Phí bảo hiểm tăng mạnh vì căng thẳng Trung Đông, doanh nghiệp cần tính lại rủi ro

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông tạo hiệu ứng lan tỏa tới vận tải và bảo hiểm hàng hải toàn cầu, khi phí bảo hiểm tăng mạnh. Điều này khiến doanh nghiệp và người dân quan tâm hơn đến cách các hợp đồng bảo hiểm thương mại, du lịch khi rủi ro leo thang; đồng thời làm nổi bật vai trò của doanh nghiệp bảo hiểm trong tư vấn quản trị rủi ro và thiết kế giải pháp bảo vệ linh hoạt.
aa

Doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết giữ nhịp tăng trưởng

Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%

Ủy ban chiến tranh hỗn hợp (JWC), tổ chức chuyên đánh giá mức độ rủi ro an ninh trên các tuyến hàng hải toàn cầu, có nhiệm vụ xác định và công bố danh sách các khu vực có nguy cơ cao liên quan đến chiến tranh, cướp biển hoặc khủng bố. Mới đây, JWC đã cập nhật danh sách rủi ro cao JWLA-033, bổ sung một số khu vực nguy hiểm tại Trung Đông, bao gồm Oman, Qatar, Bahrain, Kuwait, Djibouti và các vùng biển ven bờ Iran.

Một số sản phẩm bảo hiểm hàng hải như bảo hiểm trách nhiệm người thuê tàu (Charterer’s liability) và bảo hiểm trách nhiệm chủ tàu theo phí cố định (Fixed P&I) đã được các Hội P&I - tổ chức tương hỗ cung cấp bảo hiểm và hỗ trợ pháp lý cho chủ tàu trên toàn thế giới - phát hành thông báo hủy bỏ phạm vi bảo hiểm (Notice of Cancellation - NoC). Thông báo này có hiệu lực từ ngày 5/3/2026, theo đó, các hợp đồng liên quan sẽ không còn bảo hiểm đối với rủi ro chiến tranh tại những khu vực được xếp vào nhóm rủi ro rất cao theo danh sách JWLA-033.

Đối với bảo hiểm thân tàu, nhiều Hội bảo hiểm P&I quốc tế cũng có thông báo dừng bảo hiểm rủi ro chiến tranh đối với các dịch vụ bảo hiểm không tương hỗ. Đồng thời, Ủy ban JWC cũng cập nhật bản danh sách khu vực rủi ro cao mới (JWLA-033) liên quan đến khu vực Trung Đông, với mức phí bảo hiểm chiến tranh thân tàu mới gia tăng nhiều lần và/hoặc có những nhà tái bảo hiểm không chào phí cho khu vực Vịnh Ba Tư/eo Hormuz/Vịnh Oman.

Song song, phạm vi bảo hiểm của bảo hiểm hàng hóa vẫn được duy trì vẫn được duy trì ổn định, khi các nhà tái bảo hiểm đứng đầu chương trình tái bảo hiểm cố định chưa áp dụng điều khoản tại NoC liên quan đến rủi ro chiến tranh tại khu vực được nêu trong JWLA-033.

Phí bảo hiểm tăng mạnh vì căng thẳng Trung Đông, doanh nghiệp cần tính lại rủi ro
Phí bảo hiểm tăng mạnh vì căng thẳng Trung Đông, doanh nghiệp cần tính lại rủi ro. Ảnh minh họa.
Thị trường bảo hiểm War/SRCC (chiến tranh và đình công, bạo loạn) đang ghi nhận mức phí bảo hiểm tăng nhanh và biến động mạnh. Một số hãng tàu đã tuyên bố chấm dứt hành trình và các hãng đều phải điều chỉnh hành trình qua vịnh Ba Tư và khu vực Eo biển Hormuz, vịnh Oman chuyển hướng đến các cảng dỡ hàng khác an toàn hơn.

