BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%

Ánh Tuyết
Chứng khoán BIDV (BSC) vừa xây dựng ba kịch bản tác động từ xung đột Trung Đông. Trong kịch bản cơ sở và tiêu cực, với tổng xác suất khoảng 65%, biến động giá dầu có thể gây áp lực lên tỷ giá USD/VND, lạm phát và điều hành chính sách tiền tệ trong nước, tạo thách thức cho ngành ngân hàng. Lãi suất điều hành có thể tăng từ 0,25 - 1%.
aa
Xung đột Trung Đông, kịch bản nào cho lạm phát và tăng trưởng? Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng” Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Ba kịch bản với cuộc xung đột Trung Đông

Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) vừa phát hành báo cáo chuyên đề: Căng thẳng Hoa Kỳ - Israel và Iran và dự báo các kịch bản chiến sự chủ yếu ảnh hưởng thông qua giá dầu, từ đó, lan tỏa tới tỷ giá, lãi suất và chính sách tiền tệ trong nước.

Dựa trên quan sát các lần đối đầu trước đây khi xung đột chính trị thường diễn ra trong khoảng 1 tháng, cùng với những phát biểu của Tổng thống Donald Trump về cuộc chiến có thể kéo dài 4 - 6 tuần, tham khảo một số tổ chức uy tín để đưa ra các kịch bản sơ bộ về tình hình giá dầu, nhóm phân tích BSC xây dựng ba kịch bản tác động chính của xung đột.

Trong kịch bản tích cực, thời gian cuộc chiến kéo dài từ 2 - 4 tuần, giá dầu Brent trung bình khoảng 85 USD/thùng, với xác suất xảy ra 35% và tác động tiêu cực nhỏ. Trong trường hợp này sẽ không tác động đến điều hành chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chỉ số DXY biến động nhẹ, tỷ giá không bị ảnh hưởng. Với Việt Nam, lạm phát tăng khoảng 3,4% và Ngân hàng Nhà nước không tăng lãi suất.

Ở kịch bản cơ sở, cuộc chiến kéo dài 4 - 6 tuần, giá dầu Brent dao động 80 - 100 USD/thùng, với xác suất 50% và tác động tiêu cực ở mức vừa. Khi đó, Fed trì hoãn việc cắt giảm lãi suất, chỉ số DXY tăng điểm nhẹ, áp lực gia tăng với tỷ giá. Trong khi đó, lạm phát Việt Nam tăng khoảng 3,5 - 3,6% cùng kỳ và tạo sức ép tăng lãi suất điều hành 0,25 - 0,5%.

BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%
Các kịch bản ảnh hưởng của cuộc xung đột Mỹ, Israel - Iran. Nguồn: BSC.

Trong kịch bản tiêu cực, theo BSC dự báo, nếu xung đột kéo dài trên 6 tuần, giá dầu Brent có thể trên 100 USD/thùng, với xác suất xảy ra thấp chỉ 15% và tác động tiêu cực lớn.

Với kịch bản này, Fed có thể không cắt giảm lãi suất và thậm chí tăng lãi suất nếu lạm phát tăng mạnh. Đồng thời, chỉ số DXY tăng điểm mạnh, áp lực tăng mạnh lên tỷ giá. Lạm phát Việt Nam có thể lên mức 3,73 - 4,5% cùng kỳ và Ngân hàng Nhà nước có thể phải tăng lãi suất 0,5 - 1%.

Đánh giá tác động đến ngành ngân hàng, BSC cho rằng trong các kịch bản chiến sự, nền lãi suất thị trường 2 tiếp tục neo cao trước áp lực USD/VND, trong khi triển vọng biên lãi ròng (NIM) của ngành ngân hàng có thể gặp thách thức do yếu tố chi phí vốn, đồng thời mất cân đối tín dụng - huy động có thể bị nới rộng nếu dòng vốn USD rút ra tìm nơi trú ẩn.

Dự báo tác động đối với nhóm ngành chịu tác động gián tiếp, theo BSC, ba yếu tố giả định ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh ngành ngân hàng gồm: biến động khó lường trên thị trường tiền tệ; tác động đến NIM và dài hạn hơn là khả năng huy động vốn; tác động đến nợ xấu nếu xu hướng lãi suất tăng kéo dài.

Trong kịch bản chiến sự kết thúc sớm, ngành ngân hàng được đánh giá ở mức “trung lập” khi những biến động trên thị trường tiền tệ về tỷ giá và lãi suất liên ngân hàng chỉ mang tính cục bộ.

