Doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết giữ nhịp tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lợi nhuận quý IV/2025 của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sụt giảm mạnh, thậm chí chuyển từ lãi sang lỗ do áp lực bồi thường và chi phí gia tăng vào cuối năm. Dù vậy, tính chung cả năm 2025, các doanh nghiệp vẫn vượt qua “vùng trũng” quý IV, duy trì tăng trưởng phí bảo hiểm gốc và giữ nhịp lợi nhuận ổn định.
aa

“Vùng trũng” lợi nhuận quý IV/2025

Kết quả kinh doanh quý IV/2025 của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết (gồm 10 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, Tập đoàn Bảo Việt hoạt động ở cả mảng nhân thọ và phi nhân thọ, cùng 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm) phản ánh bức tranh lợi nhuận phân hóa mạnh và chịu nhiều sức ép so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp giảm 30 - 90%, thậm chí chuyển từ lãi sang lỗ.

Trong nhóm 10 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chỉ một vài doanh nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ năm 2024. Theo đó, Bảo hiểm BSH đạt lợi nhuận trước thuế 37 tỷ đồng, tăng 17,9%; PJICO đạt 60,9 tỷ đồng, tăng 25,3%.

Doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết giữ nhịp tăng trưởng
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Đồ họa: Ánh Tuyết

Ngược lại, nhiều doanh nghiệp sụt giảm lợi nhuận sâu trong quý IV/2025, như Bảo Minh chỉ còn 3,6 tỷ đồng, lao dốc 93,4%. Đáng chú ý, Bảo Long báo lỗ 25,4 tỷ đồng (cùng kỳ lãi 23,2 tỷ đồng); PVI lỗ 31,3 tỷ đồng (cùng kỳ lãi 154,2 tỷ đồng). Đây là quý hiếm hoi PVI rơi vào tình trạng thua lỗ theo quý trong lịch sử hoạt động, thậm chí tiêu cực hơn cả giai đoạn chịu tác động của bão Yagi năm 2024.

Các doanh nghiệp bảo hiểm khác giảm dưới 50% lợi nhuận có thể kể đến như: BIC đạt 135,1 tỷ đồng, giảm 37%; DBV đạt 23 tỷ đồng, giảm 36,3%; Bảo hiểm Agribank (ABIC) đạt 68,3 tỷ đồng, giảm 26,9%; PTI đạt 82,7 tỷ đồng, giảm nhẹ 4,5%.

Ở chiều tích cực, Tập đoàn Bảo Việt ghi nhận lợi nhuận trước thuế 1.061,8 tỷ đồng trong quý IV/2025, tăng 52% và bỏ xa các doanh nghiệp còn lại. Tuy nhiên, kết quả này chưa tách bạch phần đóng góp lợi nhuận giữa mảng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.

Trong nhóm tái bảo hiểm, Tổng Công ty cổ phần Tái Bảo hiểm Quốc gia (Vinare) đạt 146,8 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, giảm 19,4% so với quý IV/2024; Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re, công ty con của PVI Holdings) ghi nhận lãi 55,1 tỷ đồng, giảm 39%. Đà suy giảm cho thấy, hoạt động tái bảo hiểm cũng chịu tác động từ biến động bồi thường.

Nếu loại trừ phần lợi nhuận của Tập đoàn Bảo Việt, các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết còn lại chỉ ghi nhận khoảng 580 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong quý IV/2025, giảm mạnh 48% so với cùng kỳ.

Kế hoạch kinh doanh thận trọng trong năm 2026

Theo đánh giá của TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp, việc lợi nhuận kế toán trước thuế của nhóm doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và tái bảo hiểm giảm rất sâu trong quý IV/2025 cho thấy mức độ tác động của rủi ro thiên tai là tương đối lớn, đồng thời phản ánh những giới hạn của việc phụ thuộc vào thu nhập tài chính như một nguồn bù đắp lợi nhuận.

Giải trình về kết quả kinh doanh quý cuối năm vừa qua, lãnh đạo PVI cho biết, lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính hợp nhất của PVI quý IV/2025 lỗ chủ yếu do dự phòng rủi ro bảo hiểm tăng cao liên quan đến thiên tai xảy ra cuối năm 2025, chi phí hoạt động cũng tăng mạnh trong quý này.

Thiên tai là phép thử đối với doanh nghiệp bảo hiểm

"Xu hướng phân hóa lợi nhuận trong năm 2025 không chỉ là diễn biến ngắn hạn do yếu tố thiên tai, mà còn là tín hiệu cho thấy ngành bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu, trong đó hiệu quả quản trị và chất lượng tăng trưởng sẽ trở thành yếu tố quyết định vị thế của từng doanh nghiệp trên thị trường".

TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp

Thông tin từ Hội nghị Nhà đầu tư của PVI cho thấy, năm 2026, doanh nghiệp này sẽ theo đuổi định hướng thận trọng, không đặt mục tiêu tăng trưởng quá cao. PVI dự kiến đạt 28.820 tỷ đồng doanh thu và 1.244 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. So với kết quả năm 2025, kế hoạch năm nay đặt mục tiêu doanh thu tăng nhẹ, còn lợi nhuận được xây dựng trên cơ sở thận trọng hơn trước các yếu tố rủi ro.

