Bảo hiểm DBV bứt phá doanh thu phí 90% quý IV/2025, hướng mốc 6.500 tỷ đồng năm 2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, Bảo hiểm DBV ghi dấu ấn tăng trưởng mạnh mẽ sau khi tái định vị thương hiệu, với doanh thu phí bảo hiểm gốc quý IV/2025 tăng 90,8%, đạt 1.634,6 tỷ đồng, qua đó, đưa lũy kế cả năm lần đầu vượt mốc 4.000 tỷ đồng. Trên nền tảng này, DBV đặt mục tiêu doanh thu 6.500 tỷ đồng năm 2026, tăng 55%; trong đó, bảo hiểm xe cơ giới chiếm áp đảo 55% tỷ trọng.
aa
Đại hội đồng cổ đông Bảo hiểm VNI: Tái định vị thương hiệu thành DBV, hướng đến top 7 thị phần DBV lập kỷ lục lợi nhuận gộp bảo hiểm bán niên, tăng tốc nửa cuối năm 2025 Bảo hiểm DBV vượt 3.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, vững ngôi đầu mảng xe cơ giới

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm DBV (Bảo hiểm DBV - mã Ck: AIC) vừa công bố Báo cáo tài chính quý IV/2025 và cả năm 2025.

Báo cáo tài chính vừa công bố của Bảo hiểm DBV cho thấy, trong quý IV/2025, hoạt động kinh doanh ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, nổi bật là doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng mạnh 90,8% so với cùng kỳ, đạt 1.634,6 tỷ đồng, tương ứng tăng thêm 778 tỷ đồng.

Trong quý IV/2025, lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm của DBV đạt 118,7 tỷ đồng, cũng là quý đầu tiên vượt 100 tỷ đồng nhờ sức bật 21,2% cùng kỳ, phản ánh hiệu quả khai thác cải thiện dù chi phí gia tăng. Song song, lợi nhuận hoạt động tài chính duy trì ổn định, đạt 46,2 tỷ đồng trong quý IV/2025 và 153,3 tỷ đồng cả năm, tăng 4,9%, đóng vai trò nguồn thu hỗ trợ bền vững.

Đây là quý có doanh thu phí bảo hiểm gốc cao nhất trong lịch sử hoạt động của doanh nghiệp này; đồng thời, lần đầu tiên Bảo hiểm DBV ghi nhận doanh thu bảo hiểm gốc vượt ngưỡng 1.000 tỷ đồng.

Kết quả này cho thấy quy mô khai thác mới được mở rộng rõ nét, nhất là trong bối cảnh DBV đẩy mạnh chiến lược tăng trưởng và nâng cao nhận diện thị trường sau quá trình tái định vị thương hiệu.

Bảo hiểm DBV bứt phá doanh thu phí 90% quý IV/2025, hướng mốc 6.500 tỷ đồng năm 2026
Năm 2026, Bảo hiểm DBV đặt mục tiêu doanh thu đạt 6.500 tỷ đồng, tăng 55%; trong đó, doanh thu từ nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới chiếm tỷ trọng cao nhất 55%. Ảnh minh họa.

Ở chiều chi phí, quý IV/2025 ghi nhận mức gia tăng tương ứng với đà mở rộng quy mô hoạt động. Tổng chi bồi thường tăng khoảng 42%, lên 467,4 tỷ đồng. Đây cũng là giai đoạn ngành bảo hiểm phi nhân thọ nói chung và DBV nói riêng tích cực đồng hành cùng khách hàng trước tác động của hàng loạt cơn bão và thiên tai xảy ra trong kỳ.

Tính chung tổng chi trực tiếp cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý IV/2025 tăng 52% lên 1.066,6 tỷ đồng và chi phí quản lý doanh nghiệp tăng 37,9%, chủ yếu phục vụ cho việc mở rộng mạng lưới, nâng cao năng lực vận hành và hỗ trợ tăng trưởng dài hạn.

