Ngành Ngân hàng "tổng lực” xử lý tồn đọng, chủ động quản trị rủi ro

(TBTCO) - Hệ thống ngân hàng vẫn đối diện nghịch lý ngày càng rõ: tăng trưởng tín dụng khởi sắc cùng đà phục hồi kinh tế kéo theo áp lực nợ xấu gia tăng. Bối cảnh đó buộc ngành Ngân hàng phải tăng tốc xử lý tồn đọng, đồng thời chủ động thực hiện đồng bộ các giải pháp về nâng chuẩn quản trị rủi ro, tạo dư địa cho chu kỳ tăng trưởng mới.
aa

“Nhận diện” rủi ro tiềm ẩn

Đằng sau những con số cải thiện về tín dụng là rủi ro tiềm ẩn. Nếu không được nhận diện và kiểm soát kịp thời, những yếu tố này hoàn toàn có thể kích hoạt “làn sóng” nợ xấu tiếp theo, phức tạp và khó lường hơn trong chu kỳ mới.

Thứ nhất, “bộ đệm” dự phòng rủi ro tại nhiều ngân hàng đang mỏng dần. Sau 2 năm liên tục trích lập mạnh để xử lý nợ xấu, tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLR) tại một số tổ chức đã giảm đáng kể. Dự báo năm 2026, không ít ngân hàng khó duy trì LLR trên 100%, trong khi môi trường kinh tế vẫn tiềm ẩn các cú sốc từ thị trường bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp và thương mại toàn cầu.

Ngành Ngân hàng
Việc xử lý nợ nhanh hơn đồng nghĩa với khả năng hoàn nhập dự phòng sớm hơn, cải thiện lợi nhuận và vốn tự có. Ảnh: An Thư

Thứ hai, áp lực tăng trưởng tín dụng có thể đẩy dòng vốn quay trở lại các lĩnh vực rủi ro cao. Khi mục tiêu lợi nhuận và chỉ tiêu tăng trưởng được nới lỏng, bất động sản, xây dựng và các dự án hạ tầng dài hạn có nguy cơ trở thành “điểm nóng” mới của nợ xấu trong trung hạn, nếu thiếu các hàng rào quản trị rủi ro phù hợp.

Thứ ba, xử lý nợ xấu bằng phát mại tài sản quy mô lớn cũng tiềm ẩn rủi ro, tạo làn sóng chào bán ồ ạt ra thị trường, đặc biệt với bất động sản công nghiệp và thương mại. Nếu cung vượt cầu, giá tài sản bảo đảm có thể giảm sâu, làm gia tăng tổn thất thực tế so với giá trị sổ sách.

Tăng tốc xử lý nợ xấu, tiến về “vùng an toàn”

Báo cáo tài chính của các ngân hàng đang phản ánh khá rõ nỗ lực xử lý nợ xấu. Nhiều ngân hàng ghi nhận mức thu hồi nợ ngoại bảng và hoàn nhập dự phòng cao kỷ lục. VietinBank thu hồi khoảng 6.800 tỷ đồng nợ ngoại bảng, tăng 13% so với cùng kỳ. MB, ACB, ABBank cũng ghi nhận sự cải thiện rõ rệt cả về lợi nhuận lẫn tỷ lệ nợ xấu (NPL).

Đáng chú ý, một số ngân hàng đã đưa tỷ lệ NPL về sát hoặc dưới ngưỡng 1%, mức được xem là “vùng an toàn” trong bối cảnh kinh tế còn nhiều biến động. Agribank đặt mục tiêu kéo NPL xuống dưới 1%, trong khi ACB tiếp tục duy trì lợi thế nhờ hệ thống cảnh báo sớm và mô hình xử lý nợ phi tố tụng hiệu quả.

Tăng trưởng tín dụng không đi kèm kỷ luật, nợ xấu sẽ gây áp lực

Có thể kỳ vọng mặt bằng nợ xấu năm 2026 sẽ duy trì ổn định trong ngắn hạn, nhờ hiệu ứng của “chiến dịch tổng lực” cuối năm 2025, cùng hành lang pháp lý được củng cố sau khi Nghị quyết số 42/2017/QH14 được luật hóa. Tuy nhiên, áp lực nợ xấu trung hạn 2027 - 2028 vẫn hiện hữu, đặc biệt nếu tăng trưởng tín dụng được đẩy mạnh, mà không đi kèm kiểm soát chất lượng tài sản.

Ở chiều sâu hơn, thương vụ bán hơn 37.000 tỷ đồng nợ theo chương trình của Ngân hàng Nhà nước của HDBank cho thấy xu hướng làm sạch bảng cân đối một lần, để tạo nền móng cho tăng trưởng tín dụng cao trong năm 2026.

