BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%

Ánh Tuyết
Chứng khoán BIDV (BSC) vừa xây dựng ba kịch bản tác động từ xung đột Trung Đông. Trong kịch bản cơ sở và tiêu cực, với tổng xác suất khoảng 65%, biến động giá dầu có thể gây áp lực lên tỷ giá USD/VND, lạm phát và điều hành chính sách tiền tệ trong nước, tạo thách thức cho ngành ngân hàng. Lãi suất điều hành có thể tăng từ 0,25 - 1%.
aa
Xung đột Trung Đông, kịch bản nào cho lạm phát và tăng trưởng? Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng” Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Ba kịch bản với cuộc xung đột Trung Đông

Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) vừa phát hành báo cáo chuyên đề: Căng thẳng Hoa Kỳ - Israel và Iran và dự báo các kịch bản chiến sự chủ yếu ảnh hưởng thông qua giá dầu, từ đó, lan tỏa tới tỷ giá, lãi suất và chính sách tiền tệ trong nước.

Dựa trên quan sát các lần đối đầu trước đây khi xung đột chính trị thường diễn ra trong khoảng 1 tháng, cùng với những phát biểu của Tổng thống Donald Trump về cuộc chiến có thể kéo dài 4 - 6 tuần, tham khảo một số tổ chức uy tín để đưa ra các kịch bản sơ bộ về tình hình giá dầu, nhóm phân tích BSC xây dựng ba kịch bản tác động chính của xung đột.

Trong kịch bản tích cực, thời gian cuộc chiến kéo dài từ 2 - 4 tuần, giá dầu Brent trung bình khoảng 85 USD/thùng, với xác suất xảy ra 35% và tác động tiêu cực nhỏ. Trong trường hợp này sẽ không tác động đến điều hành chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chỉ số DXY biến động nhẹ, tỷ giá không bị ảnh hưởng. Với Việt Nam, lạm phát tăng khoảng 3,4% và Ngân hàng Nhà nước không tăng lãi suất.

Ở kịch bản cơ sở, cuộc chiến kéo dài 4 - 6 tuần, giá dầu Brent dao động 80 - 100 USD/thùng, với xác suất 50% và tác động tiêu cực ở mức vừa. Khi đó, Fed trì hoãn việc cắt giảm lãi suất, chỉ số DXY tăng điểm nhẹ, áp lực gia tăng với tỷ giá. Trong khi đó, lạm phát Việt Nam tăng khoảng 3,5 - 3,6% cùng kỳ và tạo sức ép tăng lãi suất điều hành 0,25 - 0,5%.

BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%
Các kịch bản ảnh hưởng của cuộc xung đột Mỹ, Israel - Iran. Nguồn: BSC.

Trong kịch bản tiêu cực, theo BSC dự báo, nếu xung đột kéo dài trên 6 tuần, giá dầu Brent có thể trên 100 USD/thùng, với xác suất xảy ra thấp chỉ 15% và tác động tiêu cực lớn.

Với kịch bản này, Fed có thể không cắt giảm lãi suất và thậm chí tăng lãi suất nếu lạm phát tăng mạnh. Đồng thời, chỉ số DXY tăng điểm mạnh, áp lực tăng mạnh lên tỷ giá. Lạm phát Việt Nam có thể lên mức 3,73 - 4,5% cùng kỳ và Ngân hàng Nhà nước có thể phải tăng lãi suất 0,5 - 1%.

Đánh giá tác động đến ngành ngân hàng, BSC cho rằng trong các kịch bản chiến sự, nền lãi suất thị trường 2 tiếp tục neo cao trước áp lực USD/VND, trong khi triển vọng biên lãi ròng (NIM) của ngành ngân hàng có thể gặp thách thức do yếu tố chi phí vốn, đồng thời mất cân đối tín dụng - huy động có thể bị nới rộng nếu dòng vốn USD rút ra tìm nơi trú ẩn.

Dự báo tác động đối với nhóm ngành chịu tác động gián tiếp, theo BSC, ba yếu tố giả định ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh ngành ngân hàng gồm: biến động khó lường trên thị trường tiền tệ; tác động đến NIM và dài hạn hơn là khả năng huy động vốn; tác động đến nợ xấu nếu xu hướng lãi suất tăng kéo dài.

Trong kịch bản chiến sự kết thúc sớm, ngành ngân hàng được đánh giá ở mức “trung lập” khi những biến động trên thị trường tiền tệ về tỷ giá và lãi suất liên ngân hàng chỉ mang tính cục bộ.

BSC cho rằng kết quả kinh doanh của các ngân hàng xét cả năm 2026 sẽ không chịu ảnh hưởng quá đáng kể, trong đó kỳ vọng mức lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm trên 10% thời gian gần đây chỉ là biến động nhất thời.

Đồng thời, các biến động giá trên thị trường theo chiều hướng tiêu cực do yếu tố tâm lý có thể tạo ra cơ hội cho nhà đầu tư, đặc biệt với những cổ phiếu ngân hàng có triển vọng tăng trưởng vượt trội như: MB (MBB), HDBank (HDB), Techcombank (TCB) và VPBank (VPB).

Trong kịch bản chiến sự kéo dài, ngành ngân hàng được đánh giá “trung lập nhưng thách thức”. Khi đó, nền lãi suất thị trường 2 tiếp tục neo cao, tỷ giá USD/VND chịu áp lực và chênh lệch tín dụng - huy động tiếp tục bị kéo giãn.