Lũy kế cả năm 2025, các yếu tố tích cực thể hiện rõ nét hơn. Doanh thu phí bảo hiểm gốc của Bảo hiểm DBV lần đầu vượt 4.000 tỷ đồng, lên 4.181,6 tỷ đồng, tăng 44,4% so với năm 2024; tương ứng tăng thêm 1.286,7 tỷ đồng.

Ở chiều chi phí, dù tổng chi bồi thường và trả tiền bảo hiểm lũy kế tăng 27,9% lên 1.014,5 tỷ đồng, nhưng tốc độ tăng thấp hơn tốc độ tăng doanh thu thuần, giúp lợi nhuận gộp hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng mạnh 83,2%, đạt 334,6 tỷ đồng, tương ứng tăng 152 tỷ đồng cùng kỳ. Đây là yếu tố then chốt thúc đẩy lợi nhuận chung.

Hoạt động tài chính tiếp tục đóng góp tích cực với lợi nhuận tài chính tăng 4,9%, đưa lợi nhuận từ hoạt động tài chính lên 153,3 tỷ đồng cả năm 2025.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Tổng tài sản của Bảo hiểm DBV cuối năm 2025 tăng 14,4%, phản ánh rõ xu hướng mở rộng quy mô và củng cố nền tảng tài chính. Đáng chú ý, đầu tư ngắn hạn đạt 1.895,7 tỷ đồng, trong khi đầu tư tài chính dài hạn vươn lên 1.214,5 tỷ đồng, mức cao nhất trong lịch sử hoạt động, gấp 7 lần cùng kỳ (172 tỷ đồng).

Đại diện Bảo hiểm DBV cho biết, năm 2026, tổng công ty đặt mục tiêu doanh thu đạt 6.500 tỷ đồng, tăng trưởng 55% so với cùng kỳ, trong đó, doanh thu từ nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới đặt mục tiêu đạt 3.550 tỷ đồng, chiếm 55% tỷ trọng, tăng 54% so với cùng kỳ. Đây vẫn là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng cao nhất của DBV trong năm 2026.

Bên cạnh việc tăng trưởng mạnh về doanh thu ở tất cả các nghiệp vụ, DBV xác định năm 2026 tiếp tục đầu tư phát triển về công nghệ để chuẩn hóa quy trình, nâng cao trải nghiệm khách hàng. Kế hoạch tăng trưởng mạnh năm 2026 không chỉ phản ánh tham vọng mở rộng quy mô, mà còn thể hiện bước chuyển từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng dựa trên chất lượng, hiệu quả và tính bền vững dài hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

TPBank chính thức ra mắt T’AioX: Chuyên gia Ngân hàng số hỗ trợ khách hàng 24/7

(TBTCO) - TPBank vừa chính thức ra mắt T’AioX – Chuyên gia Ngân hàng số trên App TPBank, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng AI để thấu hiểu khách hàng qua từng điểm chạm. Bằng cách chuyển hóa các tính năng ngân hàng thành những cuộc hội thoại tự nhiên, T’AioX mang đến trải nghiệm quản lý tài chính, tra cứu giao dịch và săn ưu đãi một cách nhanh chóng, cá nhân hóa và đầy thú vị.
Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

Lãi thuần "đi lùi" ở nhiều ngân hàng, thu ngoài lãi cần thêm sức bền

(TBTCO) - Dù tín dụng tiếp đà tăng trưởng, nhiều ngân hàng đang chịu áp lực từ chi phí vốn leo thang, khiến thu nhập lãi thuần bị thu hẹp, thậm chí "đi lùi". Trong bối cảnh đó, nguồn thu ngoài lãi ngày càng trở thành "trụ đỡ" quan trọng, song không phải ngân hàng nào cũng xây dựng được mô hình nguồn thu bền vững.
Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

Phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa: Phải có đủ công cụ và năng lực phân tích