Một trong những yếu tố mang tính bước ngoặt cho năm 2026 là việc Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (Nghị quyết 42) đã được luật hóa trong Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi). Nếu như giai đoạn 2017 - 2023, Nghị quyết 42 chỉ mang tính thí điểm với thời hạn áp dụng, thì việc luật hóa đã tạo ra một hành lang pháp lý ổn định, lâu dài cho các tổ chức tín dụng.

Khung pháp lý mới cho phép ngân hàng chủ động hơn trong thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm, rút ngắn thời gian tranh chấp, giảm phụ thuộc vào các thủ tục tố tụng kéo dài. Điều này không chỉ giúp đẩy nhanh tốc độ xử lý nợ xấu hiện hữu, mà còn góp phần hình thành kỷ luật thị trường đối với người vay, đặc biệt trong các lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản và xây dựng.

Về mặt tài chính, việc xử lý nợ nhanh hơn đồng nghĩa với khả năng hoàn nhập dự phòng sớm hơn, cải thiện lợi nhuận và vốn tự có. Đây là yếu tố then chốt để đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn ngày càng khắt khe theo Basel III.

Giữ nhịp kiểm soát nợ xấu, ngăn “vòng xoáy” mới

Năm 2026 được xem là năm bản lề đối với hệ thống ngân hàng. Việc giải quyết dứt điểm các khoản nợ tồn đọng không chỉ giúp làm sạch bảng cân đối kế toán, cải thiện hệ số an toàn vốn và khả năng sinh lời, mà còn mở ra dư địa cho tăng trưởng tín dụng trong chu kỳ mới.

Tuy nhiên, để tránh tái diễn “vòng xoáy” nợ xấu như các giai đoạn trước, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ nâng chuẩn quản trị rủi ro, siết chặt giám sát tín dụng đến tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và kỷ luật thị trường.

Đề xuất một số khuyến nghị về hoàn thiện khung khổ xử lý nợ xấu và củng cố năng lực quản trị rủi ro, PGS.TS Nguyễn Đức Trung - Hiệu trưởng Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh chỉ rõ, trước tiên, cần củng cố vốn tự có và dự phòng rủi ro. Các ngân hàng cần thận trọng trong chính sách cổ tức, ưu tiên giữ lại lợi nhuận để tăng vốn điều lệ. Duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức an toàn (80 - 100%) không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà là “tấm đệm sinh tồn” trước các cú sốc chu kỳ.

Tiếp theo, tận dụng tối đa khung pháp lý mới về xử lý nợ xấu. Việc luật hóa Nghị quyết 42 đòi hỏi các ngân hàng phải chuyên nghiệp hóa bộ phận pháp chế và thu hồi nợ. Mô hình xử lý phi tố tụng, thương lượng linh hoạt với khách hàng cần được nhân rộng để giảm chi phí và thời gian.

Đặc biệt, cần kiểm soát chặt tăng trưởng tín dụng vào lĩnh vực rủi ro. Ngân hàng Nhà nước cần tiếp tục giám sát dòng vốn vào bất động sản, xây dựng, trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời gắn chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng với chất lượng tài sản và hệ số an toàn vốn (CAR) theo Basel III.

Bên cạnh đó, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị rủi ro tín dụng. Ứng dụng AI, Big Data và các mô hình cảnh báo sớm sẽ giúp ngân hàng nhận diện rủi ro ngay từ giai đoạn tiền nợ xấu, chủ động cơ cấu lại khoản vay hoặc trích lập dự phòng phù hợp.

Việc xử lý nợ xấu không thể chỉ là một chiến dịch ngắn hạn, mà phải trở thành một năng lực quản trị cốt lõi. Trong một chu kỳ kinh tế đầy biến động, ngân hàng nào duy trì được kỷ luật tín dụng, “bộ đệm” tài chính vững chắc và hệ thống quản trị rủi ro hiện đại sẽ không chỉ vượt qua bài toán nợ xấu 2026, mà còn nắm lợi thế cạnh tranh bền vững cho cả giai đoạn sắp tới.

Tư duy xử lý nợ xấu chuyển từ phòng thủ sang chủ động

Thị trường mua bán nợ và phát mại tài sản bảo đảm đang trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Từ các ngân hàng thương mại nhà nước đến khối ngân hàng cổ phần, hàng loạt khoản nợ xấu quy mô lớn được đưa ra đấu giá công khai. Danh mục tài sản bảo đảm cũng rất đa dạng, trải dài từ “đất vàng” nội đô đến nhà máy, khu công nghiệp, công trình hạ tầng và các tài sản dịch vụ.

