NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong quý I/2025, lợi nhuận ngành ngân hàng tiếp tục tăng trưởng, biên lãi dòng (NIM) toàn ngành thu hẹp khi giảm 45 điểm cơ bản so với cùng kỳ, mức thấp nhất kể từ năm 2016 - 2017. Trong khi đó, nợ xấu tiếp tục nhích lên và dự báo đạt đỉnh trong nửa đầu năm 2025 trước khi bắt đầu hạ nhiệt.
aa

Báo cáo ngành ngân hàng do Công ty cổ phần Chứng khoán KIS Việt Nam (KIS) mới phát hành cho thấy, quý I/2025, tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, nếu loại trừ khoản thu nhập đột biến từ việc SeABank bán toàn bộ 100% vốn tại Công ty Tài chính Bưu điện, mức tăng còn 10,9%.

NIM thu hẹp vì gói vay ưu đãi, ngân hàng đẩy mạnh thu ngoài lãi để bù đắp

Trong đó, các ngân hàng tư nhân ghi nhận kết quả nổi trội hơn về lợi nhuận trước thuế, với nhiều cái tên có mức tăng trưởng hai chữ số như MB (tăng 44,7%), Sacombank (tăng 38,4%), VPBank (tăng 19,9%), HDBank (tăng 33%), SeABank (tăng mạnh 188,8%), Eximbank (tăng 25,8%) và Nam A Bank (tăng 22,5%).

Ngân hàng chấp nhận giảm NIM để chia sẻ với nền kinh tế

"Trong giai đoạn vừa qua, NIM của một số ngân hàng đã bắt đầu thu hẹp, đặc biệt trong kỳ báo cáo kết quả kinh doanh quý I/2025. Xu hướng này là hợp lý vì các ngân hàng phải chia sẻ lợi nhuận, trách nhiệm đối với nền kinh tế, thị trường thông qua việc cung ứng các gói vay lãi suất hợp lý, hỗ trợ tăng trưởng" - ông Trần Hoàng Sơn - Giám đốc Chiến lược thị trường VPBankS.

Tín dụng toàn hệ thống tăng 3,93% so với cuối năm 2024, tương đương tăng 17,9% so với cùng kỳ, mức cao hơn nhiều so với 1,42% của quý I/2024, động lực chủ yếu đến từ cho vay doanh nghiệp.

Một số ngân hàng dẫn đầu tăng trưởng tín dụng bao gồm VietinBank (tăng 4,5%), SHB (tăng 7,8%), VPBank (tăng 5%), Eximbank (tăng 9,2%), MSB (tăng 8,9%), NCB và KienlongBank (cùng tăng 10,6%), PGBank (tăng 10%).

Chia sẻ gần đây, ông Trần Hoàng Sơn - Giám đốc Chiến lược thị trường VPBankS cho rằng, nếu Ngân hàng Nhà nước (NHNN) tiếp tục theo đuổi chính sách nới lỏng tiền tệ để hỗ trợ cho thị trường thì tăng trưởng tín dụng sẽ duy trì ở mức cao, từ đó mở rộng tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận.

Tuy nhiên, đáng lưu ý, báo cáo của Chứng khoán KIS cho thấy, biên lãi ròng (NIM) trung bình giảm 45 điểm cơ bản so với cùng kỳ, xuống còn 3,1%, chủ yếu do lợi suất tài sản giảm. Phần lớn ngân hàng ghi nhận NIM giảm trong quý I/2025.

NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng
Nguồn: Chứng khoán KIS.

Cũng theo ghi nhận của SSI Research, NIM toàn ngành giảm so với cùng kỳ, mức thấp nhất kể từ năm 2016 - 2017 do cạnh tranh gia tăng trong ngành. TPBank và Sacombank là trường hợp ngoại lệ với NIM có sự cải thiện đáng kể.

Kể từ cuối năm 2023, các "ông lớn" quốc doanh và ngân hàng nước ngoài tung ra nhiều gói cho vay với lãi suất ưu đãi, khiến các ngân hàng tư nhân cũng phải theo sát để duy trì tính cạnh tranh.

Điều này khiến nhóm ngân hàng thương mại quy mô trung bình bị ảnh hưởng nặng nề hơn bởi cạnh tranh lãi suất, NIM giảm 64 điểm cơ bản so với cùng kỳ và phải đẩy mạnh các hoạt động thu ngoài lãi để bù đắp phần nào cho việc NIM bị thu hẹp.

"Dự báo NIM vẫn sẽ chịu áp lực trong năm 2025 và có khả năng hồi phục dần từ cuối 2025 khi một số khoản cho vay mua nhà hết thời gian ưu đãi lãi suất" - SSI Research đánh giá.