Điều này dẫn đến các chi phí phát sinh cho doanh nghiệp liên quan đến dỡ hàng, chuyển tiếp, lưu kho, buộc doanh nghiệp phải tính toán kỹ lưỡng chi phí logistics, phí bảo hiểm.

Không ít doanh nghiệp đặt câu hỏi liệu tổn thất do chuỗi cung ứng bị đứt gãy có được bồi thường hay không.

Nguyên tắc chung của loại hình bảo hiểm này là quyền lợi chỉ phát sinh khi có thiệt hại vật chất thuộc phạm vi bảo hiểm làm nguyên nhân trực tiếp gây gián đoạn hoạt động.

Nếu việc gián đoạn thuần túy do yếu tố địa chính trị hoặc thay đổi chính sách vận tải, mà không có tổn thất vật chất đi kèm, quyền lợi chi trả có thể không được kích hoạt. Điều đó cho thấy tầm quan trọng của việc thiết kế chương trình bảo hiểm ngay từ đầu, thay vì chỉ tìm giải pháp khi rủi ro đã xảy ra.

Trong bối cảnh thị trường biến động, vai trò của doanh nghiệp bảo hiểm không chỉ dừng ở việc chi trả khi rủi ro xảy ra, mà còn là tư vấn quản trị rủi ro, cập nhật điều khoản và phối hợp với thị trường tái bảo hiểm quốc tế, để đảm bảo năng lực chi trả ổn định. Song song, các doanh nghiệp càng cần đến các giải pháp bảo hiểm linh hoạt, có khả năng bảo vệ trước rủi ro về tài sản, hàng hóa đến gián đoạn kinh doanh.

Từ góc độ doanh nghiệp bảo hiểm, ông Quách Thành Nam - Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Bảo hiểm Bảo Việt cho biết, trong bối cảnh rủi ro địa chính trị gia tăng, việc cung cấp các giải pháp bảo hiểm được tư vấn bài bản, minh bạch điều khoản và gắn với năng lực tái bảo hiểm quốc tế là yếu tố then chốt để đảm bảo sự kế hoạch tài chính không gián đoạn cho khách hàng. Điều này không chỉ giúp khách hàng yên tâm trước các rủi ro cụ thể mà còn phù hợp với các chiến lược phát triển dài hạn.

Song song đó, theo lãnh đạo Bảo hiểm Bảo Việt, chuyển đổi số trong quy trình khai thác và bồi thường cũng được doanh nghiệp đẩy mạnh nhằm rút ngắn thời gian xử lý, nâng cao trải nghiệm dịch vụ. mà còn hỗ trợ doanh nghiệp thiết kế các gói giải pháp toàn diện, phù hợp với.

Trước những biến động của kinh tế và rủi ro toàn cầu, vai trò của bảo hiểm không chỉ là giải pháp chi trả khi sự cố xảy ra, mà còn là công cụ quan trọng trong chiến lược quản trị rủi ro tổng thể cho doanh nghiệp và cá nhân.

Với các doanh nghiệp, cần chủ động làm việc với các hãng vận tải xác định các điều khoản vận đơn, thực hiện các bước hợp lý để giảm thiểu bất kỳ tổn thất nào được bảo hiểm.

Các doanh nghiệp cần theo dõi các tuyên bố về tổn thất chung của bất kỳ hãng vận chuyển nào và thông báo ngay cho nhà bảo hiểm được biết. Bên cạnh đó, cần thiết phải hợp tác chặt chẽ với các nhà bảo hiểm, để đảm bảo phạm vi bảo vệ phù hợp với tuyến vận chuyển và đặc thù hàng hóa./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - OCB vừa chốt ngày 1/7 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ 15%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành gần 399,46 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm gần 4.000 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng, củng cố năng lực tài chính và nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong danh sách Fortune 500 Đông Nam Á

