BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%

Ánh Tuyết
Chứng khoán BIDV (BSC) vừa xây dựng ba kịch bản tác động từ xung đột Trung Đông. Trong kịch bản cơ sở và tiêu cực, với tổng xác suất khoảng 65%, biến động giá dầu có thể gây áp lực lên tỷ giá USD/VND, lạm phát và điều hành chính sách tiền tệ trong nước, tạo thách thức cho ngành ngân hàng. Lãi suất điều hành có thể tăng từ 0,25 - 1%.
aa
Xung đột Trung Đông, kịch bản nào cho lạm phát và tăng trưởng? Dự báo diễn biến giá vàng khi xung đột Trung Đông “dậy sóng” Chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với tác động từ xung đột tại Trung Đông

Ba kịch bản với cuộc xung đột Trung Đông

Công ty cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC) vừa phát hành báo cáo chuyên đề: Căng thẳng Hoa Kỳ - Israel và Iran và dự báo các kịch bản chiến sự chủ yếu ảnh hưởng thông qua giá dầu, từ đó, lan tỏa tới tỷ giá, lãi suất và chính sách tiền tệ trong nước.

Dựa trên quan sát các lần đối đầu trước đây khi xung đột chính trị thường diễn ra trong khoảng 1 tháng, cùng với những phát biểu của Tổng thống Donald Trump về cuộc chiến có thể kéo dài 4 - 6 tuần, tham khảo một số tổ chức uy tín để đưa ra các kịch bản sơ bộ về tình hình giá dầu, nhóm phân tích BSC xây dựng ba kịch bản tác động chính của xung đột.

Trong kịch bản tích cực, thời gian cuộc chiến kéo dài từ 2 - 4 tuần, giá dầu Brent trung bình khoảng 85 USD/thùng, với xác suất xảy ra 35% và tác động tiêu cực nhỏ. Trong trường hợp này sẽ không tác động đến điều hành chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chỉ số DXY biến động nhẹ, tỷ giá không bị ảnh hưởng. Với Việt Nam, lạm phát tăng khoảng 3,4% và Ngân hàng Nhà nước không tăng lãi suất.

Ở kịch bản cơ sở, cuộc chiến kéo dài 4 - 6 tuần, giá dầu Brent dao động 80 - 100 USD/thùng, với xác suất 50% và tác động tiêu cực ở mức vừa. Khi đó, Fed trì hoãn việc cắt giảm lãi suất, chỉ số DXY tăng điểm nhẹ, áp lực gia tăng với tỷ giá. Trong khi đó, lạm phát Việt Nam tăng khoảng 3,5 - 3,6% cùng kỳ và tạo sức ép tăng lãi suất điều hành 0,25 - 0,5%.

BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%
Các kịch bản ảnh hưởng của cuộc xung đột Mỹ, Israel - Iran. Nguồn: BSC.

Trong kịch bản tiêu cực, theo BSC dự báo, nếu xung đột kéo dài trên 6 tuần, giá dầu Brent có thể trên 100 USD/thùng, với xác suất xảy ra thấp chỉ 15% và tác động tiêu cực lớn.

Với kịch bản này, Fed có thể không cắt giảm lãi suất và thậm chí tăng lãi suất nếu lạm phát tăng mạnh. Đồng thời, chỉ số DXY tăng điểm mạnh, áp lực tăng mạnh lên tỷ giá. Lạm phát Việt Nam có thể lên mức 3,73 - 4,5% cùng kỳ và Ngân hàng Nhà nước có thể phải tăng lãi suất 0,5 - 1%.

Đánh giá tác động đến ngành ngân hàng, BSC cho rằng trong các kịch bản chiến sự, nền lãi suất thị trường 2 tiếp tục neo cao trước áp lực USD/VND, trong khi triển vọng biên lãi ròng (NIM) của ngành ngân hàng có thể gặp thách thức do yếu tố chi phí vốn, đồng thời mất cân đối tín dụng - huy động có thể bị nới rộng nếu dòng vốn USD rút ra tìm nơi trú ẩn.

Dự báo tác động đối với nhóm ngành chịu tác động gián tiếp, theo BSC, ba yếu tố giả định ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh ngành ngân hàng gồm: biến động khó lường trên thị trường tiền tệ; tác động đến NIM và dài hạn hơn là khả năng huy động vốn; tác động đến nợ xấu nếu xu hướng lãi suất tăng kéo dài.

Trong kịch bản chiến sự kết thúc sớm, ngành ngân hàng được đánh giá ở mức “trung lập” khi những biến động trên thị trường tiền tệ về tỷ giá và lãi suất liên ngân hàng chỉ mang tính cục bộ.

