Thị trường vào nhịp tăng mới, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ kỳ vọng trở lại mốc 150 nghìn tỷ đồng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tháng 1/2026, thị trường bảo hiểm ghi nhận tổng doanh thu phí ước đạt 20.375 tỷ đồng, tăng 5,15%; trong đó, khối nhân thọ tăng 0,5%. Dự kiến cả năm 2026, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ đạt 151.762 tỷ đồng, tăng 2%, cùng nỗ lực chuyển mình của các doanh nghiệp, mở ra nhiều tín hiệu phục hồi thị trường theo hướng chất lượng và bền vững hơn.
aa
Thị phần doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh trong giai đoạn tái cấu trúc “Miếng bánh” bảo hiểm phi nhân thọ lớn dần, cuộc đua giành thị phần thêm gay gắt Qua “nốt trầm”, thị trường bảo hiểm tái lập quỹ đạo tăng trưởng

Doanh thu bảo hiểm tháng 1 tăng hơn 5%, phát tín hiệu tích cực cả năm

Số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, khởi đầu năm 2026, ngành bảo hiểm ghi nhận nhiều con số tăng trưởng khả quan, trên cả hai lĩnh vực nhân thọ và phi nhân thọ.

Với tổng doanh thu phí bảo hiểm ước đạt 20.375 tỷ đồng trong tháng 1/2026, toàn ngành ghi nhận mức tăng trưởng 5,15% so với cùng kỳ. Điểm sáng nổi bật nằm ở mảng phi nhân thọ với doanh thu 10.365 tỷ đồng, tăng 10,06%; trong khi lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ đạt 10.010 tỷ đồng, tăng 0,5%.

Đồ họa: Ánh Tuyết. Nguồn: Số liệu Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm

Cùng với đó, các doanh nghiệp chi trả quyền lợi bảo hiểm đạt 7.366 tỷ đồng, tăng 11,66%; trong đó, các doanh nghiệp nhân thọ ước chi trả 5.293 tỷ đồng, tăng 12%, phản ánh cam kết bảo vệ được thực thi kịp thời, qua đó, củng cố thêm nền tảng niềm tin cho giai đoạn phát triển mới.

Đánh giá về triển vọng tăng trưởng thị trường năm 2026, ông Đặng Hồng Hải - Tổng Giám đốc Dai-ichi Life Việt Nam cho rằng, đến nay, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam đạt gần 12%. Như vậy, thị trường bảo hiểm còn nhiều dư địa tăng trưởng, trong đó, bảo hiểm nhân thọ là nhu cầu thiết yếu và là điểm tựa tài chính tin cậy, mang đến những thay đổi tích cực cho cuộc sống của người dân Việt Nam.

"Năm 2026 và giai đoạn tiếp theo, cùng với tăng trưởng kinh tế ổn định và khuôn khổ pháp lý hoàn thiện, tôi tin rằng, thị trường bảo hiểm nhân thọ sẽ bước vào chu kỳ phát triển chất lượng hơn, lành mạnh hơn, hướng đến mục tiêu của Chính phủ đến năm 2030 sẽ có 18% dân số Việt Nam tham gia bảo hiểm nhân thọ" - ông Hải bày tỏ.

Đại diện Bảo hiểm nhân thọ Prudential Việt Nam cũng đặt nhiều kỳ vọng trong bối cảnh Luật Kinh doanh bảo hiểm (sửa đổi) có hiệu lực và Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP khoảng 10%, vai trò của bảo hiểm nhân thọ được kỳ vọng không chỉ phục hồi về quy mô, mà còn được tái định vị như một trụ cột ổn định tài chính.

"Khi niềm tin được xây dựng từ những lần chi trả đúng lúc trong “những điều không ai muốn”, bảo hiểm mới thực sự khẳng định vị trí của mình trong nền kinh tế và đời sống xã hội" - đại diện Prudential nhấn mạnh.

Thực tế cho thấy, giai đoạn 2017 - 2022, ngành bảo hiểm Việt Nam tăng trưởng mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng kép lên tới 23%, với sức bật lớn đến từ khối bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên, sau giai đoạn bùng nổ, thị trường đã trải qua những “khoảng lặng” khi các vấn đề phát sinh tại kênh phân phối qua ngân hàng (bancassurance) bộc lộ, tác động đáng kể đến niềm tin khách hàng và đà tăng trưởng doanh thu phí.

