Thị trường vào nhịp tăng mới, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ kỳ vọng trở lại mốc 150 nghìn tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tháng 1/2026, thị trường bảo hiểm ghi nhận tổng doanh thu phí ước đạt 20.375 tỷ đồng, tăng 5,15%; trong đó, khối nhân thọ tăng 0,5%. Dự kiến cả năm 2026, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 151.762 tỷ đồng, tăng 2%, cùng nỗ lực chuyển mình của các doanh nghiệp, mở ra nhiều tín hiệu phục hồi thị trường theo hướng chất lượng và bền vững hơn.
aa
Thị phần doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh trong giai đoạn tái cấu trúc “Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ lớn dần, cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt Qua “nốt trầm”, thị trường bảo hiểm tái lập quỹ đạo tăng trưởng

Doanh thu bảo hiểm tháng 1 tăng hơn 5%, phát tín hiệu tích cực cả năm

Số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, khởi đầu năm 2026, ngành bảo hiểm ghi nhận nhiều con số tăng trưởng khả quan, trên cả hai lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ.

Với tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 20.375 tỷ đồng trong tháng 1/2026, toàn ngành ghi nhận mức tăng trưởng 5,15% so với cùng kỳ. Điểm sáng nổi bật nằm ở mảng phi nhân thọ với doanh thu 10.365 tỷ đồng, tăng 10,06%; trong khi lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đạt 10.010 tỷ đồng, tăng 0,5%.

Đồ họa: Ánh Tuyết. Nguồn: Số liệu Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm

Cùng với đó, các doanh nghiệp chi trả quyền lợi bảo hiểm đạt 7.366 tỷ đồng, tăng 11,66%; trong đó, các doanh nghiệp nhân thọ ước chi trả 5.293 tỷ đồng, tăng 12%, phản ánh cam kết bảo vệ được thực thi kịp thời, qua đó, củng cố thêm nền tảng niềm tin cho giai đoạn phát triển mới.

Đánh giá về triển vọng tăng trưởng thị trường năm 2026, ông Đặng Hồng Hải - Tổng Giám đốc Dai-ichi Life Việt Nam cho rằng, đến nay, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam đạt gần 12%. Như vậy, thị trường bảo hiểm còn nhiều dư địa tăng trưởng, trong đó, bảo hiểm nhân thọ là nhu cầu thiết yếu và là điểm tựa tài chính tin cậy, mang đến những thay đổi tích cực cho cuộc sống của người dân Việt Nam.

"Năm 2026 và giai đoạn tiếp theo, cùng với tăng trưởng kinh tế ổn định và khuôn khổ pháp lý hoàn thiện, tôi tin rằng, thị trường bảo hiểm nhân thọ sẽ bước vào chu kỳ phát triển chất lượng hơn, lành mạnh hơn, hướng đến mục tiêu của Chính phủ đến năm 2030 sẽ có 18% dân số Việt Nam tham gia bảo hiểm nhân thọ" - ông Hải bày tỏ.

Đại diện Bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam cũng đặt nhiều kỳ vọng trong bối cảnh Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) có hiệu lực và Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10%, vai trò của bảo hiểm nhân thọ được kỳ vọng không chỉ phục hồi về quy mô, mà còn được tái định vị như một trụ cột ổn định tài chính.

"Khi niềm tin được xây dựng từ những lần chi trả đúng lúc trong “những điều không ai muốn”, bảo hiểm mới thực sự khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế và đời sống xã hội" - đại diện Prudential nhấn mạnh.

Thực tế cho thấy, giai đoạn 2017 - 2022, ngành bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kép lên tới 23%, với sức bật lớn đến từ khối bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên, sau giai đoạn bùng nổ, thị trường đã trải qua những “khoảng lặng” khi các vấn đề phát sinh tại kênh phân phối qua ngân hàng (bancassurance) bộc lộ, tác động đáng kể đến niềm tin khách hàng và đà tăng trưởng doanh thu phí.

