Thanh tra chỉ ra nhiều sai sót tại ngân hàng Indovina Hội An, nguy cơ thu hồi nợ gặp khó

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 9 chỉ ra nhiều sai sót, hạn chế tại Ngân hàng Indovina - Chi nhánh Hội An. Đáng chú ý là rủi ro tập trung tín dụng vào một nhóm nhỏ khách hàng và nguy cơ gặp khó trong thu hồi nợ. Trong bối cảnh đó, nợ xấu của Indovina Bank tăng mạnh, đạt gần 3.600 tỷ đồng cuối năm 2024; trong đó 96% là nợ có khả năng mất vốn, còn tỷ lệ bao phủ nợ xấu chỉ quanh 10%.
aa
Thanh tra chỉ ra sai sót trong cho vay tại Indovina Phú Mỹ Hưng Thanh tra chỉ rõ tồn tại trong hoạt động tín dụng của Public Bank giữa đà nợ xấu tăng mạnh Bức tranh kinh doanh "kém sắc" của khối ngân hàng ngoại

Cảnh báo rủi ro khó thu hồi nợ

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 9 vừa ban hành Thông báo số 50/TB-TTNN về kết luận thanh tra đối với Ngân hàng TNHH Indovina - Chi nhánh Hội An (IVB Hội An). Trước đó, ngày 09/02/2026, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 9 đã ban hành Kết luận thanh tra số 26/KL-TTNN đối với chi nhánh này.

Ngân hàng TNHH Indovina - Chi nhánh Hội An được thành lập theo Quyết định số 515/IVB-BOM/2015 ngày 30/6/2015 của Ngân hàng TNHH Indovina và được cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 0300733752-014 ngày 03/7/2015 do Phòng Đăng ký kinh doanh - Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Quảng Nam cấp. Người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Thị Thắng - Giám đốc chi nhánh, được bổ nhiệm theo Quyết định số 073/IVB-BOE/2018 ngày 01/6/2018. Trụ sở chi nhánh đặt tại số 429 Hai Bà Trưng, phường Hội An Đông, TP. Đà Nẵng.

Thanh tra chỉ ra nhiều sai sót tại ngân hàng Indovina Hội An, nguy cơ thu hồi nợ gặp khó
Thanh tra chỉ ra nhiều sai sót tại ngân hàng Indovina Hội An, nguy cơ thu hồi nợ gặp khó. Ảnh minh họa.

Đoàn thanh tra chỉ ra một số sai sót, hạn chế tại Indovina Hội An. "IVB Hội An chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ kiểm tra giám sát vốn vay theo quy định: Chứng từ chứng minh mục đích sử dụng vốn chưa đảm bảo theo quy định; công tác thẩm định, kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay thiếu chặt chẽ; IVB Hội An chưa tuân thủ đầy đủ các hướng dẫn theo quy định nội bộ" - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 9 cũng cảnh báo rủi ro khi thị trường bất động sản suy giảm, đình trệ pháp lý hoặc giá trị tài sản bảo đảm sụt giảm, ngân hàng có nguy cơ: gia tăng nợ xấu, khó khăn trong xử lý, thu hồi nợ, đặc biệt các tài sản đang thế chấp là tài sản hình thành trong tương lai (các dự án căn hộ, chung cư chưa có sổ).

Cơ quan thanh tra cũng lưu ý, rủi ro tập trung tín dụng vào một nhóm nhỏ khách hàng; rủi ro về tài sản bảo đảm khi khách hàng vay vốn với giá trị lớn, thời gian vay dài hạn nhưng khách hàng chưa thực hiện mua bảo hiểm cháy, nổ bắt buộc đối với tài sản bảo đảm theo quy định tại Phụ lục VII, Điều 2, Nghị định số 105/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn cứu hộ.

Về việc chấp hành quy định của pháp luật về Phòng, chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, đến thời điểm thanh tra, Thông tư số 09/2023/TT-NHNN ngày 28/7/2023 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Phòng, chống rửa tiền đã hết hiệu lực kể từ ngày 01/11/2025 và được thay thế bởi Thông tư số 27/2025/TT-NHNN ngày 15/9/2025.

Tuy nhiên, IVB Hội An chưa kịp thời rà soát, điều chỉnh Quyết định phân công nhân sự chịu trách nhiệm phòng, chống rửa tiền để cập nhật, dẫn chiếu căn cứ pháp lý theo quy định mới.

Căn cứ kết quả thanh tra, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 9 đã đưa ra 7 kiến nghị, trong đó có 6 kiến nghị đối với chi nhánh Indovina Hội An và 1 kiến nghị đối với Hội sở nhằm yêu cầu đơn vị khắc phục các tồn tại, hạn chế, phòng ngừa rủi ro và bảo đảm hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả, tuân thủ đúng quy định của pháp luật.