BSC cho rằng kết quả kinh doanh của các ngân hàng xét cả năm 2026 sẽ không chịu ảnh hưởng quá đáng kể, trong đó kỳ vọng mức lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm trên 10% thời gian gần đây chỉ là biến động nhất thời.

Đồng thời, các biến động giá trên thị trường theo chiều hướng tiêu cực do yếu tố tâm lý có thể tạo ra cơ hội cho nhà đầu tư, đặc biệt với những cổ phiếu ngân hàng có triển vọng tăng trưởng vượt trội như: MB (MBB), HDBank (HDB), Techcombank (TCB) và VPBank (VPB).

Trong kịch bản chiến sự kéo dài, ngành ngân hàng được đánh giá “trung lập nhưng thách thức”. Khi đó, nền lãi suất thị trường 2 tiếp tục neo cao, tỷ giá USD/VND chịu áp lực và chênh lệch tín dụng - huy động tiếp tục bị kéo giãn.

BSC cho rằng, nền lãi suất liên ngân hàng ở mức cao, trong khi tỷ giá USD/VND sức ép tăng theo đà của DXY, nếu căng thẳng leo thang khiến dòng vốn USD rút ra và tìm nơi trú ẩn.

Cùng với đó, chênh lệch tín dụng - huy động có thể chịu nhiều sức ép và triển vọng NIM của ngành có thể thách thức hơn trước áp lực chi phí vốn.

Ngoài ra, rủi ro nợ xấu có thể tăng nếu xu hướng tăng của lãi suất thị trường 1 kéo dài, khiến kỳ vọng sơ bộ về tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành trong 2026 có thể thấp hơn so với dự báo 16% trước đó.

Dự báo tác động đến lạm phát

Dự báo tác động cụ thể hơn đến lạm phát, theo nhóm phân tích BSC, tình hình hàng hóa năng lượng qua Eo biển Hormuz đang cực kỳ căng thẳng và gián đoạn nghiêm trọng do xung đột Mỹ, Israel và Iran. Eo biển này kiểm soát khoảng 20 - 21 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương khoảng 20 - 25% tổng lượng dầu giao dịch bằng đường biển toàn cầu và 20% tổng lượng tiêu thụ nhiên liệu lỏng của thế giới.

Gián đoạn vận tải tại eo biển này trong ngắn hạn sẽ gây áp lực tăng giá năng lượng nói chung và dầu thô nói riêng do yếu tố tâm lý, kéo theo giá xăng dầu Việt Nam.

BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%
BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%. Ảnh minh họa.

Thực tế, giá xăng dầu trong nước đã được điều chỉnh tăng trung bình 4,66% trong phiên điều chỉnh ngày 26/2 theo đà tăng của giá dầu thế giới trước những sức ép mang tính cảnh cáo Mỹ dành cho Iran.

Trong trường hợp xung đột kéo dài khiến toàn cầu mất 20 - 25% lượng dầu và năng lượng đi qua Eo biển Hormuz, các đường ống thay thế (Saudi Arabia East - West Pipeline, UAE Habshan - Fujairah, Iran Goreh - Jask,...) chỉ tải được tối đa khoảng 6,5 - 8,5 triệu thùng/ngày, tức là sụt giảm khoảng 12 - 14 triệu thùng dầu mỗi so với hiện tại.

Đánh giá bộ đệm cho giá xăng dầu trong nước, theo BSC, số dư quỹ bình ổn giá xăng dầu lớn, cuối quý III/2025 đạt 5,6 nghìn tỷ đồng, tăng từ mức 900 tỷ đồng của quý IV/2021. Kể từ khi cuộc chiến giữa Nga - Ukraine nổ ra năm 2022, Việt Nam đã bổ sung quỹ xăng dầu đáng kể để có bộ đệm khi khủng hoảng xảy ra.

Cùng với đó, nhu cầu dầu tại Trung Quốc - quốc gia tiêu thụ dầu lớn thứ hai thế giới theo số liệu 2024 lên tới 16,3 triệu thùng/ngày, chiếm 16% tổng lượng dầu tiêu thụ toàn cầu, được dự báo còn khoảng 14 - 15 triệu thùng/ngày, do chuyển dịch sang năng lượng sạch và kinh tế phục hồi không đồng đều.

Nhóm V8 của OPEC+ đồng ý gia tăng sản lượng 206 nghìn thùng/ngày từ tháng 4/2026 ngay sau khi chiến tranh nổ ra.