Dù vậy, giai đoạn này được xem là bước thanh lọc cần thiết, buộc các doanh nghiệp nhìn lại mô hình kinh doanh, nâng cao chất lượng tư vấn và chuẩn hóa hoạt động. Nhiều dự đoán cho thấy, tăng trưởng phí bảo hiểm chính thức tạo đáy vào năm 2024, thị trường bắt đầu bước vào giai đoạn tái cấu trúc, hướng tới một chu kỳ phục hồi dựa trên nền tảng minh bạch và bền vững hơn.

Chuẩn hóa toàn diện, kiến tạo hành trình dài lâu

Các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cũng ghi nhận sự chuyển mình đáng kể, theo hướng nâng cao chất lượng tư vấn, chuẩn hóa quy trình phân phối, đa dạng hóa sản phẩm và tập trung vào giá trị bảo vệ dài hạn cho khách hàng, thay vì "chạy" theo tăng trưởng.

Đi cùng xu hướng chuyển dịch này, ông Đặng Hồng Hải khẳng định, trong bối cảnh thị trường chuẩn hóa mạnh mẽ, niềm tin của khách hàng không chỉ được xây dựng bằng cam kết, mà còn bằng trải nghiệm thực tế. Tại Dai-ichi Life Việt Nam, doanh nghiệp luôn nỗ lực giữ ba giá trị cốt lõi: minh bạch, đầy đủ và nhanh chóng xuyên suốt hành trình trải nghiệm của khách hàng.

Thị trường vào nhịp tăng mới, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ kỳ vọng trở lại mốc 150 nghìn tỷ đồng
Ông Đặng Hồng Hải - Tổng Giám đốc Dai-ichi Life Việt Nam

Chuẩn hóa tư vấn bảo hiểm

"Ở khâu tư vấn, chúng tôi rà soát và chuẩn hóa toàn bộ quy trình tư vấn theo đúng Luật Kinh doanh bảo hiểm, đặt trọng tâm vào việc giúp khách hàng hiểu đúng, hiểu đủ và mua đúng nhu cầu. Đặc biệt, tập trung nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường kiểm soát chất lượng tư vấn. Kể từ ngày 2/8/2023, chúng tôi chủ động triển khai hoạt động ghi âm, ghi hình quá trình tư vấn bảo hiểm, nhằm đảm bảo quyền lợi cho khách hàng" - ông Đặng Hồng Hải nêu rõ.

Trong năm qua, đổi mới danh mục sản phẩm trở thành một điểm nhấn nổi bật của Dai-ichi Life Việt Nam khi doanh nghiệp ra mắt các giải pháp bảo hiểm mới tuân thủ chặt chẽ Luật Kinh doanh bảo hiểm, thiết kế quyền lợi toàn diện, linh hoạt và quy định hợp đồng được trình bày minh bạch, dễ hiểu hơn cho khách hàng. Song song đó, công ty tăng tốc ứng dụng công nghệ vào toàn bộ quy trình vận hành, hướng tới tối ưu hóa trải nghiệm và rút ngắn thời gian xử lý dịch vụ, giải quyết quyền lợi bảo hiểm.

Tại BIDV MetLife, việc bồi dưỡng thường xuyên và nâng cao trình độ đội ngũ cũng được triển khai một cách bài bản trong nhiều năm, xuyên suốt toàn hệ thống và ở mọi khâu hoạt động. Bà Elena Butarova - Tổng giám đốc Bảo hiểm nhân thọ BIDV MetLife bày tỏ, những quy định mới từ thị trường và cơ quan quản lý không tạo ra áp lực đột ngột, mà được công ty đón nhận với tâm thế chủ động và tự nhiên.

"Chúng tôi xem đây là cơ hội để tiếp tục hoàn thiện sản phẩm, dịch vụ và trải nghiệm khách hàng dài hạn theo hướng rõ ràng hơn, sát nhu cầu hơn và thực chất hơn để khách hàng luôn có thể thực sự tin rằng hợp đồng bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm sẽ đồng hành cùng họ trước mọi khó khăn" - bà Elena Butarova chia sẻ./.

Doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ hướng tới 150 nghìn tỷ đồng, mở chu kỳ tăng trưởng mới

Năm 2026 được kỳ vọng ghi nhận bước tăng trưởng tích cực của thị trường bảo hiểm theo những con số ước tính của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm. Theo đó, tổng doanh thu phí ước đạt 250.133 tỷ đồng năm 2026, tăng 5,45%.

