Bức tranh kinh doanh "kém sắc" của khối ngân hàng ngoại

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2024, bức tranh lợi nhuận của khối ngân hàng ngoại tại Việt Nam kém sắc, chỉ riêng Shinhan Bank tăng trưởng dương hiếm hoi, trong khi hầu hết còn lại sụt giảm mạnh, thậm chí thua lỗ như CIMB. Đáng lưu ý, 5/6 nhà băng mở rộng tín dụng mạnh hai chữ số, nhưng thu nhập lãi thuần "lao dốc" cho thấy hiệu quả đang bị bỏ ngỏ.
aa
"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Nhìn lại bức tranh tín dụng, thúc đẩy động lực tăng trưởng GDP năm 2025 NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng

Tại Việt Nam hiện có 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài đang hoạt động, đến từ 5 quốc gia, bao gồm: Woori Bank; Shinhan Bank đều đến từ Hàn Quốc; hai “ông lớn” là HSBC và Standard Chartered (Anh); ba nhà băng Hong Leong Bank, Public Bank và CIMB Bank đến từ Malaysia. Ngoài ra, UOB Việt Nam (Singapore) và ANZ (Úc) cũng đang hiện diện tại Việt Nam.

Lợi nhuận "teo tóp" dần

Dù không phải tất cả ngân hàng đều công bố báo cáo tài chính đầy đủ, nhưng nhiều dữ liệu tài chính phần nào hé lộ bức tranh kinh doanh của các nhà băng ngoại tại thị trường Việt Nam năm vừa qua.

Dữ liệu của phóng viên cho thấy, trong số 6 đơn vị được khảo sát, Shinhan Bank dù xếp thứ 6 về quy mô vốn điều lệ trong nhóm các nhà băng ngoại (5.709,9 tỷ đồng) nhưng lại là ngân hàng ngoại có lợi nhuận cao nhất trong nhóm. Với thế mạnh vượt trội ở mảng ngân hàng bán lẻ, Shinhan Bank đang giữ vững vị thế là một trong những tổ chức tài chính nước ngoài hoạt động hiệu quả nhất tại Việt Nam.

Cuộc đua hụt hơi của khối ngân hàng ngoại năm 2024
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Cụ thể, năm 2024, trong khi Shinhan Bank tiếp tục duy trì vị thế dẫn đầu với mức tăng trưởng dương hiếm hoi 2,7%, phần lớn các ngân hàng còn lại đều ghi nhận sự sụt giảm đáng kể, thậm chí lỗ sâu kéo dài như trường hợp của CIMB. Theo đó, Shinhan Bank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 5.772 tỷ đồng, tăng nhẹ 2,1% so với năm 2023.

Lợi nhuận "bốc hơi" diện rộng

Thống kê cho thấy, 5/6 ngân hàng trong nhóm khảo sát đều suy giảm lợi nhuận trước thuế.

Woori Bank giảm 8,4% lợi nhuận, đạt gần 1.400 tỷ đồng. Các ngân hàng còn lại đến từ Malaysia đều kinh doanh kém sắc.

Trong khi Public Bank và Hong Leong Bank lần lượt sụt giảm 41,7% và 19,6%, CIMB khi ngân hàng này tiếp tục ghi nhận lỗ trước thuế lên tới 194,3 tỷ đồng, tăng lỗ 55,5% so với năm trước. Mức lỗ ngày càng phình to cho thấy ngân hàng vẫn loay hoay trong việc kiểm soát chi phí, vận hành kém hiệu quả dù hoạt động tại Việt Nam gần 10 năm qua.

Từ con số sụt giảm lợi nhuận phân tích phía trên, có thể nhìn sâu hơn vào cấu trúc thu nhập, đặc biệt là thu nhập lãi thuần và các khoản thu ngoài lãi để thấy rõ động lực tăng trưởng và chất lượng nguồn thu của từng nhà băng.

Năm 2024, các ngân hàng ngoại tại Việt Nam đều duy trì chiến lược đẩy mạnh cho vay, song tốc độ tăng trưởng và quy mô có sự phân hóa rõ rệt. Theo đó, Shinhan Bank dẫn đầu tuyệt đối về quy mô cho vay với dư nợ đạt gần 127.000 tỷ đồng, tăng 19,5% cùng kỳ. HSBC giữ vị trí thứ hai về quy mô dư nợ, gần 70.000 tỷ đồng.

Woori Bank đứng thứ ba với dư nợ hơn 39.000 tỷ đồng, tăng 19,5%, tương đương với Shinhan Bank. Các ngân hàng còn lại đến từ Malaysia có quy mô nhỏ hơn, Public Bank đạt dư nợ 29.150 tỷ đồng, tăng 11,3%; Hong Leong Bank 12.467 tỷ đồng, song tốc độ tăng trưởng khá cao 27,4%. CIMB là ngân hàng có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao nhất nhóm, đạt 29,1%, tuy nhiên quy mô dư nợ vẫn rất nhỏ, chỉ khoảng 4.414 tỷ đồng.

