NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Trong quý I/2025, lợi nhuận ngành ngân hàng tiếp tục tăng trưởng, biên lãi dòng (NIM) toàn ngành thu hẹp khi giảm 45 điểm cơ bản so với cùng kỳ, mức thấp nhất kể từ năm 2016 - 2017. Trong khi đó, nợ xấu tiếp tục nhích lên và dự báo đạt đỉnh trong nửa đầu năm 2025 trước khi bắt đầu hạ nhiệt.
aa

Báo cáo ngành ngân hàng do Công ty cổ phần Chứng khoán KIS Việt Nam (KIS) mới phát hành cho thấy, quý I/2025, tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nếu loại trừ khoản thu nhập đột biến từ việc SeABank bán toàn bộ 100% vốn tại Công ty Tài chính Bưu điện, mức tăng còn 10,9%.

NIM thu hẹp vì gói vay ưu đãi, ngân hàng đẩy mạnh thu ngoài lãi để bù đắp

Trong đó, các ngân hàng tư nhân ghi nhận kết quả nổi trội hơn về lợi nhuận trước thuế, với nhiều cái tên có mức tăng trưởng hai chữ số như MB (tăng 44,7%), Sacombank (tăng 38,4%), VPBank (tăng 19,9%), HDBank (tăng 33%), SeABank (tăng mạnh 188,8%), Eximbank (tăng 25,8%) và Nam A Bank (tăng 22,5%).

Ngân hàng chấp nhận giảm NIM để chia sẻ với nền kinh tế

"Trong giai đoạn vừa qua, NIM của một số ngân hàng đã bắt đầu thu hẹp, đặc biệt trong kỳ báo cáo kết quả kinh doanh quý I/2025. Xu hướng này là hợp lý vì các ngân hàng phải chia sẻ lợi nhuận, trách nhiệm đối với nền kinh tế, thị trường thông qua việc cung ứng các gói vay lãi suất hợp lý, hỗ trợ tăng trưởng" - ông Trần Hoàng Sơn - Giám đốc Chiến lược thị trường VPBankS.

Tín dụng toàn hệ thống tăng 3,93% so với cuối năm 2024, tương đương tăng 17,9% so với cùng kỳ, mức cao hơn nhiều so với 1,42% của quý I/2024, động lực chủ yếu đến từ cho vay doanh nghiệp.

Một số ngân hàng dẫn đầu tăng trưởng tín dụng bao gồm VietinBank (tăng 4,5%), SHB (tăng 7,8%), VPBank (tăng 5%), Eximbank (tăng 9,2%), MSB (tăng 8,9%), NCB và KienlongBank (cùng tăng 10,6%), PGBank (tăng 10%).

Chia sẻ gần đây, ông Trần Hoàng Sơn - Giám đốc Chiến lược thị trường VPBankS cho rằng, nếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục theo đuổi chính sách nới lỏng tiền tệ để hỗ trợ cho thị trường thì tăng trưởng tín dụng sẽ duy trì ở mức cao, từ đó mở rộng tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận.

Tuy nhiên, đáng lưu ý, báo cáo của Chứng khoán KIS cho thấy, biên lãi ròng (NIM) trung bình giảm 45 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống còn 3,1%, chủ yếu do lợi suất tài sản giảm. Phần lớn ngân hàng ghi nhận NIM giảm trong quý I/2025.

NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng
Nguồn: Chứng khoán KIS.

Cũng theo ghi nhận của SSI Research, NIM toàn ngành giảm so với cùng kỳ, mức thấp nhất kể từ năm 2016 - 2017 do cạnh tranh gia tăng trong ngành. TPBank và Sacombank là trường hợp ngoại lệ với NIM có sự cải thiện đáng kể.

Kể từ cuối năm 2023, các "ông lớn" quốc doanh và ngân hàng nước ngoài tung ra nhiều gói cho vay với lãi suất ưu đãi, khiến các ngân hàng tư nhân cũng phải theo sát để duy trì tính cạnh tranh.

Điều này khiến nhóm ngân hàng thương mại quy mô trung bình bị ảnh hưởng nặng nề hơn bởi cạnh tranh lãi suất, NIM giảm 64 điểm cơ bản so với cùng kỳ và phải đẩy mạnh các hoạt động thu ngoài lãi để bù đắp phần nào cho việc NIM bị thu hẹp.

"Dự báo NIM vẫn sẽ chịu áp lực trong năm 2025 và có khả năng hồi phục dần từ cuối 2025 khi một số khoản cho vay mua nhà hết thời gian ưu đãi lãi suất" - SSI Research đánh giá.