Ngân hàng Agribank nổi lên như một trong những tổ chức tiên phong, khi liên tục chào bán các khoản nợ hàng trăm tỷ đồng của doanh nghiệp lâm sản, thương mại và bất động sản, được bảo đảm bằng quyền sử dụng đất tại các vị trí đắc địa ở TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh công nghiệp phía Nam. Ngân hàng BIDV, VietinBank, Vietcombank cũng không đứng ngoài cuộc, khi đẩy mạnh xử lý các khoản nợ gắn với bất động sản nội đô TP. Hà Nội, nhà máy sản xuất, thậm chí cả những tài sản đặc thù như trạm dừng nghỉ cao tầng, khu logistics hay nhà máy xử lý nước.

Đáng chú ý là tốc độ và mức độ quyết liệt của các thương vụ này. Thay vì neo giá chờ thị trường, nhiều ngân hàng chấp nhận giảm giá sâu, ưu tiên thu hồi dòng tiền sớm để cải thiện chất lượng tài sản. Đây là dấu hiệu cho thấy tư duy xử lý nợ xấu đã thay đổi, từ phòng thủ sang chủ động, từ kéo dài thời gian sang chấp nhận chi phí để đổi lấy sự an toàn.

ThS. Trần Trọng Triết - Ngân hàng Nhà nước khu vực 15

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (17/4): Tỷ giá tự do rơi sâu gần 300 đồng, DXY quanh 98 điểm khi căng thẳng dịu bớt

Tỷ giá USD hôm nay (17/4): Tỷ giá tự do rơi sâu gần 300 đồng, DXY quanh 98 điểm khi căng thẳng dịu bớt

(TBTCO) - Sáng 17/4, tỷ giá trung tâm giữ nguyên 25.102 VND/USD trong phiên cuối tuần, trong khi tỷ giá USD tự do giảm khá mạnh, mất 260 đồng chiều mua và 280 đồng chiều bán, phổ biến quanh 26.600 - 26.630 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích nhẹ lên 98,21 điểm trước tín hiệu dịu căng thẳng tại Trung Đông.
Định hình “luật chơi” mới cho Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung

Định hình “luật chơi” mới cho Quỹ bảo hiểm hưu trí bổ sung

(TBTCO) - Sau hơn 10 năm triển khai, bảo hiểm hưu trí bổ sung đang từng bước hoàn thiện, với quy mô quỹ tăng mạnh, gấp 26 lần năm 2021 cùng khung pháp lý mới theo Nghị định 85/2026/NĐ-CP có hiệu lực từ 10/5/2026. Trao đổi với phóng viên, bà Phạm Thị Thanh Tâm - Phó Vụ trưởng Vụ Các định chế tài chính (Bộ Tài chính) nhấn mạnh ba điểm nổi bật của Nghị định mới, hướng đến đảm bảo an sinh xã hội, kiểm soát rủi ro, nâng cao hiệu quả sinh lời và tạo nguồn vốn dài hạn cho nền kinh tế.
Giá vàng hôm nay ngày 17/4: Giá vàng trong nước sụt giảm mạnh, lùi về vùng 167 - 171 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/4: Giá vàng trong nước sụt giảm mạnh, lùi về vùng 167 - 171 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 17/4, giá vàng trong nước sáng vẫn đang ghi nhận trạng thái đồng loạt giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 2,1 - 2,5 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch về vùng 167 - 171 triệu đồng/lượng.
Sau năm "hụt nhẹ" kế hoạch, Bảo hiểm BIC đặt mục tiêu doanh thu phí năm 2026 vượt mốc 6.000 tỷ đồng

Sau năm "hụt nhẹ" kế hoạch, Bảo hiểm BIC đặt mục tiêu doanh thu phí năm 2026 vượt mốc 6.000 tỷ đồng

Năm 2026, Bảo hiểm BIC đặt mục tiêu tăng trưởng tích cực với doanh thu phí bảo hiểm đạt 6.230 tỷ đồng, tăng 17% và lợi nhuận trước thuế hợp nhất 780 tỷ đồng, tăng gần 16%. Để hoàn thành kế hoạch kinh doanh, BIC dự kiến mở rộng lĩnh vực hoạt động, kinh doanh.
Nhiều đột phá trong cải cách hành chính và chuyển đổi số ngành Bảo hiểm xã hội

Nhiều đột phá trong cải cách hành chính và chuyển đổi số ngành Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bám sát tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, đồng thời triển khai Đề án 06 của Chính phủ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có nhiều đột phá trong cải cách hành chính và chuyển đổi số, mang lại lợi ích lớn, thiết thực cho người dân và doanh nghiệp.
Phát triển đội ngũ tư vấn tài chính, tạo nền tảng cho Trung tâm Tài chính quốc tế

Phát triển đội ngũ tư vấn tài chính, tạo nền tảng cho Trung tâm Tài chính quốc tế

Để đồng hành cùng chiến lược quốc gia, đặc biệt trong nỗ lực xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế, theo TS. Lê Minh Nghĩa - Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp như VFCA không chỉ dừng lại ở một "tổ chức đoàn thể", mà còn là một "hệ sinh thái nền tảng" dẫn dắt thị trường tư vấn tài chính.
Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