BSC cho rằng, nền lãi suất liên ngân hàng ở mức cao, trong khi tỷ giá USD/VND sức ép tăng theo đà của DXY, nếu căng thẳng leo thang khiến dòng vốn USD rút ra và tìm nơi trú ẩn.

Cùng với đó, chênh lệch tín dụng - huy động có thể chịu nhiều sức ép và triển vọng NIM của ngành có thể thách thức hơn trước áp lực chi phí vốn.

Ngoài ra, rủi ro nợ xấu có thể tăng nếu xu hướng tăng của lãi suất thị trường 1 kéo dài, khiến kỳ vọng sơ bộ về tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành trong 2026 có thể thấp hơn so với dự báo 16% trước đó.

Dự báo tác động đến lạm phát

Dự báo tác động cụ thể hơn đến lạm phát, theo nhóm phân tích BSC, tình hình hàng hóa năng lượng qua Eo biển Hormuz đang cực kỳ căng thẳng và gián đoạn nghiêm trọng do xung đột Mỹ, Israel và Iran. Eo biển này kiểm soát khoảng 20 - 21 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương khoảng 20 - 25% tổng lượng dầu giao dịch bằng đường biển toàn cầu và 20% tổng lượng tiêu thụ nhiên liệu lỏng của thế giới.

Gián đoạn vận tải tại eo biển này trong ngắn hạn sẽ gây áp lực tăng giá năng lượng nói chung và dầu thô nói riêng do yếu tố tâm lý, kéo theo giá xăng dầu Việt Nam.

BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%
BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%. Ảnh minh họa.

Thực tế, giá xăng dầu trong nước đã được điều chỉnh tăng trung bình 4,66% trong phiên điều chỉnh ngày 26/2 theo đà tăng của giá dầu thế giới trước những sức ép mang tính cảnh cáo Mỹ dành cho Iran.

Trong trường hợp xung đột kéo dài khiến toàn cầu mất 20 - 25% lượng dầu và năng lượng đi qua Eo biển Hormuz, các đường ống thay thế (Saudi Arabia East - West Pipeline, UAE Habshan - Fujairah, Iran Goreh - Jask,...) chỉ tải được tối đa khoảng 6,5 - 8,5 triệu thùng/ngày, tức là sụt giảm khoảng 12 - 14 triệu thùng dầu mỗi so với hiện tại.

Đánh giá bộ đệm cho giá xăng dầu trong nước, theo BSC, số dư quỹ bình ổn giá xăng dầu lớn, cuối quý III/2025 đạt 5,6 nghìn tỷ đồng, tăng từ mức 900 tỷ đồng của quý IV/2021. Kể từ khi cuộc chiến giữa Nga - Ukraine nổ ra năm 2022, Việt Nam đã bổ sung quỹ xăng dầu đáng kể để có bộ đệm khi khủng hoảng xảy ra.

Cùng với đó, nhu cầu dầu tại Trung Quốc - quốc gia tiêu thụ dầu lớn thứ hai thế giới theo số liệu 2024 lên tới 16,3 triệu thùng/ngày, chiếm 16% tổng lượng dầu tiêu thụ toàn cầu, được dự báo còn khoảng 14 - 15 triệu thùng/ngày, do chuyển dịch sang năng lượng sạch và kinh tế phục hồi không đồng đều.

Nhóm V8 của OPEC+ đồng ý gia tăng sản lượng 206 nghìn thùng/ngày từ tháng 4/2026 ngay sau khi chiến tranh nổ ra.

"Trong nước, các yếu tố hỗ trợ lạm phát bình ổn bao gồm: nguồn cung các hàng hóa trong nước tương đối ổn định và đến thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn nhập khẩu giảm phát từ Trung Quốc. Trung Quốc là quốc gia duy nhất được Iran cho phép đi qua eo biển Hormuz trong giai đoạn chiến sự xảy ra, đây là yếu tố tích cực với chuỗi cung ứng từ Iran đến Trung Quốc" - BSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

Tỷ giá USD hôm nay (8/5): USD biến động hẹp, chờ tín hiệu mở lại eo biển Hormuz chấm dứt 10 tuần xung đột

(TBTCO) - Sáng ngày 8/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố giảm 1 đồng xuống 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do phổ biến quanh 26.580 - 26.620 VND/USD. Chỉ số DXY tăng 0,19% lên 98,25 điểm, cho thấy đồng USD phục hồi nhẹ, khi giới đầu tư chờ phản hồi từ Iran về đề xuất mở lại eo biển Hormuz và chấm dứt xung đột kéo dài 10 tuần.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 16,350
Kim TT/AVPL 16,050 16,350
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 16,350
Nguyên Liệu 99.99 14,900 15,100
Nguyên Liệu 99.9 14,850 15,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 160,500 163,500
Hà Nội - PNJ 160,500 163,500
Đà Nẵng - PNJ 160,500 163,500
Miền Tây - PNJ 160,500 163,500
Tây Nguyên - PNJ 160,500 163,500
Đông Nam Bộ - PNJ 160,500 163,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 16,350
Miếng SJC Nghệ An 16,050 16,350
Miếng SJC Thái Bình 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,800
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 16,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 16,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 1,635
Cập nhật: 17/05/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18301 18577 19164
CAD 18631 18909 19526
CHF 32817 33202 33870
CNY 0 3828 3922
EUR 30000 30273 31307
GBP 34301 34692 35644
HKD 0 3234 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15075 15660
SGD 20029 20311 20846
THB 721 785 838
USD (1,2) 26085 0 0
USD (5,10,20) 26127 0 0
USD (50,100) 26155 26175 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 17/05/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80