"Bấu víu" tín dụng, song lãi thuần sụt giảm

Dữ liệu của phóng viên cho thấy, năm 2024, thu nhập lãi thuần tiếp tục là trụ cột trong cơ cấu lợi nhuận của các ngân hàng ngoại tại Việt Nam, với nhiều nhà băng duy trì mức độ phụ thuộc rất cao, thậm chí vượt 90%, cho thấy quá trình đa dạng hóa nguồn thu vẫn chưa có chuyển biến rõ rệt.

Cuộc đua hụt hơi của khối ngân hàng ngoại năm 2024
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Dấu hỏi lớn về hiệu quả tăng trưởng tín dụng

Tuy nhiên, điều đáng chú ý là dù phần lớn ngân hàng trong nhóm khảo sát đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng, thậm chí có ngân hàng tăng dư nợ gần 30% so với cùng kỳ, nhưng hiệu quả lại không tương xứng. Có tới 4/6 ngân hàng ghi nhận thu nhập lãi thuần giảm sâu ở mức hai chữ số (HSBC, Public, Hong Leong Bank và CIMB); trong khi đó, 2 ngân hàng còn lại chỉ tăng trưởng khiêm tốn, phản ánh những thách thức trong việc chuyển hóa tăng trưởng tín dụng thành lợi nhuận thực chất.

Đơn cử, Shinhan Bank tiếp tục dẫn đầu về quy mô thu nhập lãi thuần với 8.448,8 tỷ đồng trong năm 2024, tăng 2,7% so với cùng kỳ, mức tăng khiêm tốn và không tương xứng với tốc độ mở rộng tín dụng.

Cụ thể, dư nợ cho vay khách hàng của ngân hàng này đạt 126.971 tỷ đồng, dẫn đầu nhóm khảo sát và tăng mạnh 19,5%. Tỷ trọng thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập hoạt động đạt 87,4%, cao hơn mức 86,2% của năm 2023, cho thấy Shinhan Bank vẫn chủ yếu dựa vào thu nhập từ hoạt động tín dụng.

Cuộc đua hụt hơi của khối ngân hàng ngoại năm 2024
Hầu hết các ngân hàng tăng mạnh dư nợ cho vay khách hàng, nhưng thu nhập lãi thuần sụt giảm. Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính các ngân hàng.

Đáng chú ý, top 3 nhà băng phụ thuộc lớn vào nguồn thu tín dụng đó là: Woori Bank (94,3%); Public Bank (93%); Hong Leong Bank (97,8%). Trong đó, Woori Bank duy trì mức thu nhập lãi thuần ổn định với 2.077,5 tỷ đồng trong năm 2024, tuy nhiên, đáng chú ý là tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động tăng vọt lên 94,3%, so với mức 78,4% của năm 2023, phản ánh sự lệ thuộc ngày càng lớn vào hoạt động tín dụng trong cơ cấu nguồn thu của ngân hàng.

Cùng với đó, Public Bank và Hong Leong Bank tiếp tục thể hiện sự phụ thuộc gần như tuyệt đối vào thu nhập lãi thuần, dù tỷ lệ này giảm nhẹ so với năm 2023, cả hai ngân hàng vẫn duy trì mô hình hoạt động thiên về tín dụng truyền thống, ít nguồn thu từ dịch vụ hoặc đầu tư. Tăng trưởng cho vay khách hàng của Public đạt 11,3% và Hong Leong là 27,4%, cho thấy quy mô cho vay vẫn được mở rộng nhưng đóng góp chủ yếu vào nguồn thu vẫn là lãi thuần, thay vì đa dạng hóa hoạt động sinh lời.

CIMB là trường hợp đặc biệt khi tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong năm 2023 vượt 100%, đạt 120,5%, do lỗ từ các mảng phi tín dụng lên tới 60,6 tỷ đồng khiến tổng thu nhập hoạt động bị kéo giảm. Sang năm 2024, tỷ trọng này đã có sự cải thiện, giảm còn 86,7% nhờ các nguồn thu ngoài lãi đảo chiều tích cực, ghi nhận lãi 48,1 tỷ đồng. Tuy nhiên, dù tín dụng tăng trưởng mạnh nhất nhóm với mức 29,1%, thu nhập lãi thuần của CIMB lại giảm 11,9%, chỉ còn 314,2 tỷ đồng, phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chưa cao và chất lượng tăng trưởng tín dụng còn nhiều hạn chế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17798 18072 18648
CAD 18132 18407 19024
CHF 31728 32109 32754
CNY 0 3834 3927
EUR 29336 29556 30639
GBP 34370 34761 35694
HKD 0 3218 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15554
SGD 19773 20054 20635
THB 696 759 812
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26440
AUD 17992 18092 19015
CAD 18324 18424 19438
CHF 31983 32013 33591
CNY 3815.1 3840.1 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29532 29562 31287
GBP 34659 34709 36467
HKD 0 3355 0
JPY 158.2 158.7 169.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15076 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19940 20070 20798
THB 0 725.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80