BSC cho rằng kết quả kinh doanh của các ngân hàng xét cả năm 2026 sẽ không chịu ảnh hưởng quá đáng kể, trong đó kỳ vọng mức lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn qua đêm trên 10% thời gian gần đây chỉ là biến động nhất thời.

Đồng thời, các biến động giá trên thị trường theo chiều hướng tiêu cực do yếu tố tâm lý có thể tạo ra cơ hội cho nhà đầu tư, đặc biệt với những cổ phiếu ngân hàng có triển vọng tăng trưởng vượt trội như: MB (MBB), HDBank (HDB), Techcombank (TCB) và VPBank (VPB).

Trong kịch bản chiến sự kéo dài, ngành ngân hàng được đánh giá “trung lập nhưng thách thức”. Khi đó, nền lãi suất thị trường 2 tiếp tục neo cao, tỷ giá USD/VND chịu áp lực và chênh lệch tín dụng - huy động tiếp tục bị kéo giãn.

BSC cho rằng, nền lãi suất liên ngân hàng ở mức cao, trong khi tỷ giá USD/VND sức ép tăng theo đà của DXY, nếu căng thẳng leo thang khiến dòng vốn USD rút ra và tìm nơi trú ẩn.

Cùng với đó, chênh lệch tín dụng - huy động có thể chịu nhiều sức ép và triển vọng NIM của ngành có thể thách thức hơn trước áp lực chi phí vốn.

Ngoài ra, rủi ro nợ xấu có thể tăng nếu xu hướng tăng của lãi suất thị trường 1 kéo dài, khiến kỳ vọng sơ bộ về tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành trong 2026 có thể thấp hơn so với dự báo 16% trước đó.

Dự báo tác động đến lạm phát

Dự báo tác động cụ thể hơn đến lạm phát, theo nhóm phân tích BSC, tình hình hàng hóa năng lượng qua Eo biển Hormuz đang cực kỳ căng thẳng và gián đoạn nghiêm trọng do xung đột Mỹ, Israel và Iran. Eo biển này kiểm soát khoảng 20 - 21 triệu thùng dầu mỗi ngày, tương đương khoảng 20 - 25% tổng lượng dầu giao dịch bằng đường biển toàn cầu và 20% tổng lượng tiêu thụ nhiên liệu lỏng của thế giới.

Gián đoạn vận tải tại eo biển này trong ngắn hạn sẽ gây áp lực tăng giá năng lượng nói chung và dầu thô nói riêng do yếu tố tâm lý, kéo theo giá xăng dầu Việt Nam.

BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%
BSC dự báo ba kịch bản xung đột Trung Đông, có khả năng lãi suất điều hành tăng 0,25 - 1%. Ảnh minh họa.

Thực tế, giá xăng dầu trong nước đã được điều chỉnh tăng trung bình 4,66% trong phiên điều chỉnh ngày 26/2 theo đà tăng của giá dầu thế giới trước những sức ép mang tính cảnh cáo Mỹ dành cho Iran.

Trong trường hợp xung đột kéo dài khiến toàn cầu mất 20 - 25% lượng dầu và năng lượng đi qua Eo biển Hormuz, các đường ống thay thế (Saudi Arabia East - West Pipeline, UAE Habshan - Fujairah, Iran Goreh - Jask,...) chỉ tải được tối đa khoảng 6,5 - 8,5 triệu thùng/ngày, tức là sụt giảm khoảng 12 - 14 triệu thùng dầu mỗi so với hiện tại.

Đánh giá bộ đệm cho giá xăng dầu trong nước, theo BSC, số dư quỹ bình ổn giá xăng dầu lớn, cuối quý III/2025 đạt 5,6 nghìn tỷ đồng, tăng từ mức 900 tỷ đồng của quý IV/2021. Kể từ khi cuộc chiến giữa Nga - Ukraine nổ ra năm 2022, Việt Nam đã bổ sung quỹ xăng dầu đáng kể để có bộ đệm khi khủng hoảng xảy ra.

Cùng với đó, nhu cầu dầu tại Trung Quốc - quốc gia tiêu thụ dầu lớn thứ hai thế giới theo số liệu 2024 lên tới 16,3 triệu thùng/ngày, chiếm 16% tổng lượng dầu tiêu thụ toàn cầu, được dự báo còn khoảng 14 - 15 triệu thùng/ngày, do chuyển dịch sang năng lượng sạch và kinh tế phục hồi không đồng đều.