Nợ xấu gần 3.600 tỷ đồng, 96% là nợ có khả năng mất vốn

Bức tranh chất lượng tài sản của Indovina Bank giai đoạn 2015 - 2024 cho thấy, quy mô nợ xấu gia tăng mạnh và tập trung chủ yếu ở nhóm nợ có khả năng mất vốn, trong khi khả năng dự phòng bao phủ nợ xấu ở mức khá thấp.

Trong 10 năm qua, dư nợ cho vay khách hàng tăng khoảng 2,8 lần, từ hơn 14.000 tỷ đồng lên trên 40.000 tỷ đồng. Tuy nhiên, quy mô nợ xấu tăng nhanh hơn nhiều, gấp hơn 6 lần, lên gần 3.600 tỷ đồng, cho thấy áp lực chất lượng tín dụng gia tăng đáng kể.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Trước hết, quy mô nợ xấu (nhóm 3 - 5) của ngân hàng tăng mạnh trong giai đoạn 2020 - 2023 và vẫn duy trì ở mức cao trong năm 2024. Đáng chú ý, nợ xấu từ 669,8 tỷ đồng năm 2021 tăng vọt lên 3.659 tỷ đồng năm 2022, tương đương mức tăng tới 446,3%, sau đó tiếp tục tăng lên mức đỉnh 3.877 tỷ đồng năm 2023, trước khi giảm nhẹ xuống 3.574,5 tỷ đồng năm 2024, tương ứng mức giảm 7,8%. Điều này cho thấy nợ xấu của ngân hàng bùng phát mạnh giai đoạn này và chưa thực sự được xử lý triệt để.

Một điểm đáng chú ý, cơ cấu nợ xấu tập trung rất lớn ở nhóm 5 - nợ có khả năng mất vốn. Tỷ trọng nhóm 5 trong tổng nợ xấu tăng lên 95,8% năm 2024. Điều này cho thấy phần lớn nợ xấu của ngân hàng đã chuyển sang mức rủi ro cao nhất, khiến khả năng thu hồi trở nên khó khăn hơn và gây áp lực lớn lên hoạt động xử lý nợ.

Tỷ lệ nợ xấu vọt lên hai con số, “lá chắn” dự phòng giảm mạnh

Xét theo tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay, chỉ số này tăng mạnh trong những năm gần đây. Trước năm 2021, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng được kiểm soát khá tốt, duy trì dưới 2%, nhưng đã tăng vọt lên mức hai con số, trên 11% trong giai đoạn 2022 - 2023. Ngược lại, tỷ lệ bao phủ nợ xấu lại ở mức thấp và suy giảm rõ rệt, từ trên 100% những năm trước xuống quanh 10% năm 2023 - 2024.

Đầu năm 2026, Ngân hàng TNHH Indovina - Chi nhánh Đà Nẵng tiếp tục thông báo bán đấu giá lần thứ 15 đối với 20 căn hộ chung cư hình thành trong tương lai tại Dự án Khu du lịch sinh thái thể thao biển Hội An (phường Hội An Tây, TP. Đà Nẵng), do Công ty cổ phần Tri Việt Hội An làm chủ đầu tư, với tổng giá khởi điểm hơn 35 tỷ đồng.

Các căn hộ có diện tích khoảng 47 - 137 m2, giá khởi điểm từ hơn 1 tỷ đến khoảng 3,05 tỷ đồng/căn.

Trước đó, từ cuối năm 2024, ngân hàng từng đưa lô tài sản này ra đấu giá với tổng giá trị hơn 63 tỷ đồng, tuy nhiên nhiều lần không có người mua. Dù giá khởi điểm đã giảm gần 50%, tài sản vẫn tiếp tục ế kéo dài, cho thấy việc xử lý, thu hồi nợ đối với tài sản bảo đảm là bất động sản hình thành trong tương lai gặp nhiều khó khăn.

Sau năm nợ xấu căng thẳng, lợi nhuận của Indovina Bank năm 2023 sụt giảm mạnh, chủ yếu do suy giảm thu nhập cốt lõi và chi phí dự phòng tăng cao. Đáng chú ý, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh 27,9%, lên kỷ lục 513 tỷ đồng, cho thấy ngân hàng phải tăng trích lập để xử lý rủi ro tín dụng trong bối cảnh chất lượng tài sản chịu áp lực. Sự gia tăng dự phòng đã trực tiếp bào mòn lợi nhuận, khiến lợi nhuận trước thuế của Indovina Bank năm 2023 chỉ còn 496 tỷ đồng, giảm tới 53,6% so với năm 2022./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (20/10): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY đi ngang trước thềm cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 20/10, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.639 đồng, trong khi USD ngân hàng biến động hẹp, chỉ số DXY quanh 101,95 điểm. Dù lạm phát Mỹ vượt dự báo, thị trường vẫn nghiêng về khả năng Fed giữ nguyên lãi suất tháng 10. Đồng USD được hỗ trợ bởi sự suy yếu của euro giữa bất ổn chính trị tại châu Âu.
Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 20/10: Vàng thế giới giảm về 4.143 USD/ounce, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 23 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước biến động trái chiều, với mức điều chỉnh khác nhau giữa các thương hiệu.
VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

