Bức tranh kinh doanh "kém sắc" của khối ngân hàng ngoại

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2024, bức tranh lợi nhuận của khối ngân hàng ngoại tại Việt Nam kém sắc, chỉ riêng Shinhan Bank tăng trưởng dương hiếm hoi, trong khi hầu hết còn lại sụt giảm mạnh, thậm chí thua lỗ như CIMB. Đáng lưu ý, 5/6 nhà băng mở rộng tín dụng mạnh hai chữ số, nhưng thu nhập lãi thuần "lao dốc" cho thấy hiệu quả đang bị bỏ ngỏ.
aa
"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025 NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng

Tại Việt Nam hiện có 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài đang hoạt động, đến từ 5 quốc gia, bao gồm: Woori Bank; Shinhan Bank đều đến từ Hàn Quốc; hai “ông lớn” là HSBC và Standard Chartered (Anh); ba nhà băng Hong Leong Bank, Public Bank và CIMB Bank đến từ Malaysia. Ngoài ra, UOB Việt Nam (Singapore) và ANZ (Úc) cũng đang hiện diện tại Việt Nam.

Lợi nhuận "teo tóp" dần

Dù không phải tất cả ngân hàng đều công bố báo cáo tài chính đầy đủ, nhưng nhiều dữ liệu tài chính phần nào hé lộ bức tranh kinh doanh của các nhà băng ngoại tại thị trường Việt Nam năm vừa qua.

Dữ liệu của phóng viên cho thấy, trong số 6 đơn vị được khảo sát, Shinhan Bank dù xếp thứ 6 về quy mô vốn điều lệ trong nhóm các nhà băng ngoại (5.709,9 tỷ đồng) nhưng lại là ngân hàng ngoại có lợi nhuận cao nhất trong nhóm. Với thế mạnh vượt trội ở mảng ngân hàng bán lẻ, Shinhan Bank đang giữ vững vị thế là một trong những tổ chức tài chính nước ngoài hoạt động hiệu quả nhất tại Việt Nam.

Cuộc đua hụt hơi của khối ngân hàng ngoại năm 2024
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Cụ thể, năm 2024, trong khi Shinhan Bank tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu với mức tăng trưởng dương hiếm hoi 2,7%, phần lớn các ngân hàng còn lại đều ghi nhận sự sụt giảm đáng kể, thậm chí lỗ sâu kéo dài như trường hợp của CIMB. Theo đó, Shinhan Bank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 5.772 tỷ đồng, tăng nhẹ 2,1% so với năm 2023.

Lợi nhuận "bốc hơi" diện rộng

Thống kê cho thấy, 5/6 ngân hàng trong nhóm khảo sát đều suy giảm lợi nhuận trước thuế.

Woori Bank giảm 8,4% lợi nhuận, đạt gần 1.400 tỷ đồng. Các ngân hàng còn lại đến từ Malaysia đều kinh doanh kém sắc.

Trong khi Public Bank và Hong Leong Bank lần lượt sụt giảm 41,7% và 19,6%, CIMB khi ngân hàng này tiếp tục ghi nhận lỗ trước thuế lên tới 194,3 tỷ đồng, tăng lỗ 55,5% so với năm trước. Mức lỗ ngày càng phình to cho thấy ngân hàng vẫn loay hoay trong việc kiểm soát chi phí, vận hành kém hiệu quả dù hoạt động tại Việt Nam gần 10 năm qua.

Từ con số sụt giảm lợi nhuận phân tích phía trên, có thể nhìn sâu hơn vào cấu trúc thu nhập, đặc biệt là thu nhập lãi thuần và các khoản thu ngoài lãi để thấy rõ động lực tăng trưởng và chất lượng nguồn thu của từng nhà băng.

Năm 2024, các ngân hàng ngoại tại Việt Nam đều duy trì chiến lược đẩy mạnh cho vay, song tốc độ tăng trưởng và quy mô có sự phân hóa rõ rệt. Theo đó, Shinhan Bank dẫn đầu tuyệt đối về quy mô cho vay với dư nợ đạt gần 127.000 tỷ đồng, tăng 19,5% cùng kỳ. HSBC giữ vị trí thứ hai về quy mô dư nợ, gần 70.000 tỷ đồng.

Woori Bank đứng thứ ba với dư nợ hơn 39.000 tỷ đồng, tăng 19,5%, tương đương với Shinhan Bank. Các ngân hàng còn lại đến từ Malaysia có quy mô nhỏ hơn, Public Bank đạt dư nợ 29.150 tỷ đồng, tăng 11,3%; Hong Leong Bank 12.467 tỷ đồng, song tốc độ tăng trưởng khá cao 27,4%. CIMB là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất nhóm, đạt 29,1%, tuy nhiên quy mô dư nợ vẫn rất nhỏ, chỉ khoảng 4.414 tỷ đồng.