Nhóm V8 của OPEC+ đồng ý gia tăng sản lượng 206 nghìn thùng/ngày từ tháng 4/2026 ngay sau khi chiến tranh nổ ra.

"Trong nước, các yếu tố hỗ trợ lạm phát bình ổn bao gồm: nguồn cung các hàng hóa trong nước tương đối ổn định và đến thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn nhập khẩu giảm phát từ Trung Quốc. Trung Quốc là quốc gia duy nhất được Iran cho phép đi qua eo biển Hormuz trong giai đoạn chiến sự xảy ra, đây là yếu tố tích cực với chuỗi cung ứng từ Iran đến Trung Quốc" - BSC nhận định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Tỷ giá USD hôm nay (27/6): Tỷ giá trung tâm nối dài đà tăng, HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai

Sáng 27/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.197 đồng, tăng 14 đồng tuần qua, đánh dấu 7 tuần tăng liên tiếp. HSBC hạ dự báo thặng dư tài khoản vãng lai Việt Nam năm 2026 xuống 2,2% GDP, có thể gây áp lực lên VND. Còn DXY chốt tuần ở 101,36 điểm, vẫn neo cao dù Fed được dự báo giữ nguyên lãi suất khi căng thẳng Mỹ - Iran lắng dịu.
Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

Thị trường tiền tệ tuần 22 - 26/6: Đảo chiều bơm ròng gần 4.000 tỷ đồng qua OMO, tỷ giá trung tâm tăng 7 tuần

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 22 - 26/6 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 3.961,15 tỷ đồng qua kênh OMO sau ba tuần hút ròng mạnh, kéo lãi suất qua đêm về 3,2%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 7 liên tiếp, song chỉ tăng 0,3% từ đầu năm. Nhiều khả năng nhà điều hành để tỷ giá biến động hơn nửa cuối năm, để hỗ trợ thanh khoản và giảm lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Tỷ giá USD hôm nay (25/6): Tỷ giá USD tự do bật tăng, thị trường chờ dữ liệu lạm phát của Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (25/6): Tỷ giá USD tự do bật tăng, thị trường chờ dữ liệu lạm phát của Mỹ

(TBTCO) - Sáng 25/6, tỷ giá trung tâm công bố ở mức 25.197 đồng, tăng 5 đồng. Tỷ giá USD tự do phổ biến ở 26.600 - 26.640 VND/USD, tăng 120 đồng chiều mua và 140 đồng chiều bán. Trong khi đó, chỉ số DXY ở mức 101,5 điểm, giảm 0,1%, nhưng vẫn duy trì gần đỉnh cao nhất kể từ tháng 5/2025. Dữ liệu lạm phát PCE của Mỹ tuần này là phép thử quan trọng với đà tăng của đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

Tỷ giá USD hôm nay (24/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.192 đồng, xác suất Fed tăng lãi suất tháng 9 vọt lên 70%

(TBTCO) - Sáng 24/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.192 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đạt 101,44 điểm, tăng 0,03% khi kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách gia tăng; xác suất nâng lãi suất trong tháng 9 đã tăng lên 70,2%. Trong khi đó, đồng yên suy yếu mạnh, làm gia tăng lo ngại Nhật Bản có thể can thiệp.
Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

Quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 88 tỷ USD, sắp sửa đổi Nghị định về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước

(TBTCO) - Dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 50/2014/NĐ-CP về quản lý dự trữ ngoại hối nhà nước có nhiều đề xuất đáng chú ý về bổ sung công cụ quyền chọn, tăng tính chủ động trong can thiệp thị trường... Hiện quy mô dự trữ ngoại hối đạt gần 87,6 tỷ USD tính đến ngày 18/6/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17607 17880 18459
CAD 17968 18243 18862
CHF 31824 32205 32861
CNY 0 3829 3922
EUR 29342 29563 30646
GBP 34042 34432 35373
HKD 0 3222 3424
JPY 154 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14630 15218
SGD 19748 20029 20601
THB 704 767 820
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26466
AUD 17762 17862 18787
CAD 18138 18238 19249
CHF 32039 32069 33655
CNY 3809.9 3834.9 3970.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29497 29527 31250
GBP 34325 34375 36144
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14712 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19897 20027 20750
THB 0 732 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,466
USD20 26,138 26,188 26,466
USD1 26,138 26,188 26,466
AUD 17,834 17,934 19,039
EUR 29,696 29,696 31,102
CAD 18,103 18,203 19,507
SGD 19,996 20,146 20,700
JPY 158.72 160.22 164.75
GBP 34,234 34,584 35,550
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80