Động lực chính tiếp tục đến từ mảng bảo hiểm phi nhân thọ khi doanh thu dự kiến đạt 98.371 tỷ đồng, tăng 11,25%, phản ánh nhu cầu bảo vệ tài sản và rủi ro ngày càng gia tăng. Trong khi đó, bảo hiểm nhân thọ ước đạt 151.762 tỷ đồng, tăng 2%, cho thấy đà phục hồi thận trọng nhưng ổn định, đặt nền tảng cho giai đoạn tăng trưởng chất lượng và bền vững hơn.

Trước đó, giai đoạn 2017 - 2022 đánh dấu thời kỳ tăng trưởng mạnh mẽ của bảo hiểm nhân thọ Việt Nam, cả về quy mô doanh thu lẫn tỷ trọng trong toàn ngành. Doanh thu phí nhân thọ tăng từ 66.115 tỷ đồng năm 2017 lên đỉnh 178.334 tỷ đồng năm 2022, gấp 2,7 lần sau 5 năm. Tốc độ tăng trưởng duy trì ở mức cao, trên 20% trong nhiều năm liên tiếp, riêng năm 2018 đạt 30,3%. Nhờ đó, tỷ trọng nhân thọ trong tổng doanh thu phí toàn thị trường tăng từ 61,4% năm 2017 lên đỉnh 72,9% năm 2021.

Bước sang năm 2023, thị trường bảo hiểm bước vào một nhịp điều chỉnh cần thiết trong bối cảnh yêu cầu chuẩn hóa và nâng cao chất lượng ngày càng rõ nét. Giai đoạn này không chỉ là sự chững lại về con số, mà còn là khoảng lặng để thị trường tự làm mới, siết chặt kỷ luật và củng cố nền tảng vận hành.

Dù vậy, những tín hiệu gần đây cho thấy bức tranh đang dần sáng lên. Tốc độ tăng trưởng phí bảo hiểm được xác lập đáy trong năm 2024, mở ra một chu kỳ hồi phục mới./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

Hai ngân hàng nhận chuyển giao đẩy tín dụng tăng tới 30%, vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng

VPBank và MB đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao năm 2026, lần lượt 34% và 30% sau khi nhận chuyển giao tổ chức tín dụng yếu kém. Đồng thời, hai ngân hàng đẩy mạnh tăng vốn lên trên 100.000 tỷ đồng, tạo dư địa mở rộng quy mô và hỗ trợ tái cơ cấu các ngân hàng được chuyển giao.
LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

LPBank Plus – Ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới, tích hợp trợ lý AI chuyển tiền bằng hội thoại

(TBTCO) - Ngày 28/3/2026, nhân dịp kỷ niệm 18 năm thành lập, LPBank chính thức giới thiệu LPBank Plus – ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới phát triển theo định hướng AI-first, tích hợp trí tuệ nhân tạo vào trải nghiệm giao dịch, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển ngân hàng số của ngân hàng.
Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

Nông nghiệp - trụ cột tăng trưởng nếu được “tiếp sức”

(TBTCO) - Bài toán tăng trưởng không chỉ nằm ở việc “bơm thêm vốn”, mà quan trọng hơn là tái cấu trúc dòng vốn, khơi thông nguồn lực và đầu tư đúng vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao. Trong đó, nông nghiệp nếu được tiếp sức đúng cách hoàn toàn có thể trở thành một trong những trụ cột tăng trưởng bền vững của nền kinh tế Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu ổn định mặt bằng lãi suất, không gây xáo trộn thị trường

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng triển khai đồng bộ giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất. Đồng thời, cân đối nguồn vốn - sử dụng vốn đảm bảo thanh khoản và khả năng chi trả của tổ chức tín dụng, không gây xáo trộn mặt bằng lãi suất thị trường; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

Doanh nghiệp bảo hiểm “xoay trục” để cân bằng hiệu quả kinh doanh

(TBTCO) - TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp cho rằng, thực tế chi trả quyền lợi bảo hiểm tăng nhanh hơn đáng kể so với doanh thu phí và nếu kéo dài nhiều năm đặt ra yêu cầu doanh nghiệp phải xoay trục cân bằng giữa trách nhiệm chi trả và hiệu quả kinh doanh. Trong đó, cần nâng cao chất lượng định phí, đẩy mạnh tái bảo hiểm, siết quản trị rủi ro, ứng dụng công nghệ dự báo tổn thất hiệu quả hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (31/3): Tỷ giá trung tâm lên 25.102 VND/USD, DXY "neo" trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 31/3, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.102 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước đó; với biên độ 5%, tỷ giá tại các ngân hàng thương mại dao động 23.847 - 26.357 VND/USD trong phiên hôm nay. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng 0,05% lên 100,56 điểm, USD diễn biến phân hóa và duy trì sức mạnh tương đối.
KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

