Ngành Ngân hàng "tổng lực” xử lý tồn đọng, chủ động quản trị rủi ro

(TBTCO) - Hệ thống ngân hàng vẫn đối diện nghịch lý ngày càng rõ: tăng trưởng tín dụng khởi sắc cùng đà phục hồi kinh tế kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Bối cảnh đó buộc ngành Ngân hàng phải tăng tốc xử lý tồn đọng, đồng thời chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng chuẩn quản trị rủi ro, tạo dư địa cho chu kỳ tăng trưởng mới.
aa

“Nhận diện” rủi ro tiềm ẩn

Đằng sau những con số cải thiện về tín dụng là rủi ro tiềm ẩn. Nếu không được nhận diện và kiểm soát kịp thời, những yếu tố này hoàn toàn có thể kích hoạt “làn sóng” nợ xấu tiếp theo, phức tạp và khó lường hơn trong chu kỳ mới.

Thứ nhất, “bộ đệm” dự phòng rủi ro tại nhiều ngân hàng đang mỏng dần. Sau 2 năm liên tục trích lập mạnh để xử lý nợ xấu, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tại một số tổ chức đã giảm đáng kể. Dự báo năm 2026, không ít ngân hàng khó duy trì LLR trên 100%, trong khi môi trường kinh tế vẫn tiềm ẩn các cú sốc từ thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp và thương mại toàn cầu.

Ngành Ngân hàng
Việc xử lý nợ nhanh hơn đồng nghĩa với khả năng hoàn nhập dự phòng sớm hơn, cải thiện lợi nhuận và vốn tự có. Ảnh: An Thư

Thứ hai, áp lực tăng trưởng tín dụng có thể đẩy dòng vốn quay trở lại các lĩnh vực rủi ro cao. Khi mục tiêu lợi nhuận và chỉ tiêu tăng trưởng được nới lỏng, bất động sản, xây dựng và các dự án hạ tầng dài hạn có nguy cơ trở thành “điểm nóng” mới của nợ xấu trong trung hạn, nếu thiếu các hàng rào quản trị rủi ro phù hợp.

Thứ ba, xử lý nợ xấu bằng phát mại tài sản quy mô lớn cũng tiềm ẩn rủi ro, tạo làn sóng chào bán ồ ạt ra thị trường, đặc biệt với bất động sản công nghiệp và thương mại. Nếu cung vượt cầu, giá tài sản bảo đảm có thể giảm sâu, làm gia tăng tổn thất thực tế so với giá trị sổ sách.

Tăng tốc xử lý nợ xấu, tiến về “vùng an toàn”

Báo cáo tài chính của các ngân hàng đang phản ánh khá rõ nỗ lực xử lý nợ xấu. Nhiều ngân hàng ghi nhận mức thu hồi nợ ngoại bảng và hoàn nhập dự phòng cao kỷ lục. VietinBank thu hồi khoảng 6.800 tỷ đồng nợ ngoại bảng, tăng 13% so với cùng kỳ. MB, ACB, ABBank cũng ghi nhận sự cải thiện rõ rệt cả về lợi nhuận lẫn tỷ lệ nợ xấu (NPL).

Đáng chú ý, một số ngân hàng đã đưa tỷ lệ NPL về sát hoặc dưới ngưỡng 1%, mức được xem là “vùng an toàn” trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động. Agribank đặt mục tiêu kéo NPL xuống dưới 1%, trong khi ACB tiếp tục duy trì lợi thế nhờ hệ thống cảnh báo sớm và mô hình xử lý nợ phi tố tụng hiệu quả.

Tăng trưởng tín dụng không đi kèm kỷ luật, nợ xấu sẽ gây áp lực

Có thể kỳ vọng mặt bằng nợ xấu năm 2026 sẽ duy trì ổn định trong ngắn hạn, nhờ hiệu ứng của “chiến dịch tổng lực” cuối năm 2025, cùng hành lang pháp lý được củng cố sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 được luật hóa. Tuy nhiên, áp lực nợ xấu trung hạn 2027 - 2028 vẫn hiện hữu, đặc biệt nếu tăng trưởng tín dụng được đẩy mạnh, mà không đi kèm kiểm soát chất lượng tài sản.

Ở chiều sâu hơn, thương vụ bán hơn 37.000 tỷ đồng nợ theo chương trình của Ngân hàng Nhà nước của HDBank cho thấy xu hướng làm sạch bảng cân đối một lần, để tạo nền móng cho tăng trưởng tín dụng cao trong năm 2026.

