Doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết giữ nhịp tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lợi nhuận quý IV/2025 của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sụt giảm mạnh, thậm chí chuyển từ lãi sang lỗ do áp lực bồi thường và chi phí gia tăng vào cuối năm. Dù vậy, tính chung cả năm 2025, các doanh nghiệp vẫn vượt qua “vùng trũng” quý IV, duy trì tăng trưởng phí bảo hiểm gốc và giữ nhịp lợi nhuận ổn định.
aa

“Vùng trũng” lợi nhuận quý IV/2025

Kết quả kinh doanh quý IV/2025 của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết (gồm 10 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, Tập đoàn Bảo Việt hoạt động ở cả mảng nhân thọ và phi nhân thọ, cùng 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm) phản ánh bức tranh lợi nhuận phân hóa mạnh và chịu nhiều sức ép so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp giảm 30 - 90%, thậm chí chuyển từ lãi sang lỗ.

Trong nhóm 10 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chỉ một vài doanh nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ năm 2024. Theo đó, Bảo hiểm BSH đạt lợi nhuận trước thuế 37 tỷ đồng, tăng 17,9%; PJICO đạt 60,9 tỷ đồng, tăng 25,3%.

Doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết giữ nhịp tăng trưởng
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Đồ họa: Ánh Tuyết

Ngược lại, nhiều doanh nghiệp sụt giảm lợi nhuận sâu trong quý IV/2025, như Bảo Minh chỉ còn 3,6 tỷ đồng, lao dốc 93,4%. Đáng chú ý, Bảo Long báo lỗ 25,4 tỷ đồng (cùng kỳ lãi 23,2 tỷ đồng); PVI lỗ 31,3 tỷ đồng (cùng kỳ lãi 154,2 tỷ đồng). Đây là quý hiếm hoi PVI rơi vào tình trạng thua lỗ theo quý trong lịch sử hoạt động, thậm chí tiêu cực hơn cả giai đoạn chịu tác động của bão Yagi năm 2024.

Các doanh nghiệp bảo hiểm khác giảm dưới 50% lợi nhuận có thể kể đến như: BIC đạt 135,1 tỷ đồng, giảm 37%; DBV đạt 23 tỷ đồng, giảm 36,3%; Bảo hiểm Agribank (ABIC) đạt 68,3 tỷ đồng, giảm 26,9%; PTI đạt 82,7 tỷ đồng, giảm nhẹ 4,5%.

Ở chiều tích cực, Tập đoàn Bảo Việt ghi nhận lợi nhuận trước thuế 1.061,8 tỷ đồng trong quý IV/2025, tăng 52% và bỏ xa các doanh nghiệp còn lại. Tuy nhiên, kết quả này chưa tách bạch phần đóng góp lợi nhuận giữa mảng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.

Trong nhóm tái bảo hiểm, Tổng Công ty cổ phần Tái Bảo hiểm Quốc gia (Vinare) đạt 146,8 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, giảm 19,4% so với quý IV/2024; Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re, công ty con của PVI Holdings) ghi nhận lãi 55,1 tỷ đồng, giảm 39%. Đà suy giảm cho thấy, hoạt động tái bảo hiểm cũng chịu tác động từ biến động bồi thường.

Nếu loại trừ phần lợi nhuận của Tập đoàn Bảo Việt, các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết còn lại chỉ ghi nhận khoảng 580 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong quý IV/2025, giảm mạnh 48% so với cùng kỳ.

Kế hoạch kinh doanh thận trọng trong năm 2026

Theo đánh giá của TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp, việc lợi nhuận kế toán trước thuế của nhóm doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và tái bảo hiểm giảm rất sâu trong quý IV/2025 cho thấy mức độ tác động của rủi ro thiên tai là tương đối lớn, đồng thời phản ánh những giới hạn của việc phụ thuộc vào thu nhập tài chính như một nguồn bù đắp lợi nhuận.

Giải trình về kết quả kinh doanh quý cuối năm vừa qua, lãnh đạo PVI cho biết, lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính hợp nhất của PVI quý IV/2025 lỗ chủ yếu do dự phòng rủi ro bảo hiểm tăng cao liên quan đến thiên tai xảy ra cuối năm 2025, chi phí hoạt động cũng tăng mạnh trong quý này.

Thiên tai là phép thử đối với doanh nghiệp bảo hiểm

"Xu hướng phân hóa lợi nhuận trong năm 2025 không chỉ là diễn biến ngắn hạn do yếu tố thiên tai, mà còn là tín hiệu cho thấy ngành bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu, trong đó hiệu quả quản trị và chất lượng tăng trưởng sẽ trở thành yếu tố quyết định vị thế của từng doanh nghiệp trên thị trường".

TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp

Thông tin từ Hội nghị Nhà đầu tư của PVI cho thấy, năm 2026, doanh nghiệp này sẽ theo đuổi định hướng thận trọng, không đặt mục tiêu tăng trưởng quá cao. PVI dự kiến đạt 28.820 tỷ đồng doanh thu và 1.244 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. So với kết quả năm 2025, kế hoạch năm nay đặt mục tiêu doanh thu tăng nhẹ, còn lợi nhuận được xây dựng trên cơ sở thận trọng hơn trước các yếu tố rủi ro.

