"Gieo mầm" tăng trưởng, ngành bảo hiểm chuẩn bị cho chu kỳ mới

Tú Anh
(TBTCO) - Năm 2026, trong bối cảnh nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng cao, ngành Bảo hiểm đứng trước dư địa phát triển rộng mở, khép lại giai đoạn nhiều biến động và "gieo mầm" chu kỳ tăng trưởng mới.
aa

Dư địa "gieo mầm" bảo hiểm còn rất lớn

Mỗi hợp đồng bảo hiểm có thể ví như "hạt giống" an tâm được gieo cho tương lai, lặng lẽ bén rễ theo thời gian trở thành điểm tựa vững vàng cho mỗi cá nhân, gia đình và doanh nghiệp trước những biến cố bất ngờ. Trên thế giới, bảo hiểm đã "phủ xanh" nhiều thị trường bằng lớp bảo vệ toàn diện, trong khi tại Việt Nam, mức độ bao phủ còn khiêm tốn, mở ra một hành trình dài với dư địa phát triển lớn phía trước.

Từ hơn 20 năm kinh nghiệm làm việc và điều hành tại nhiều thị trường bảo hiểm khác nhau, bà Elena Butarova - Phó Chủ tịch cấp cao MetLife châu Á, Tổng Giám đốc BIDV MetLife mang theo góc nhìn toàn diện về sự phát triển ngành bảo hiểm nhân thọ.

"Gieo mầm" tăng trưởng, ngành bảo hiểm chuẩn bị cho chu kỳ mới
Nguồn: Tổng hợp từ Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 5/1/2023 phê duyệt Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam đến năm 2030.

Bà Elena Butarova cho biết, tại Anh, Mỹ hay Nhật Bản, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ đều ở mức trên 90%; Singapore đạt khoảng 80%, Malaysia khoảng 50%, trong khi tại Việt Nam, con số này mới xấp xỉ 12%.

"Điều đó cho thấy, khi thu nhập người dân tiếp tục cải thiện và nhận thức về bảo vệ tài chính được nâng cao, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam còn nhiều dư địa để phát triển một cách bền vững" - Tổng Giám đốc BIDV MetLife kỳ vọng.

Cùng chung quan điểm, lãnh đạo Bảo hiểm nhân thọ MB Life cho rằng, thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam có tiềm năng tăng trưởng dài hạn, bởi mức độ thâm nhập hiện nay còn tương đối thấp, song song quá trình mở rộng này đi kèm không ít thách thức cần được giải quyết.

Dư địa còn rộng dù thêm "người chơi" mới

"So sánh với các thông lệ trên thế giới và khu vực, dư địa tăng trưởng của thị trường bảo hiểm Việt Nam nói chung, cũng như bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng, còn rất lớn. Chúng ta mới đạt khoảng 2,4 - 2,6% GDP, trong khi số liệu quốc tế là 6 - 7%, tức hơn gấp đôi. Dù có thêm sự tham gia của các doanh nghiệp bảo hiểm mới thành lập, dư địa tăng trưởng vẫn đủ lớn cho cả các doanh nghiệp hiện hữu".

Ông Nguyễn Tuấn Tú - Tổng Giám đốc PVI

Bên cạnh tỷ lệ người dân tham gia còn thấp, lãnh đạo MB Life nhấn mạnh thêm, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm nhân thọ (doanh thu phí bảo hiểm/GDP) cũng ở mức thấp so với khu vực và thế giới. Giai đoạn 2020 - 2021, tỷ lệ này của Việt Nam khoảng 2 - 2,7% GDP, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình của các quốc gia phát triển (khoảng 9,6%) và thấp hơn cả một số nước trong khu vực như Thái Lan (khoảng 3,1%).

Ngoài ra, phí bảo hiểm bình quân đầu người tại Việt Nam hiện vẫn ở mức thấp; mục tiêu đến năm 2030 là 5 triệu đồng/người, trong khi tại các thị trường phát triển con số này vượt 4.600 USD/người. Khoảng cách lớn cho thấy dư địa tăng trưởng dài hạn, song đặt ra yêu cầu nâng cao nhận thức tài chính, chất lượng tư vấn và niềm tin của người dân với bảo hiểm.

Theo Chiến lược tài chính đến năm 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, đến năm 2030 có 18% dân số tham gia bảo hiểm nhân thọ; tăng trưởng doanh thu toàn ngành 10%/năm đưa quy mô đạt 3,3 - 3,5% GDP. Dư địa phát triển còn lớn, song trong bối cảnh GDP tăng nhanh, tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm ngắn hạn khó cải thiện mạnh. Điều này đòi hỏi nỗ lực đồng bộ từ doanh nghiệp, cơ quan quản lý và hệ thống phân phối.

Đón chu kỳ tăng trưởng mới

Năm 2026, trong bối cảnh Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) có hiệu lực và Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP ở ngưỡng cao trên 10%, bảo hiểm kỳ vọng khép lại giai đoạn biến động vừa qua, không chỉ phục hồi về quy mô, mà còn được tái định vị theo hướng bền vững hơn.

Chia sẻ tại Hội nghị triển khai chương trình công tác năm 2026, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) nêu rõ, đơn vị sẽ tiếp tục rà soát tổng thể theo hướng cải tổ, tạo dựng động lực mới cho sự phát triển của thị trường. Trọng tâm là xây dựng cơ sở pháp lý nhằm hỗ trợ các xu thế phát triển nhanh của thị trường, như các phương thức triển khai bảo hiểm mới, ứng dụng công nghệ thông tin và các kênh bán hàng mới.