VietinBank triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay tới 2%/năm, tiếp sức tăng trưởng kinh tế

(TBTCO) - Giảm lãi suất đến 2%/năm, VietinBank triển khai đồng bộ các giải pháp hỗ trợ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân.
LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại APEA 2026

(TBTCO) - LPBank được vinh danh Thương hiệu truyền cảm hứng tại Giải thưởng Doanh nghiệp Châu Á – Thái Bình Dương (APEA) 2026, ghi nhận hành trình tái định vị thương hiệu, đổi mới sản phẩm, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tạo ra những giá trị tích cực cho cộng đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (19/10): USD biến động hẹp, thị trường chờ tín hiệu từ các ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 19/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.633 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY dao động quanh 101,82 điểm. Tuần này, thị trường hướng sự chú ý đến dữ liệu PMI sơ bộ tháng 10 của Mỹ, các chỉ báo kinh tế và loạt quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương.
Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 19/10: Vàng trong nước giữ giá, thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng trong nước không có sự thay đổi với giá bán ra phổ biến ở mức 143,6 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%, siết chặt các khoản vay lách quy định

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất huy động tối thiểu 0,5%/năm, tập trung giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm với lĩnh vực ưu tiên; đồng thời, kiểm soát chặt chẽ việc cấp tín dụng nhiều khoản vay. Ngân hàng không tuân thủ chỉ đạo lãi suất có thể bị xem xét lại room tín dụng, áp tỷ lệ bảo đảm an toàn cao hơn.
Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 18/10: Giá vàng trong nước giảm, vàng thế giới duy trì quanh 4.166 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 - 400.000 đồng/lượng tại các thương hiệu, trong khi vàng thế giới giao dịch quanh 4.166 USD/ounce.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 141,500
Hà Nội - PNJ 138,500 141,500
Đà Nẵng - PNJ 138,500 141,500
Miền Tây - PNJ 138,500 141,500
Tây Nguyên - PNJ 138,500 141,500
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 141,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,960 14,260
Miếng SJC Nghệ An 13,960 14,260
Miếng SJC Thái Bình 13,960 14,260
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,870 14,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,870 14,250
NL 99.99 13,200
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,050
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,396 14,262
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,396 14,263
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,377 1,412
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,377 1,413
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,396 1,426
Cập nhật: 21/10/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17542 17815 18391
CAD 17880 18154 18771
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3832 3928
EUR 28370 28587 29667
GBP 33711 34100 35037
HKD 0 3165 3368
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14383 14973
SGD 19692 19973 20552
THB 684 747 800
USD (1,2) 25610 0 0
USD (5,10,20) 25648 0 0
USD (50,100) 25676 25690 26060
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,685 25,685 26,065
USD(1-2-5) 24,658 - -
USD(10-20) 24,658 - -
EUR 28,479 28,502 29,862
JPY 159.14 159.43 169.08
GBP 33,922 34,014 35,194
AUD 17,752 17,816 18,503
CAD 18,030 18,088 18,757
CHF 30,960 31,056 31,977
SGD 19,816 19,878 20,661
CNY - 3,799 3,945
HKD 3,230 3,240 3,376
KRW 17.96 18.73 20.38
THB 733.97 743.03 795.86
NZD 14,380 14,514 14,946
SEK - 2,570 2,661
DKK - 3,820 3,956
NOK - 2,706 2,805
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,921.68 - 6,682.73
TWD 716.21 - 867.76
SAR - 6,778.81 7,141.45
KWD - 81,731 86,975
AED - 6,790 7,317
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,448 28,591 29,816
GBP 33,830 34,000 35,034
HKD 3,226 3,245 3,363
CHF 30,793 30,948 31,891
JPY 158.50 160.10 168.08
AUD 17,687 17,812 18,409
SGD 19,793 19,973 20,568
THB 740 755 792
CAD 17,990 18,117 18,716
NZD 14,418 14,975
KRW 18.84 20.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17729 17829 18759
CAD 18056 18156 19170
CHF 30975 31005 32583
CNY 3814.7 3839.7 3974.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28566 28596 30321
GBP 34030 34080 35838
HKD 0 3300 0
JPY 160.12 160.62 171.14
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14497 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19855 19985 20709
THB 0 713.7 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 21/10/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30