Chiến lược phủ phân khúc: Nền tảng giúp VPBank mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng

(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường tài chính ngày càng cạnh tranh và nhu cầu trở nên đa dạng, VPBank đã xây dựng hệ sinh thái sản phẩm và dịch vụ được “may đo” cho từng lớp khách hàng. Cách tiếp cận này giúp ngân hàng mở rộng quy mô và khai thác sâu hơn giá trị vòng đời khách hàng, tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững, với mục tiêu dư nợ cấp tín dụng năm 2026 vượt mốc triệu tỷ đồng.
70% người Việt dự kiến tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu

70% người Việt dự kiến tiếp tục làm việc sau tuổi nghỉ hưu

(TBTCO) - Mặc dù kỳ vọng có cuộc sống ý nghĩa sau khi về hưu đang ngày càng tăng cao, song phần lớn người Việt vẫn thiếu các kế hoạch tài chính sẵn sàng để chuẩn bị cho giai đoạn nghỉ hưu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,750 ▼20K 17,100 ▼20K
Kim TT/AVPL 16,750 ▼20K 17,100 ▼20K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼20K 17,050 ▼70K
Nguyên Liệu 99.99 15,650 ▲150K 15,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 15,600 ▲150K 15,800 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,450 ▲90K 16,850 ▲90K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,400 ▲90K 16,800 ▲90K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,330 ▲90K 16,780 ▲90K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,500 ▼200K 170,500 ▼200K
Hà Nội - PNJ 167,500 ▼200K 170,500 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 167,500 ▼200K 170,500 ▼200K
Miền Tây - PNJ 167,500 ▼200K 170,500 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 167,500 ▼200K 170,500 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,500 ▼200K 170,500 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,750 ▼20K 17,100 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 16,750 ▼20K 17,100 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 16,750 ▼20K 17,100 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,700 ▼20K 17,050 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,700 ▼20K 17,050 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,700 ▼20K 17,050 ▼20K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,240 ▼20K 16,940 ▼20K
Trang sức 99.99 16,250 ▼20K 16,950 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,675 ▼2K 17,102 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,675 ▼2K 17,103 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 ▼1505K 1,705 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 ▼1505K 1,706 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 ▼1487K 169 ▼1523K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,827 ▼198K 167,327 ▼198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,013 ▼150K 126,913 ▼150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,181 ▼137K 115,081 ▼137K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 9,435 ▼85037K 10,325 ▼93047K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,787 ▼116K 98,687 ▼116K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 6,173 ▼55640K 7,063 ▼63650K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,675 ▼2K 171 ▼1541K
Cập nhật: 17/04/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18327 18603 19181
CAD 18708 18986 19599
CHF 32947 33332 33986
CNY 0 3800 3870
EUR 30370 30645 31673
GBP 34763 35156 36098
HKD 0 3234 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15175 15765
SGD 20137 20420 20946
THB 735 799 852
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,566 30,590 31,866
JPY 161.16 161.45 170.19
GBP 35,053 35,148 36,153
AUD 18,562 18,629 19,222
CAD 18,913 18,974 19,557
CHF 33,279 33,382 34,168
SGD 20,312 20,375 21,059
CNY - 3,795 3,917
HKD 3,305 3,315 3,434
KRW 16.63 17.34 18.75
THB 785.12 794.82 846.87
NZD 15,198 15,339 15,701
SEK - 2,824 2,908
DKK - 4,090 4,210
NOK - 2,772 2,854
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,235.12 - 6,996.64
TWD 755.26 - 909.67
SAR - 6,917.18 7,248.04
KWD - 83,914 88,768
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,437 30,559 31,744
GBP 34,963 35,103 36,113
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 33,019 33,152 34,092
JPY 161.34 161.99 169.27
AUD 18,502 18,576 19,170
SGD 2,032,200 20,404 20,988
THB 802 805 841
CAD 18,866 18,942 19,516
NZD 15,247 15,780
KRW 17.06 18.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26357
AUD 18510 18610 19536
CAD 18890 18990 20004
CHF 33202 33232 34811
CNY 3798.2 3823.2 3958.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30553 30583 32306
GBP 35061 35111 36869
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.69
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15287 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20297 20427 21157
THB 0 764.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16750000 16750000 17100000
SBJ 15000000 15000000 17100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,210 26,357
USD20 26,160 26,210 26,357
USD1 26,160 26,210 26,357
AUD 18,565 18,665 19,772
EUR 30,725 30,725 32,136
CAD 18,825 18,925 20,234
SGD 20,382 20,532 21,350
JPY 162.16 163.66 168.24
GBP 35,001 35,351 36,415
XAU 16,698,000 0 17,052,000
CNY 0 3,708 0
THB 0 802 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/04/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80