"Dù tăng cường tính chủ động cho doanh nghiệp bảo hiểm nhưng đồng thời phải tăng cường chất lượng công tác quản lý, giám sát theo hướng hậu kiểm" - lãnh đạo Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm nêu rõ.

Chìa khóa giữ biên lợi nhuận

Trước các thách thức và cơ hội năm 2026, TS. Lê Bá Chí Nhân - Chuyên gia kinh tế cho rằng, với khối phi nhân thọ, để giữ vững biên lợi nhuận thường ở mức 5 - 10% tùy doanh nghiệp, các công ty cần tập trung vào đa dạng hóa sản phẩm và ứng dụng công nghệ vào phân phối/giải quyết bồi thường. Còn thị trường bảo hiểm nhân thọ kỳ vọng tăng trưởng tích cực từ năm 2026, nhưng nếu cạnh tranh từ các công ty nước ngoài tăng, biên lợi nhuận có thể bị thu hẹp. Yếu tố quyết định là tuân thủ quy định mới nhằm củng cố niềm tin dài hạn, tránh lặp lại khủng hoảng.

Đánh giá về triển vọng ngành, ông Trần Nguyên Đán - Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính cho rằng, lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ phụ thuộc nhiều vào dòng tiền và thu nhập của người dân. Khi thu nhập được cải thiện và lợi ích từ tăng trưởng GDP được lan tỏa, nhu cầu tham gia bảo hiểm nhân thọ sẽ gia tăng.

Còn với bảo hiểm phi nhân thọ, theo ông Đán, lĩnh vực này chủ yếu gắn với việc bảo vệ cho tài sản, con người, sức khỏe và tai nạn cá nhân. Khi tăng trưởng GDP ở mức cao, quy mô tài sản trong nền kinh tế gia tăng, kéo theo nhu cầu bảo vệ tài sản mở rộng, khiến bảo hiểm phi nhân thọ hưởng lợi.

Để khai mở thêm dư địa trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ, lãnh đạo Bảo hiểm DBV cho biết, công ty sẽ đầu tư mạnh mẽ vào ứng dụng công nghệ, nâng cao năng lực con người và tối ưu sản phẩm để đem lại những trải nghiệm toàn diện cho khách hàng. Bảo hiểm DBV xác định, phân khúc bán lẻ và doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ tiếp tục là động lực tăng trưởng quan trọng.

“Với mục tiêu GDP tăng trưởng khoảng 10% trong năm 2026, bảo hiểm phi nhân thọ sẽ có nhiều dư địa tăng trưởng tích cực, những lĩnh vực nổi bật gồm: bảo hiểm xe cơ giới, tài sản - kỹ thuật, bảo hiểm sức khỏe và các sản phẩm bảo hiểm gắn với chuỗi cung ứng, logistics, hạ tầng. Khi nền kinh tế mở rộng, nhu cầu quản trị rủi ro của doanh nghiệp và người dân sẽ tăng lên" - lãnh đạo Bảo hiểm DBV đánh giá.

Để phục vụ tốt hơn và mang đến giá trị gia tăng cho khách hàng, cùng với việc tái cấu trúc toàn diện, MB Life đặt ra tầm nhìn mới trở thành công ty bảo hiểm công nghệ toàn diện. Công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà là “xương sống” của toàn bộ hoạt động từ quản trị, vận hành đến kinh doanh và bồi thường.

Trong khi đó, ở góc nhìn của BIDV MetLife, Tổng Giám đốc Elena Butarova cho rằng, câu hỏi quan trọng không chỉ là “chúng ta có phát triển nhanh hay không”, mà là “tốc độ đó đang đưa thị trường và doanh nghiệp đến đâu”.

“Từ kinh nghiệm điều hành tại nhiều thị trường, ba nền tảng cốt lõi của phát triển bền vững trong ngành bảo hiểm nhân thọ vẫn là: thấu hiểu khách hàng, hợp tác chặt chẽ với các đối tác và năng lực thực thi nhất quán” - Tổng Giám đốc BIDV MetLife nhấn mạnh.

Trên cơ sở đó, BIDV MetLife phối hợp bền chặt cùng Ngân hàng BIDV để mang tới các giải pháp bảo vệ và tài chính phù hợp hơn với từng nhóm khách hàng. Phát triển bền vững không chỉ được đo bằng tăng trưởng doanh thu, mà còn thể hiện ở những giá trị dài hạn, mà doanh nghiệp bảo hiểm mang lại cho xã hội.

Tú Anh

Đọc thêm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

Sacombank kiện toàn nhân sự cấp cao

(TBTCO) - Sacombank vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Lưu Danh Đức và ông Nguyễn Hoàng Hải giữ chức Phó Tổng Giám đốc. Đáng chú ý, cả hai lãnh đạo này trước đó đều từng đảm nhiệm vị trí Phó Tổng Giám đốc tại LPBank.
Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

Tổng Giám đốc OCB Phạm Hồng Hải từ nhiệm sau 2 năm điều hành

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa công bố thông tin về việc ông Phạm Hồng Hải gửi đơn từ nhiệm vị trí Tổng Giám đốc sau 2 năm điều hành, trong bối cảnh OCB đang bước vào một chặng đường mới với nhiều mục tiêu lớn hơn, đòi hỏi những định hướng và mô hình điều hành phù hợp hơn trong bối cảnh mới.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80