Dù vậy, giai đoạn này được xem là bước thanh lọc cần thiết, buộc các doanh nghiệp nhìn lại mô hình kinh doanh, nâng cao chất lượng tư vấn và chuẩn hóa hoạt động. Nhiều dự đoán cho thấy, tăng trưởng phí bảo hiểm chính thức tạo đáy vào năm 2024, thị trường bắt đầu bước vào giai đoạn tái cấu trúc, hướng tới một chu kỳ phục hồi dựa trên nền tảng minh bạch và bền vững hơn.

Chuẩn hóa toàn diện, kiến tạo hành trình dài lâu

Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cũng ghi nhận sự chuyển mình đáng kể, theo hướng nâng cao chất lượng tư vấn, chuẩn hóa quy trình phân phối, đa dạng hóa sản phẩm và tập trung vào giá trị bảo vệ dài hạn cho khách hàng, thay vì "chạy" theo tăng trưởng.

Đi cùng xu hướng chuyển dịch này, ông Đặng Hồng Hải khẳng định, trong bối cảnh thị trường chuẩn hóa mạnh mẽ, niềm tin của khách hàng không chỉ được xây dựng bằng cam kết, mà còn bằng trải nghiệm thực tế. Tại Dai-ichi Life Việt Nam, doanh nghiệp luôn nỗ lực giữ ba giá trị cốt lõi: minh bạch, đầy đủ và nhanh chóng xuyên suốt hành trình trải nghiệm của khách hàng.

Thị trường vào nhịp tăng mới, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ kỳ vọng trở lại mốc 150 nghìn tỷ đồng
Ông Đặng Hồng Hải - Tổng Giám đốc Dai-ichi Life Việt Nam

Chuẩn hóa tư vấn bảo hiểm

"Ở khâu tư vấn, chúng tôi rà soát và chuẩn hóa toàn bộ quy trình tư vấn theo đúng Luật Kinh doanh bảo hiểm, đặt trọng tâm vào việc giúp khách hàng hiểu đúng, hiểu đủ và mua đúng nhu cầu. Đặc biệt, tập trung nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường kiểm soát chất lượng tư vấn. Kể từ ngày 2/8/2023, chúng tôi chủ động triển khai hoạt động ghi âm, ghi hình quá trình tư vấn bảo hiểm, nhằm đảm bảo quyền lợi cho khách hàng" - ông Đặng Hồng Hải nêu rõ.

Trong năm qua, đổi mới danh mục sản phẩm trở thành một điểm nhấn nổi bật của Dai-ichi Life Việt Nam khi doanh nghiệp ra mắt các giải pháp bảo hiểm mới tuân thủ chặt chẽ Luật Kinh doanh bảo hiểm, thiết kế quyền lợi toàn diện, linh hoạt và quy định hợp đồng được trình bày minh bạch, dễ hiểu hơn cho khách hàng. Song song đó, công ty tăng tốc ứng dụng công nghệ vào toàn bộ quy trình vận hành, hướng tới tối ưu hóa trải nghiệm và rút ngắn thời gian xử lý dịch vụ, giải quyết quyền lợi bảo hiểm.

Tại BIDV MetLife, việc bồi dưỡng thường xuyên và nâng cao trình độ đội ngũ cũng được triển khai một cách bài bản trong nhiều năm, xuyên suốt toàn hệ thống và ở mọi khâu hoạt động. Bà Elena Butarova - Tổng giám đốc Bảo hiểm nhân thọ BIDV MetLife bày tỏ, những quy định mới từ thị trường và cơ quan quản lý không tạo ra áp lực đột ngột, mà được công ty đón nhận với tâm thế chủ động và tự nhiên.

"Chúng tôi xem đây là cơ hội để tiếp tục hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm khách hàng dài hạn theo hướng rõ ràng hơn, sát nhu cầu hơn và thực chất hơn để khách hàng luôn có thể thực sự tin rằng hợp đồng bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đồng hành cùng họ trước mọi khó khăn" - bà Elena Butarova chia sẻ./.

Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ hướng tới 150 nghìn tỷ đồng, mở chu kỳ tăng trưởng mới

Năm 2026 được kỳ vọng ghi nhận bước tăng trưởng tích cực của thị trường bảo hiểm theo những con số ước tính của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm. Theo đó, tổng doanh thu phí ước đạt 250.133 tỷ đồng năm 2026, tăng 5,45%.