Trong thời gian tới, nhóm phân tích SSI Research cho rằng, sẽ có hai yếu tố lớn ảnh hưởng tới xu hướng NIM của các ngân hàng.

Thứ nhất, sự thay đổi bối cảnh cạnh tranh trong trường hợp căng thẳng thương mại leo thang, gây áp lực lên nguồn vốn giá rẻ từ khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), vốn đem lại thế mạnh cho nhóm quốc doanh với nguồn CASA và vốn huy động bằng USD.

Thứ hai, các khoản vay mua nhà hết thời gian ưu đãi lãi suất. Làn sóng cho vay mua nhà với lãi suất hấp dẫn bắt đầu từ khoảng quý III/2023 và có thể kết thúc từ cuối năm 2025.

"Điều này có thể hỗ trợ NIM phục hồi, đặc biệt là đối với các ngân hàng như BIDV, VietinBank, Techcombank, MB và ACB khi hết thời hạn ưu đãi lãi suất và các khoản vay chuyển sang giai đoạn lãi suất thả nổi" - SSI Research nhìn nhận.

Tỷ lệ nợ xấu nhích lên, dự báo đạt đỉnh nửa đầu năm

Cũng theo Chứng khoán KIS, tỷ lệ nợ xấu có dấu hiệu tăng trở lại trong quý I/2025. Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu theo nhóm từ 3 - 5 của 27 ngân hàng trong hệ thống tăng từ 1,9% trong quý IV/2024 lên 2,1% trong quý I/2025.

Nếu tính từ nhóm 2 - 5, tỷ lệ này cũng tăng từ 3,5% lên 3,8%. Một số ngân hàng vẫn giữ được tỷ lệ nợ xấu thấp hoặc cải thiện so với quý trước. Chẳng hạn, VietABank giảm tỷ lệ nợ xấu từ 1,3% xuống 0,6%, Vietcombank duy trì ở mức 1%, trong khi Techcombank tăng nhẹ từ 1,1% lên 1,2%, BacABank tăng từ 1,2% lên 1,3% và ACB giữ ổn định ở mức 1,0%.

NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng
NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng. Ảnh: T.L.

Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu lại có xu hướng giảm. Trung bình toàn hệ thống, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm từ 91% trong quý IV/2024 xuống còn 80% trong quý I/2025. Một số ngân hàng vẫn duy trì được mức dự phòng cao, như Vietcombank giảm từ 223% xuống 216%, VietinBank từ 175% xuống 137%, Techcombank từ 114% xuống 112%.

Cũng theo SSI Research, do trong quý I/2025 không có nhiều tiến triển đối với các dự án bất động sản chưa hoàn tất về mặt pháp lý, trong khi thanh khoản tại thị trường bất động sản TP.HCM vẫn trầm lắng, khiến một phần các khoản cho vay mua nhà liên quan đã bị chuyển nhóm thành nợ xấu tại một số ngân hàng.

"Nhìn chung, tỷ lệ hình thành nợ xấu thường có xu hướng tăng trong quý I, sau khi được cải thiện vào quý cuối cùng của năm trước. Tuy nhiên, với môi trường lãi suất duy trì ở mức thấp và các phương án cơ cấu hỗ trợ khách hàng từ phía ngân hàng, chúng tôi cho rằng tỷ lệ nợ xấu sẽ đạt đỉnh trong nửa đầu năm 2025 trước khi bắt đầu giảm dần vào nửa cuối năm" - SSI Research đánh giá.

Kỳ vọng tín dụng bật cao quý II, khó cản đà suy giảm NIM

Chứng khoán KIS cho rằng, tăng trưởng tín dụng trong quý II/2025 có thể tiếp tục tăng cao hơn so với cùng kỳ. Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng đầy tham vọng ở mức 16% cho toàn hệ thống ngân hàng trong năm 2025, cao nhất trong 7 năm qua.

Tuy nhiên, tỷ suất sinh lợi trên tài sản suy giảm ngăn chặn đà phục hồi NIM trong quý II/2025. Theo kịch bản cơ sở, NIM có thể duy trì ổn định trong năm 2025 và có khả năng giảm nhẹ trong kịch bản tiêu cực. Chi phí dự phòng rủi ro có thể tăng do bổ sung trích lập dự phòng nợ và tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,070 ▲270K 14,670 ▲270K
Trang sức 99.99 14,080 ▲270K 14,680 ▲270K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 26/09/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17722 17995 18579
CAD 17840 18114 18733
CHF 30682 31058 31704
CNY 0 3827 3923
EUR 28978 29197 30280
GBP 33603 33992 34929
HKD 0 3181 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14407 14995
SGD 19795 20077 20648
THB 695 758 811
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 26/09/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30