Một trong những yếu tố mang tính bước ngoặt cho năm 2026 là việc Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) đã được luật hóa trong Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi). Nếu như giai đoạn 2017 - 2023, Nghị quyết 42 chỉ mang tính thí điểm với thời hạn áp dụng, thì việc luật hóa đã tạo ra một hành lang pháp lý ổn định, lâu dài cho các tổ chức tín dụng.

Khung pháp lý mới cho phép ngân hàng chủ động hơn trong thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm, rút ngắn thời gian tranh chấp, giảm phụ thuộc vào các thủ tục tố tụng kéo dài. Điều này không chỉ giúp đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu hiện hữu, mà còn góp phần hình thành kỷ luật thị trường đối với người vay, đặc biệt trong các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản và xây dựng.

Về mặt tài chính, việc xử lý nợ nhanh hơn đồng nghĩa với khả năng hoàn nhập dự phòng sớm hơn, cải thiện lợi nhuận và vốn tự có. Đây là yếu tố then chốt để đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn ngày càng khắt khe theo Basel III.

Giữ nhịp kiểm soát nợ xấu, ngăn “vòng xoáy” mới

Năm 2026 được xem là năm bản lề đối với hệ thống ngân hàng. Việc giải quyết dứt điểm các khoản nợ tồn đọng không chỉ giúp làm sạch bảng cân đối kế toán, cải thiện hệ số an toàn vốn và khả năng sinh lời, mà còn mở ra dư địa cho tăng trưởng tín dụng trong chu kỳ mới.

Tuy nhiên, để tránh tái diễn “vòng xoáy” nợ xấu như các giai đoạn trước, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ nâng chuẩn quản trị rủi ro, siết chặt giám sát tín dụng đến tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và kỷ luật thị trường.

Đề xuất một số khuyến nghị về hoàn thiện khung khổ xử lý nợ xấu và củng cố năng lực quản trị rủi ro, PGS.TS Nguyễn Đức Trung - Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trước tiên, cần củng cố vốn tự có và dự phòng rủi ro. Các ngân hàng cần thận trọng trong chính sách cổ tức, ưu tiên giữ lại lợi nhuận để tăng vốn điều lệ. Duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức an toàn (80 - 100%) không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là “tấm đệm sinh tồn” trước các cú sốc chu kỳ.

Tiếp theo, tận dụng tối đa khung pháp lý mới về xử lý nợ xấu. Việc luật hóa Nghị quyết 42 đòi hỏi các ngân hàng phải chuyên nghiệp hóa bộ phận pháp chế và thu hồi nợ. Mô hình xử lý phi tố tụng, thương lượng linh hoạt với khách hàng cần được nhân rộng để giảm chi phí và thời gian.

Đặc biệt, cần kiểm soát chặt tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực rủi ro. Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục giám sát dòng vốn vào bất động sản, xây dựng, trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời gắn chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng với chất lượng tài sản và hệ số an toàn vốn (CAR) theo Basel III.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị rủi ro tín dụng. Ứng dụng AI, Big Data và các mô hình cảnh báo sớm sẽ giúp ngân hàng nhận diện rủi ro ngay từ giai đoạn tiền nợ xấu, chủ động cơ cấu lại khoản vay hoặc trích lập dự phòng phù hợp.

Việc xử lý nợ xấu không thể chỉ là một chiến dịch ngắn hạn, mà phải trở thành một năng lực quản trị cốt lõi. Trong một chu kỳ kinh tế đầy biến động, ngân hàng nào duy trì được kỷ luật tín dụng, “bộ đệm” tài chính vững chắc và hệ thống quản trị rủi ro hiện đại sẽ không chỉ vượt qua bài toán nợ xấu 2026, mà còn nắm lợi thế cạnh tranh bền vững cho cả giai đoạn sắp tới.

Tư duy xử lý nợ xấu chuyển từ phòng thủ sang chủ động

Thị trường mua bán nợ và phát mại tài sản bảo đảm đang trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Từ các ngân hàng thương mại nhà nước đến khối ngân hàng cổ phần, hàng loạt khoản nợ xấu quy mô lớn được đưa ra đấu giá công khai. Danh mục tài sản bảo đảm cũng rất đa dạng, trải dài từ “đất vàng” nội đô đến nhà máy, khu công nghiệp, công trình hạ tầng và các tài sản dịch vụ.

