ 0,01% xuống 99,13 điểm khi thị trường chờ phát biểu của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole. Trong khi đó, kỳ vọng thắt chặt tiền tệ gia tăng khi xác suất các ngân hàng trung ương lớn như: ECB tăng lãi suất tháng 9 lên gần 96%, cùng triển vọng BoJ cũng nâng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 04:30
Ngân hàng