Đại diện PVI dự báo, chi phí quản lý rủi ro và chi phí tái bảo hiểm sẽ gia tăng, trong khi thị trường vẫn cạnh tranh chủ yếu bằng giá. Bên cạnh đó, khả năng xuất hiện các sự kiện bảo hiểm lớn cao hơn và tỷ lệ bồi thường năm 2026 có thể tăng, tạo thêm áp lực lên biên lợi nhuận.

Trao đổi với phóng viên, đại diện PVI chia sẻ, doanh nghiệp lựa chọn cách tiếp cận thận trọng vì cho rằng, năm 2025 nhìn chung là một năm thuận lợi nếu tính bình quân, dù những tháng cuối năm kém tích cực hơn. Năm 2026, ban lãnh đạo xác định điều hành theo hướng linh hoạt, tức là thường xuyên cập nhật dự báo theo quý để thích ứng với biến động thị trường, thay vì bám cứng vào một kịch bản cố định.

Mặt khác, theo đại diện PVI, nếu như năm 2024 hứng chịu nhiều thiệt hại do bão Yagi, rủi ro dồn vào một cơn bão lớn mang tính lịch sử nên gây chú ý xã hội, thì năm 2025 lại xuất hiện nhiều đợt bão lũ liên tiếp. Mỗi đợt không gây tổn thất cực lớn riêng lẻ, nhưng cộng dồn lại vẫn tạo áp lực đáng kể.

Còn với Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Bảo Long, tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý IV/2025 là 332 tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2024. Ông Phan Quốc Dũng - Tổng Giám đốc Bảo hiểm Bảo Long lý giải, do ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, nên tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý IV/2025 tăng nhiều hơn so với cùng kỳ năm 2024, khiến Bảo Long lỗ 25,415 tỷ đồng trong quý này.

Doanh nghiệp bảo hiểm duy trì đà tăng lợi nhuận cả năm 2025

Dù quý IV/2025 là vùng trũng lợi nhuận, song cả năm 2025 vẫn ghi nhận bước chuyển mình tích cực của ngành bảo hiểm niêm yết, với tổng lợi nhuận kế toán trước thuế toàn nhóm khảo sát đạt 8.500 tỷ đồng, tăng mạnh 24,8% so với năm 2024.

Sự bứt phá này chủ yếu được dẫn dắt bởi "ông lớn" Bảo Việt khi ghi nhận mức lợi nhuận kỷ lục trong lịch sử hoạt động, lên tới 3.715 tỷ đồng, tăng gần 40%. PVI tiếp tục khẳng định vị thế và hiệu quả hoạt động khi ghi nhận lợi nhuận đạt 1.455,5 tỷ đồng, tăng 28,5%.

Các doanh nghiệp khác trong nhóm cũng ghi nhận sự tăng trưởng ổn định, nhưng có sự phân hóa rõ rệt về tốc độ. Theo đó, Bảo hiểm DBV và BSH có mức tăng trưởng đột biến, lần lượt là 150,4% (đạt 38,9 tỷ đồng) và 89,1% (đạt 23,6 tỷ đồng).

Các doanh nghiệp khác cũng duy trì tốc độ tăng lợi nhuận ấn tượng như: MIC (408,8 tỷ đồng, tăng 32,7%), ABIC (318,8 tỷ đồng, tăng 24,5%) và BIC (678,2 tỷ đồng, tăng 4%). Ngược lại, bức tranh lợi nhuận vẫn còn gam màu "xám" khi PTI giảm 7,9% còn 370,7 tỷ đồng và Bảo Long dốc mạnh nhất ngành với mức giảm 49%, chỉ đạt 41,9 tỷ đồng.

Ở mảng tái bảo hiểm, hai doanh nghiệp niêm yết tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, khi Hanoi Re lãi trước thuế 301,4 tỷ đồng, tăng 24,6%; Vinare đạt 527,9 tỷ đồng, tăng 9,8%.

Cũng trong năm qua, các doanh nghiệp duy trì đà tăng trưởng tích cực về phí bảo hiểm gốc. Tổng 11 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết ghi nhận doanh thu đạt 62.278,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, dù có 2 doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu ghi nhận sụt giảm phí bảo hiểm gốc, song lợi nhuận vẫn ổn định, cho thấy hiệu quả trong chiến lược tối ưu chi phí và chủ động chuyển dịch sang các mảng kinh doanh có biên lợi nhuận cao hơn, tiêu biểu như BSH và PTI.

Bên cạnh đó, năng lực bồi thường kịp thời và đầy đủ sau các đợt thiên tai tiếp tục củng cố uy tín và niềm tin thị trường, tạo nền tảng để các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh và sẵn sàng bứt tốc trong mùa kinh doanh 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80