KienlongBank duy trì đà tăng trưởng mạnh, khép lại năm 2025 với kết quả tích cực

(TBTCO) - Báo cáo tài chính kiểm toán năm 2025 cho thấy KienlongBank duy trì đà tăng trưởng rõ nét, với hiệu quả cải thiện qua từng quý, rủi ro được kiểm soát và nền tảng vận hành tiếp tục được chuẩn hóa.
Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

Đề xuất nâng mức giảm trừ nhiều loại bảo hiểm lên 3 triệu đồng/tháng khi tính thuế thu nhập cá nhân

(TBTCO) - Bộ Tài chính đề xuất nâng mức đóng góp bảo hiểm được trừ khi tính thuế thu nhập cá nhân từ 1 triệu đồng lên 3 triệu đồng/tháng, quy định áp dụng với các khoản đóng vào quỹ hưu trí bổ sung, bảo hiểm hưu trí tự nguyện và bảo hiểm nhân thọ cho người lao động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Kim TT/AVPL 17,200 ▲110K 17,500 ▲110K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 16,150
Nguyên Liệu 99.9 15,900 16,100
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 ▼40K 17,200 ▼140K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 ▼40K 17,150 ▼140K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 ▼40K 17,130 ▼140K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲1100K 174,900 ▲1100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Nghệ An 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
Miếng SJC Thái Bình 17,190 ▲110K 17,490 ▲110K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,170 ▲90K 17,470 ▲90K
NL 99.90 15,770
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800
Trang sức 99.9 16,660 ▲90K 17,360 ▲90K
Trang sức 99.99 16,670 ▲90K 17,370 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,719 ▲11K 17,492 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,719 ▲11K 17,493 ▲110K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,717 ▲11K 1,747 ▲11K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,717 ▲11K 1,748 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,697 ▲11K 1,732 ▲11K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,985 ▲1089K 171,485 ▲1089K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,163 ▲825K 130,063 ▲825K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,038 ▲98209K 117,938 ▲106219K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,913 ▲672K 105,813 ▲672K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,236 ▲642K 101,136 ▲642K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,482 ▲459K 72,382 ▲459K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,719 ▲11K 1,749 ▲11K
Cập nhật: 31/03/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17521 17794 18367
CAD 18356 18632 19249
CHF 32248 32631 33272
CNY 0 3470 3830
EUR 29572 29843 30870
GBP 34002 34392 35325
HKD 0 3229 3431
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14720 15308
SGD 19862 20144 20672
THB 713 776 830
USD (1,2) 26074 0 0
USD (5,10,20) 26115 0 0
USD (50,100) 26143 26163 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,784 29,808 31,038
JPY 160.97 161.26 169.96
GBP 34,280 34,373 35,335
AUD 17,778 17,842 18,403
CAD 18,594 18,654 19,222
CHF 32,595 32,696 33,449
SGD 20,051 20,113 20,770
CNY - 3,790 3,908
HKD 3,302 3,312 3,429
KRW 15.95 16.63 17.98
THB 764.52 773.96 823.78
NZD 14,750 14,887 15,238
SEK - 2,718 2,797
DKK - 3,986 4,102
NOK - 2,650 2,727
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,096.35 - 6,841.52
TWD 744.27 - 896.07
SAR - 6,920.72 7,244.92
KWD - 83,761 88,573
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,652 29,771 30,943
GBP 34,131 34,268 35,265
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,387 32,517 33,430
JPY 160.84 161.49 168.73
AUD 17,711 17,782 18,365
SGD 20,037 20,117 20,689
THB 782 785 819
CAD 18,569 18,644 19,205
NZD 14,824 15,350
KRW 16.55 18.13
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26225 26225 26357
AUD 17704 17804 18729
CAD 18538 18638 19652
CHF 32502 32532 34106
CNY 3753.3 3778.3 3913.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29755 29785 31508
GBP 34304 34354 36107
HKD 0 3355 0
JPY 161.48 161.98 172.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14830 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20027 20157 20878
THB 0 742.7 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17190000 17190000 17490000
SBJ 16000000 16000000 17490000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,357
USD20 26,169 26,219 26,357
USD1 26,169 26,219 26,357
AUD 17,784 17,884 18,990
EUR 29,913 29,913 31,324
CAD 18,500 18,600 19,908
SGD 20,112 20,262 20,826
JPY 161.97 163.47 168.01
GBP 34,186 34,536 35,403
XAU 17,188,000 0 17,492,000
CNY 0 3,663 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 31/03/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80