"Bấu víu" tín dụng, song lãi thuần sụt giảm

Dữ liệu của phóng viên cho thấy, năm 2024, thu nhập lãi thuần tiếp tục là trụ cột trong cơ cấu lợi nhuận của các ngân hàng ngoại tại Việt Nam, với nhiều nhà băng duy trì mức độ phụ thuộc rất cao, thậm chí vượt 90%, cho thấy quá trình đa dạng hóa nguồn thu vẫn chưa có chuyển biến rõ rệt.

Cuộc đua hụt hơi của khối ngân hàng ngoại năm 2024
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Dấu hỏi lớn về hiệu quả tăng trưởng tín dụng

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là dù phần lớn ngân hàng trong nhóm khảo sát đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, thậm chí có ngân hàng tăng dư nợ gần 30% so với cùng kỳ, nhưng hiệu quả lại không tương xứng. Có tới 4/6 ngân hàng ghi nhận thu nhập lãi thuần giảm sâu ở mức hai chữ số (HSBC, Public, Hong Leong Bank và CIMB); trong khi đó, 2 ngân hàng còn lại chỉ tăng trưởng khiêm tốn, phản ánh những thách thức trong việc chuyển hóa tăng trưởng tín dụng thành lợi nhuận thực chất.

Đơn cử, Shinhan Bank tiếp tục dẫn đầu về quy mô thu nhập lãi thuần với 8.448,8 tỷ đồng trong năm 2024, tăng 2,7% so với cùng kỳ, mức tăng khiêm tốn và không tương xứng với tốc độ mở rộng tín dụng.

Cụ thể, dư nợ cho vay khách hàng của ngân hàng này đạt 126.971 tỷ đồng, dẫn đầu nhóm khảo sát và tăng mạnh 19,5%. Tỷ trọng thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập hoạt động đạt 87,4%, cao hơn mức 86,2% của năm 2023, cho thấy Shinhan Bank vẫn chủ yếu dựa vào thu nhập từ hoạt động tín dụng.

Cuộc đua hụt hơi của khối ngân hàng ngoại năm 2024
Hầu hết các ngân hàng tăng mạnh dư nợ cho vay khách hàng, nhưng thu nhập lãi thuần sụt giảm. Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng.

Đáng chú ý, top 3 nhà băng phụ thuộc lớn vào nguồn thu tín dụng đó là: Woori Bank (94,3%); Public Bank (93%); Hong Leong Bank (97,8%). Trong đó, Woori Bank duy trì mức thu nhập lãi thuần ổn định với 2.077,5 tỷ đồng trong năm 2024, tuy nhiên, đáng chú ý là tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động tăng vọt lên 94,3%, so với mức 78,4% của năm 2023, phản ánh sự lệ thuộc ngày càng lớn vào hoạt động tín dụng trong cơ cấu nguồn thu của ngân hàng.

Cùng với đó, Public Bank và Hong Leong Bank tiếp tục thể hiện sự phụ thuộc gần như tuyệt đối vào thu nhập lãi thuần, dù tỷ lệ này giảm nhẹ so với năm 2023, cả hai ngân hàng vẫn duy trì mô hình hoạt động thiên về tín dụng truyền thống, ít nguồn thu từ dịch vụ hoặc đầu tư. Tăng trưởng cho vay khách hàng của Public đạt 11,3% và Hong Leong là 27,4%, cho thấy quy mô cho vay vẫn được mở rộng nhưng đóng góp chủ yếu vào nguồn thu vẫn là lãi thuần, thay vì đa dạng hóa hoạt động sinh lời.

CIMB là trường hợp đặc biệt khi tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong năm 2023 vượt 100%, đạt 120,5%, do lỗ từ các mảng phi tín dụng lên tới 60,6 tỷ đồng khiến tổng thu nhập hoạt động bị kéo giảm. Sang năm 2024, tỷ trọng này đã có sự cải thiện, giảm còn 86,7% nhờ các nguồn thu ngoài lãi đảo chiều tích cực, ghi nhận lãi 48,1 tỷ đồng. Tuy nhiên, dù tín dụng tăng trưởng mạnh nhất nhóm với mức 29,1%, thu nhập lãi thuần của CIMB lại giảm 11,9%, chỉ còn 314,2 tỷ đồng, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chưa cao và chất lượng tăng trưởng tín dụng còn nhiều hạn chế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18627
CAD 18525 18802 19419
CHF 32612 32996 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29835 30108 31141
GBP 34397 34788 35725
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14980 15568
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80