"Trong nước, các yếu tố hỗ trợ lạm phát bình ổn bao gồm: nguồn cung các hàng hóa trong nước tương đối ổn định và đến thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn nhập khẩu giảm phát từ Trung Quốc. Trung Quốc là quốc gia duy nhất được Iran cho phép đi qua eo biển Hormuz trong giai đoạn chiến sự xảy ra, đây là yếu tố tích cực với chuỗi cung ứng từ Iran đến Trung Quốc" - BSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

Tỷ giá USD hôm nay (21/8): Tỷ giá trung tâm lần đầu chạm 25.600 đồng, USD ngân hàng đi ngược chiều

(TBTCO) - Sáng 21/8, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lần đầu chạm 25.600 đồng, trong khi tại ngân hàng diễn biến trái chiều, nhiều nơi giảm 70 đồng. Chỉ số DXY dao động hẹp, hiện quanh 98,77 điểm. Đồng bạc xanh được hỗ trợ nhẹ khi thị trường chờ loạt PMI sơ bộ tại châu Âu, Anh và Mỹ, tìm thêm tín hiệu về triển vọng kinh tế và chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

Tỷ giá USD hôm nay (20/8): Tỷ giá trong nước phân hóa, DXY sụt giảm do Mỹ tăng mua lại trái phiếu

(TBTCO) - Sáng 20/8, tỷ giá USD trong nước phân hóa rõ rệt, khi tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.590 đồng, các ngân hàng thương mại đi ngang, trong khi USD tự do tăng vọt. Chỉ số DXY giảm mạnh 0,88% xuống 98,76 điểm do áp lực từ chính sách hỗ trợ trái phiếu của Bộ Tài chính Mỹ, dù Fed vẫn để ngỏ khả năng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

Tỷ giá USD hôm nay (19/8): Tỷ giá trung tâm tiến sát 25.600 đồng, DXY nhích lên trước biên bản Fed

(TBTCO) - Sáng 19/8, tỷ giá trung tâm tăng 18 đồng lên 25.598 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,06% lên 99,64 điểm. Thị trường đang chờ biên bản cuộc họp gần nhất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), trong bối cảnh phần lớn chuyên gia dự báo Fed giữ nguyên lãi suất đến cuối năm, song căng thẳng Mỹ - Iran kéo dài tiếp tục tạo lực đỡ cho đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (18/8): USD diễn biến phân hóa, dữ liệu kinh tế Mỹ hạ nhiệt kỳ vọng Fed nâng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 18/8, tỷ giá USD diễn biến phân hóa khi tỷ giá trung tâm giảm 6 đồng xuống 25.580 đồng, USD tự do giảm 150 đồng, trong khi giá USD tại nhiều ngân hàng bật tăng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,01% lên 99,6 điểm khi dữ liệu kinh tế Mỹ kém khả quan làm giảm kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục nâng lãi suất cuối năm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,750 ▲290K 15,100 ▲290K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,410 ▲290K 15,010 ▲290K
Trang sức 99.99 14,420 ▲290K 15,020 ▲290K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18190 18465 19038
CAD 18416 18693 19310
CHF 32004 32386 33029
CNY 0 3840 3950
EUR 29892 30115 31192
GBP 34854 35248 36182
HKD 0 3203 3405
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15299 15884
SGD 20049 20331 20898
THB 716 779 832
USD (1,2) 25873 0 0
USD (5,10,20) 25913 0 0
USD (50,100) 25941 25955 26320
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,930 26,310
EUR 29,956 30,076 31,275
GBP 35,029 35,170 36,209
HKD 3,264 3,277 3,394
CHF 32,092 32,221 33,163
JPY 160.46 161.10 169.08
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,227 20,308 20,907
THB 781 784 821
CAD 18,596 18,671 19,268
NZD 15,367 15,917
KRW 18.09 20.08
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25950 25950 26310
AUD 18369 18469 19394
CAD 18595 18695 19709
CHF 32246 32276 33858
CNY 3826.8 3851.8 3987.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30068 30098 31823
GBP 35153 35203 36964
HKD 0 3330 0
JPY 160.9 161.4 175.8
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15404 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20204 20334 21057
THB 0 744.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,930 25,980 26,310
USD20 25,880 25,980 26,830
USD1 25,830 25,980 26,880
AUD 18,406 18,506 19,646
EUR 29,830 29,930 31,633
CAD 18,517 18,617 19,948
SGD 20,261 20,411 21,693
JPY 161.25 162.75 168.54
GBP 35,011 35,161 36,530
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 779 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 11:30
Ngân hàng