Ngân hàng Agribank nổi lên như một trong những tổ chức tiên phong, khi liên tục chào bán các khoản nợ hàng trăm tỷ đồng của doanh nghiệp lâm sản, thương mại và bất động sản, được bảo đảm bằng quyền sử dụng đất tại các vị trí đắc địa ở TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh công nghiệp phía Nam. Ngân hàng BIDV, VietinBank, Vietcombank cũng không đứng ngoài cuộc, khi đẩy mạnh xử lý các khoản nợ gắn với bất động sản nội đô TP. Hà Nội, nhà máy sản xuất, thậm chí cả những tài sản đặc thù như trạm dừng nghỉ cao tầng, khu logistics hay nhà máy xử lý nước.

Đáng chú ý là tốc độ và mức độ quyết liệt của các thương vụ này. Thay vì neo giá chờ thị trường, nhiều ngân hàng chấp nhận giảm giá sâu, ưu tiên thu hồi dòng tiền sớm để cải thiện chất lượng tài sản. Đây là dấu hiệu cho thấy tư duy xử lý nợ xấu đã thay đổi, từ phòng thủ sang chủ động, từ kéo dài thời gian sang chấp nhận chi phí để đổi lấy sự an toàn.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước khu vực 15

Đọc thêm

Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán

Đại hội đồng cổ đông PGBank: Bứt tốc lợi nhuận gấp đôi lên 1.400 tỷ đồng, tìm thêm “mảnh ghép” chứng khoán

(TBTCO) - PGBank đặt mục tiêu bứt phá mạnh năm 2026 với lợi nhuận trước thuế 1.438 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi và tiếp tục theo đuổi kế hoạch nâng vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng. Ngân hàng cũng dự kiến đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ở mức 31% và tìm “mảnh ghép” từ lĩnh vực chứng khoán nhằm hoàn thiện hệ sinh thái, tạo động lực tăng trưởng mới.
LPBank đạt gần 2.900 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, tăng cường bộ đệm dự phòng ngay từ đầu năm

LPBank đạt gần 2.900 tỷ đồng lợi nhuận quý I/2026, tăng cường bộ đệm dự phòng ngay từ đầu năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa công bố Báo cáo tài chính quý I/2026 ghi nhận những điểm sáng tích cực trong hoạt động kinh doanh cốt lõi với lợi nhuận trước thuế đạt 2.826 tỷ đồng. Bất chấp những thách thức chung của thị trường, LPBank tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tín dụng tốt, đa dạng hóa nguồn thu hiệu quả và đặc biệt ghi dấu ấn bằng chiến lược quản trị rủi ro chủ động, an toàn.
Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (21/4): USD tự do nhích nhẹ, thị trường chờ tín hiệu từ đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng 21/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.102 VND/USD, trong khi USD tự do nhích lên quanh 26.630 - 26.670 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lùi nhẹ về 98,09 điểm nhưng vẫn duy trì nền ổn định. Tâm điểm chú ý dồn vào đàm phán Mỹ - Iran cuối tuần, yếu tố có thể định hướng xu hướng thị trường ngắn hạn, dù kỳ vọng tích cực đang chiếm ưu thế.
Giá vàng hôm nay ngày 21/4: Giá vàng trong nước tăng từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 21/4: Giá vàng trong nước tăng từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng ngày 21/4, giá vàng trong nước tăng từ 200.000 - 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 168,5 - 171,5 triệu đồng/lượng.
Giải oan cho “Bảng minh họa” trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

Giải oan cho “Bảng minh họa” trong hợp đồng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong nhiều tranh luận gần đây về bảo hiểm nhân thọ, “bảng minh họa quyền lợi” trở thành một trong những khái niệm gây tranh cãi. Không ít trường hợp khách hàng kỳ vọng mức lợi nhuận cao dựa trên các con số minh họa, để rồi thất vọng khi giá trị thực tế không đạt như mong muốn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia tài chính và pháp lý, bảng minh họa chưa bao giờ được thiết kế như một cam kết lợi nhuận, mà chỉ là một công cụ giúp khách hàng hình dung các kịch bản tài chính có thể xảy ra trong tương lai.
Lãi suất "dịu nhiệt" nhưng không nhiều dư địa

Lãi suất "dịu nhiệt" nhưng không nhiều dư địa

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động bắt đầu “dịu nhiệt” khi nhiều ngân hàng đồng loạt điều chỉnh giảm từ 2 - 50 điểm cơ bản ở các kỳ hạn, riêng nhóm “Big 4” chủ yếu hạ lãi suất ở kỳ hạn 24 tháng, qua đó, phát tín hiệu hỗ trợ nền kinh tế. Tuy nhiên, xu hướng giảm vẫn chịu áp lực đa chiều, đa biến số, khiến việc điều hành lãi suất trở nên phức tạp hơn.
BIDV quyết liệt tăng vốn điều lệ, nhắm mốc 100.000 tỷ đồng, phấn đấu tăng tổng tài sản 5 - 10%