Đại diện PVI dự báo, chi phí quản lý rủi ro và chi phí tái bảo hiểm sẽ gia tăng, trong khi thị trường vẫn cạnh tranh chủ yếu bằng giá. Bên cạnh đó, khả năng xuất hiện các sự kiện bảo hiểm lớn cao hơn và tỷ lệ bồi thường năm 2026 có thể tăng, tạo thêm áp lực lên biên lợi nhuận.

Trao đổi với phóng viên, đại diện PVI chia sẻ, doanh nghiệp lựa chọn cách tiếp cận thận trọng vì cho rằng, năm 2025 nhìn chung là một năm thuận lợi nếu tính bình quân, dù những tháng cuối năm kém tích cực hơn. Năm 2026, ban lãnh đạo xác định điều hành theo hướng linh hoạt, tức là thường xuyên cập nhật dự báo theo quý để thích ứng với biến động thị trường, thay vì bám cứng vào một kịch bản cố định.

Mặt khác, theo đại diện PVI, nếu như năm 2024 hứng chịu nhiều thiệt hại do bão Yagi, rủi ro dồn vào một cơn bão lớn mang tính lịch sử nên gây chú ý xã hội, thì năm 2025 lại xuất hiện nhiều đợt bão lũ liên tiếp. Mỗi đợt không gây tổn thất cực lớn riêng lẻ, nhưng cộng dồn lại vẫn tạo áp lực đáng kể.

Còn với Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Bảo Long, tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý IV/2025 là 332 tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2024. Ông Phan Quốc Dũng - Tổng Giám đốc Bảo hiểm Bảo Long lý giải, do ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, nên tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý IV/2025 tăng nhiều hơn so với cùng kỳ năm 2024, khiến Bảo Long lỗ 25,415 tỷ đồng trong quý này.

Doanh nghiệp bảo hiểm duy trì đà tăng lợi nhuận cả năm 2025

Dù quý IV/2025 là vùng trũng lợi nhuận, song cả năm 2025 vẫn ghi nhận bước chuyển mình tích cực của ngành bảo hiểm niêm yết, với tổng lợi nhuận kế toán trước thuế toàn nhóm khảo sát đạt 8.500 tỷ đồng, tăng mạnh 24,8% so với năm 2024.

Sự bứt phá này chủ yếu được dẫn dắt bởi "ông lớn" Bảo Việt khi ghi nhận mức lợi nhuận kỷ lục trong lịch sử hoạt động, lên tới 3.715 tỷ đồng, tăng gần 40%. PVI tiếp tục khẳng định vị thế và hiệu quả hoạt động khi ghi nhận lợi nhuận đạt 1.455,5 tỷ đồng, tăng 28,5%.

Các doanh nghiệp khác trong nhóm cũng ghi nhận sự tăng trưởng ổn định, nhưng có sự phân hóa rõ rệt về tốc độ. Theo đó, Bảo hiểm DBV và BSH có mức tăng trưởng đột biến, lần lượt là 150,4% (đạt 38,9 tỷ đồng) và 89,1% (đạt 23,6 tỷ đồng).

Các doanh nghiệp khác cũng duy trì tốc độ tăng lợi nhuận ấn tượng như: MIC (408,8 tỷ đồng, tăng 32,7%), ABIC (318,8 tỷ đồng, tăng 24,5%) và BIC (678,2 tỷ đồng, tăng 4%). Ngược lại, bức tranh lợi nhuận vẫn còn gam màu "xám" khi PTI giảm 7,9% còn 370,7 tỷ đồng và Bảo Long dốc mạnh nhất ngành với mức giảm 49%, chỉ đạt 41,9 tỷ đồng.

Ở mảng tái bảo hiểm, hai doanh nghiệp niêm yết tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, khi Hanoi Re lãi trước thuế 301,4 tỷ đồng, tăng 24,6%; Vinare đạt 527,9 tỷ đồng, tăng 9,8%.

Cũng trong năm qua, các doanh nghiệp duy trì đà tăng trưởng tích cực về phí bảo hiểm gốc. Tổng 11 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết ghi nhận doanh thu đạt 62.278,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, dù có 2 doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu ghi nhận sụt giảm phí bảo hiểm gốc, song lợi nhuận vẫn ổn định, cho thấy hiệu quả trong chiến lược tối ưu chi phí và chủ động chuyển dịch sang các mảng kinh doanh có biên lợi nhuận cao hơn, tiêu biểu như BSH và PTI.

Bên cạnh đó, năng lực bồi thường kịp thời và đầy đủ sau các đợt thiên tai tiếp tục củng cố uy tín và niềm tin thị trường, tạo nền tảng để các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh và sẵn sàng bứt tốc trong mùa kinh doanh 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

Dòng vốn qua VDB đóng góp quan trọng vào chiến lược phát triển của đất nước

(TBTCO) - Qua 20 năm hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc huy động nguồn lực hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng có quy mô lớn, trọng điểm có ý nghĩa chiến lược của đất nước, bảo đảm an sinh xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, qua đó góp phần phát triển kinh tế - xã hội bền vững của đất nước.
Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 08/2026/TT-NHNN, cho phép các ngân hàng được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào công thức xác định tỷ lệ LDR. Động thái này được đánh giá sẽ hỗ trợ đáng kể thanh khoản và dư địa tăng trưởng tín dụng, đặc biệt với nhóm ngân hàng "big 4".
Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80