Động lực chính tiếp tục đến từ mảng bảo hiểm phi nhân thọ khi doanh thu dự kiến đạt 98.371 tỷ đồng, tăng 11,25%, phản ánh nhu cầu bảo vệ tài sản và rủi ro ngày càng gia tăng. Trong khi đó, bảo hiểm nhân thọ ước đạt 151.762 tỷ đồng, tăng 2%, cho thấy đà phục hồi thận trọng nhưng ổn định, đặt nền tảng cho giai đoạn tăng trưởng chất lượng và bền vững hơn.

Trước đó, giai đoạn 2017 - 2022 đánh dấu thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ của bảo hiểm nhân thọ Việt Nam, cả về quy mô doanh thu lẫn tỷ trọng trong toàn ngành. Doanh thu phí nhân thọ tăng từ 66.115 tỷ đồng năm 2017 lên đỉnh 178.334 tỷ đồng năm 2022, gấp 2,7 lần sau 5 năm. Tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức cao, trên 20% trong nhiều năm liên tiếp, riêng năm 2018 đạt 30,3%. Nhờ đó, tỷ trọng nhân thọ trong tổng doanh thu phí toàn thị trường tăng từ 61,4% năm 2017 lên đỉnh 72,9% năm 2021.

Bước sang năm 2023, thị trường bảo hiểm bước vào một nhịp điều chỉnh cần thiết trong bối cảnh yêu cầu chuẩn hóa và nâng cao chất lượng ngày càng rõ nét. Giai đoạn này không chỉ là sự chững lại về con số, mà còn là khoảng lặng để thị trường tự làm mới, siết chặt kỷ luật và củng cố nền tảng vận hành.

Dù vậy, những tín hiệu gần đây cho thấy bức tranh đang dần sáng lên. Tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm được xác lập đáy trong năm 2024, mở ra một chu kỳ hồi phục mới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

(TBTCO) - Quyết định số 1154/QĐ-BTC do Bộ Tài chính vừa ban hành sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược đua ngựa, đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế, nhằm thực hiện Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/5): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng ngày 19/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.133 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,13% xuống 99,07 điểm, thị trường vẫn kỳ vọng Fed duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, tâm điểm tuần này là biên bản họp FOMC, nhằm tìm thêm tín hiệu về quan điểm lãi suất và lạm phát của Fed.
Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

(TBTCO) - Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với chính quyền địa phương và doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông tại tỉnh Lạng Sơn.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,700 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,750 ▲150K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18217 18492 19068
CAD 18617 18894 19511
CHF 32834 33219 33855
CNY 0 3832 3924
EUR 29993 30266 31291
GBP 34523 34915 35860
HKD 0 3234 3436
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15084 15666
SGD 20033 20315 20838
THB 723 786 839
USD (1,2) 26092 0 0
USD (5,10,20) 26134 0 0
USD (50,100) 26162 26182 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,149 26,149 26,389
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,236 30,260 31,531
JPY 161.58 161.87 170.75
GBP 34,787 34,881 35,889
AUD 18,505 18,572 19,173
CAD 18,866 18,927 19,518
CHF 33,217 33,320 34,117
SGD 20,213 20,276 20,966
CNY - 3,812 3,936
HKD 3,306 3,316 3,436
KRW 16.16 16.85 18.23
THB 771.95 781.48 832.43
NZD 15,143 15,284 15,654
SEK - 2,763 2,845
DKK - 4,046 4,166
NOK - 2,805 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,212.73 - 6,975.83
TWD 753.13 - 907.44
SAR - 6,921.2 7,250.88
KWD - 83,808 88,689
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26389
AUD 18396 18496 19421
CAD 18796 18896 19910
CHF 33070 33100 34687
CNY 3812.1 3837.1 3972.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30173 30203 31925
GBP 34830 34880 36633
HKD 0 3355 0
JPY 162.13 162.63 173.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20188 20318 21049
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,183 26,233 26,389
USD20 26,183 26,233 26,389
USD1 26,183 26,233 26,389
AUD 18,498 18,598 19,705
EUR 30,356 30,356 31,765
CAD 18,769 18,869 20,176
SGD 20,275 20,425 21,265
JPY 162.6 164.1 168.65
GBP 34,702 35,052 35,914
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80