BIDV quyết liệt tăng vốn điều lệ, nhắm mốc 100.000 tỷ đồng, phấn đấu tăng tổng tài sản 5 - 10%

Năm 2026, BIDV đặt mục tiêu tăng trưởng tổng tài sản 5 - 10%; quyết liệt triển khai các phương án tăng vốn điều lệ, cải thiện CAR. Ngân hàng dự kiến giữ lại toàn bộ 13.205 tỷ đồng lợi nhuận năm 2025 để chia cổ tức bằng cổ phiếu. Cùng với các kế hoạch tăng vốn còn dang dở từ năm 2023, nếu hoàn tất, vốn điều lệ BIDV có thể vượt mốc 100.000 tỷ đồng.
Giá vàng ngày 20/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm về vùng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng

Giá vàng ngày 20/4: Giá vàng trong nước đảo chiều giảm về vùng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 20/4 đảo chiều giảm từ 200.000 đồng - 700.000 đồng, đưa giá giao dịch về ngưỡng 168,3 - 171,3 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,810 17,060
Kim TT/AVPL 16,810 17,060
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,760 17,060
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,450 16,850
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,330 16,780
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,400 170,400
Hà Nội - PNJ 167,400 170,400
Đà Nẵng - PNJ 167,400 170,400
Miền Tây - PNJ 167,400 170,400
Tây Nguyên - PNJ 167,400 170,400
Đông Nam Bộ - PNJ 167,400 170,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,810 17,060
Miếng SJC Nghệ An 16,810 17,060
Miếng SJC Thái Bình 16,810 17,060
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,760 17,060
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,760 17,060
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,760 17,060
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,250 16,950
Trang sức 99.99 16,260 16,960
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,681 17,062
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,681 17,063
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,679 1,704
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,679 1,705
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,659 1,689
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,728 167,228
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,938 126,838
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,113 115,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,289 103,189
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,729 98,629
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,688 70,588
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,681 1,706
Cập nhật: 22/04/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18291 18567 19142
CAD 18737 19015 19631
CHF 33101 33487 34128
CNY 0 3820 3913
EUR 30320 30595 31622
GBP 34740 35133 36064
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15221 15808
SGD 20149 20432 20958
THB 735 798 852
USD (1,2) 26061 0 0
USD (5,10,20) 26102 0 0
USD (50,100) 26131 26150 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,550 30,574 31,850
JPY 161.65 161.94 170.76
GBP 35,046 35,141 36,144
AUD 18,557 18,624 19,223
CAD 18,983 19,044 19,632
CHF 33,462 33,566 34,361
SGD 20,337 20,400 21,084
CNY - 3,800 3,922
HKD 3,303 3,313 3,432
KRW 16.57 17.28 18.69
THB 784.67 794.36 845.85
NZD 15,268 15,410 15,772
SEK - 2,839 2,922
DKK - 4,088 4,208
NOK - 2,781 2,867
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,238.18 - 7,001.87
TWD 758.78 - 913.91
SAR - 6,918.47 7,244.96
KWD - 83,864 88,716
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,456 30,578 31,762
GBP 34,979 35,119 36,129
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 33,220 33,353 34,301
JPY 161.75 162.40 169.72
AUD 18,536 18,610 19,205
SGD 20,368 20,450 21,036
THB 802 805 840
CAD 18,944 19,020 19,598
NZD 15,320 15,855
KRW 17.14 18.84
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26215 26215 26357
AUD 18474 18574 19504
CAD 18923 19023 20037
CHF 33357 33387 34966
CNY 3802.2 3827.2 3962.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30508 30538 32261
GBP 35052 35102 36860
HKD 0 3355 0
JPY 161.87 162.37 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15338 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20316 20446 21169
THB 0 764.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16800000 16800000 17060000
SBJ 15000000 15000000 17060000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,357
USD20 26,155 26,205 26,357
USD1 26,155 26,205 26,357
AUD 18,591 18,691 19,800
EUR 30,719 30,719 32,130
CAD 18,893 18,993 20,301
SGD 20,417 20,567 21,400
JPY 162.62 164.12 168.67
GBP 35,007 35,357 36,530
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,712 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/04/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80