(TBTCO) - Tạp chí Fortune (Hoa Kỳ) vừa chính thức công bố Bảng xếp hạng Fortune Southeast Asia 500 (500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á) năm 2026. Bảo Việt tiếp tục được vinh danh trong bảng xếp hạng này.
Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 17/6: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn chạm 152 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn. Vàng miếng phổ biến ở mức 149 - 151,5 triệu đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn có nơi được niêm yết tới 152 triệu đồng/lượng.
F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

F88 chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu giá 71.000 đồng, huy động nghìn tỷ cho vay cầm đồ

(TBTCO) - F88 vừa điều chỉnh phương án chào bán hơn 22 triệu cổ phiếu ra công chúng với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, qua đó, dự kiến huy động khoảng 1.563,8 tỷ đồng để tăng vốn cho công ty con phục vụ hoạt động kinh doanh dịch vụ cầm đồ. F88 cũng dự kiến các phương án trong trường hợp đợt chào bán không huy động đủ số vốn như kế hoạch.
Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát WGC: 89% ngân hàng trung ương dự kiến tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới

Khảo sát từ Hội đồng Vàng Thế giới (WGC) cho thấy 89% nhà quản lý dự trữ dự báo các ngân hàng trung ương toàn cầu sẽ tiếp tục tăng nắm giữ vàng trong 12 tháng tới, vàng vượt qua trái phiếu chính phủ Mỹ để trở thành tài sản dự trữ được ưu tiên nhất. Các ngân hàng trung ương đã tích lũy trung bình 1.000 tấn vàng trong 04 năm qua.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 6/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng thương mại cho thấy, mặt bằng lãi suất huy động ít "gợn sóng", Hong Leong Bank là trường hợp hiếm hoi hạ lãi suất kỳ hạn 6 tháng xuống 6,8%/năm. Dù vậy, cuộc đua huy động tiền gửi sôi động qua các chương trình cộng lãi suất và ưu đãi gửi tiền trực tuyến. Lãi suất bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 8,35% theo ghi nhận của MBS, tăng 257 điểm cơ bản.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,880 15,130
Kim TT/AVPL 14,900 15,150
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,900 15,150
Nguyên Liệu 99.99 13,950 ▼200K 14,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,900 ▼200K 14,100 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,650 15,050
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,600 15,000
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,530 14,980
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,880 15,130
NL 99.90 13,850
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,900
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 18/06/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17980 18254 18830
CAD 18130 18405 19023
CHF 32294 32677 33320
CNY 0 3850 3943
EUR 29682 29904 30979
GBP 34231 34622 35553
HKD 0 3227 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14936 15521
SGD 19906 20188 20764
THB 721 784 838
USD (1,2) 26051 0 0
USD (5,10,20) 26092 0 0
USD (50,100) 26121 26135 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,835 29,859 31,218
JPY 159.52 159.81 169.09
GBP 34,449 34,542 35,663
AUD 18,185 18,251 18,894
CAD 18,344 18,403 19,033
CHF 32,595 32,696 33,581
SGD 20,040 20,102 20,848
CNY - 3,824 3,961
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.94 16.62 18.04
THB 769.03 778.53 831.31
NZD 14,915 15,053 15,467
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,992 4,123
NOK - 2,699 2,788
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,023.82 - 6,784.15
TWD 752.35 - 909.27
SAR - 6,901.23 7,251.67
KWD - 83,541 88,676
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26431
AUD 18148 18248 19171
CAD 18320 18420 19433
CHF 32547 32577 34163
CNY 3834.4 3859.4 3995
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29864 29894 31619
GBP 34531 34581 36339
HKD 0 3355 0
JPY 160.3 160.8 171.31
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 15021 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20057 20187 20915
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14800000 14800000 15300000
SBJ 13500000 13500000 15300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,431
USD20 26,151 26,201 26,431
USD1 23,915 26,201 26,431
AUD 18,201 18,301 19,408
EUR 30,019 30,019 31,578
CAD 18,270 18,370 19,673
SGD 20,137 20,287 20,852
JPY 160.8 162.3 166.84
GBP 34,431 34,781 35,653
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,744 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/06/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80