(TBTCO) - Thảo luận tại hội trường sáng 9/8 các đại biểu Quốc hội tán thành sự cần thiết bổ sung quy định phòng, chống rửa tiền với tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền. Đồng thời, đại biểu đề nghị hoàn thiện các dấu hiệu giao dịch đáng ngờ, bảo đảm hạ tầng dữ liệu, công cụ phân tích và bảo vệ thông tin cá nhân.
Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

Sau thanh tra loạt "ông lớn" kinh doanh vàng, Bảo Tín Mạnh Hải và Mi Hồng lên tiếng về việc khắc phục tồn tại

(TBTCO) - Thanh tra Chính phủ yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng được thanh kiểm tra chấn chỉnh, khắc phục các thiếu sót, khuyết điểm, vi phạm. Sau kết luận thanh tra, Bảo Tín Mạnh Hải đã lên tiếng làm rõ các tồn tại, khẳng định không có hành vi thao túng, trục lợi; đồng thời, cho biết đã khắc phục các tồn tại liên quan đến thuế, phòng chống rửa tiền và hoạt động mua bán vàng miếng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▼500K 143,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,080 ▼30K 14,380 ▼30K
NL 99.99 13,500 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲200K
Trang sức 99.9 13,690 ▼30K 14,290 ▼30K
Trang sức 99.99 13,700 ▼30K 14,300 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 ▼6K 14,352 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 ▼6K 14,353 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 ▼1266K 143 ▼1293K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 ▼1266K 1,431 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 137 ▼1239K 1,415 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,099 ▼594K 140,099 ▼594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,486 ▼450K 106,286 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,658 ▼78330K 9,638 ▼87150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,674 ▲68970K 86,474 ▲77790K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,853 ▼350K 82,653 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,361 ▼251K 59,161 ▼251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 ▼6K 1,435 ▼6K
Cập nhật: 11/08/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17912 18186 18765
CAD 18220 18496 19113
CHF 31567 31947 32592
CNY 0 3840 3940
EUR 29506 29727 30808
GBP 34461 34853 35785
HKD 0 3199 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15045 15633
SGD 19860 20142 20712
THB 703 767 820
USD (1,2) 25863 0 0
USD (5,10,20) 25903 0 0
USD (50,100) 25931 25945 26315
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,940 25,940 26,320
USD(1-2-5) 24,903 - -
USD(10-20) 24,903 - -
EUR 29,543 29,567 30,965
JPY 159.59 159.88 169.54
GBP 34,644 34,738 35,937
AUD 18,082 18,147 18,831
CAD 18,401 18,460 19,146
CHF 31,811 31,910 32,847
SGD 19,977 20,039 20,822
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,263 3,273 3,410
KRW 16.99 17.72 19.29
THB 751.76 761.04 814.81
NZD 15,022 15,161 15,610
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,962 4,102
NOK - 2,705 2,800
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,965.86 - 6,734.91
TWD 731.73 - 885.89
SAR - 6,839.73 7,204.21
KWD - 82,784 88,083
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,940 26,320
EUR 29,587 29,706 30,899
GBP 34,653 34,792 35,825
HKD 3,262 3,275 3,392
CHF 31,691 31,818 32,743
JPY 160.04 160.68 168.56
AUD 18,085 18,158 18,754
SGD 20,049 20,130 20,724
THB 769 772 808
CAD 18,412 18,486 19,074
NZD 15,107 15,653
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25945 25945 26305
AUD 18086 18186 19109
CAD 18399 18499 19513
CHF 31813 31843 33425
CNY 3812.8 3837.8 3973.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29690 29720 31443
GBP 34779 34829 36584
HKD 0 3355 0
JPY 160.5 161 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15148 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20013 20143 20866
THB 0 732.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,961 26,011 26,320
USD20 25,911 26,011 26,741
USD1 25,861 26,011 26,791
AUD 18,128 18,228 19,332
EUR 29,492 29,592 31,251
CAD 18,345 18,445 19,752
SGD 20,096 20,246 20,800
JPY 161.04 162.54 168.07
GBP 34,672 34,822 35,889
XAU 14,248,000 0 14,552,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/08/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80