Trong thời gian tới, nhóm phân tích SSI Research cho rằng, sẽ có hai yếu tố lớn ảnh hưởng tới xu hướng NIM của các ngân hàng.

Thứ nhất, sự thay đổi bối cảnh cạnh tranh trong trường hợp căng thẳng thương mại leo thang, gây áp lực lên nguồn vốn giá rẻ từ khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI), vốn đem lại thế mạnh cho nhóm quốc doanh với nguồn CASA và vốn huy động bằng USD.

Thứ hai, các khoản vay mua nhà hết thời gian ưu đãi lãi suất. Làn sóng cho vay mua nhà với lãi suất hấp dẫn bắt đầu từ khoảng quý III/2023 và có thể kết thúc từ cuối năm 2025.

"Điều này có thể hỗ trợ NIM phục hồi, đặc biệt là đối với các ngân hàng như BIDV, VietinBank, Techcombank, MB và ACB khi hết thời hạn ưu đãi lãi suất và các khoản vay chuyển sang giai đoạn lãi suất thả nổi" - SSI Research nhìn nhận.

Tỷ lệ nợ xấu nhích lên, dự báo đạt đỉnh nửa đầu năm

Cũng theo Chứng khoán KIS, tỷ lệ nợ xấu có dấu hiệu tăng trở lại trong quý I/2025. Cụ thể, tỷ lệ nợ xấu theo nhóm từ 3 - 5 của 27 ngân hàng trong hệ thống tăng từ 1,9% trong quý IV/2024 lên 2,1% trong quý I/2025.

Nếu tính từ nhóm 2 - 5, tỷ lệ này cũng tăng từ 3,5% lên 3,8%. Một số ngân hàng vẫn giữ được tỷ lệ nợ xấu thấp hoặc cải thiện so với quý trước. Chẳng hạn, VietABank giảm tỷ lệ nợ xấu từ 1,3% xuống 0,6%, Vietcombank duy trì ở mức 1%, trong khi Techcombank tăng nhẹ từ 1,1% lên 1,2%, BacABank tăng từ 1,2% lên 1,3% và ACB giữ ổn định ở mức 1,0%.

NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng
NIM giảm về đáy gần 10 năm, nợ xấu gia tăng tạo áp lực cho ngân hàng. Ảnh: T.L.

Tuy nhiên, tỷ lệ bao phủ nợ xấu lại có xu hướng giảm. Trung bình toàn hệ thống, tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm từ 91% trong quý IV/2024 xuống còn 80% trong quý I/2025. Một số ngân hàng vẫn duy trì được mức dự phòng cao, như Vietcombank giảm từ 223% xuống 216%, VietinBank từ 175% xuống 137%, Techcombank từ 114% xuống 112%.

Cũng theo SSI Research, do trong quý I/2025 không có nhiều tiến triển đối với các dự án bất động sản chưa hoàn tất về mặt pháp lý, trong khi thanh khoản tại thị trường bất động sản TP.HCM vẫn trầm lắng, khiến một phần các khoản cho vay mua nhà liên quan đã bị chuyển nhóm thành nợ xấu tại một số ngân hàng.

"Nhìn chung, tỷ lệ hình thành nợ xấu thường có xu hướng tăng trong quý I, sau khi được cải thiện vào quý cuối cùng của năm trước. Tuy nhiên, với môi trường lãi suất duy trì ở mức thấp và các phương án cơ cấu hỗ trợ khách hàng từ phía ngân hàng, chúng tôi cho rằng tỷ lệ nợ xấu sẽ đạt đỉnh trong nửa đầu năm 2025 trước khi bắt đầu giảm dần vào nửa cuối năm" - SSI Research đánh giá.

Kỳ vọng tín dụng bật cao quý II, khó cản đà suy giảm NIM

Chứng khoán KIS cho rằng, tăng trưởng tín dụng trong quý II/2025 có thể tiếp tục tăng cao hơn so với cùng kỳ. Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng đầy tham vọng ở mức 16% cho toàn hệ thống ngân hàng trong năm 2025, cao nhất trong 7 năm qua.

Tuy nhiên, tỷ suất sinh lợi trên tài sản suy giảm ngăn chặn đà phục hồi NIM trong quý II/2025. Theo kịch bản cơ sở, NIM có thể duy trì ổn định trong năm 2025 và có khả năng giảm nhẹ trong kịch bản tiêu cực. Chi phí dự phòng rủi ro có thể tăng do bổ sung trích lập dự phòng nợ và tỷ lệ nợ xấu vẫn ở mức cao.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17612 17885 18457
CAD 17959 18234 18847
CHF 31766 32147 32788
CNY 0 3829 3921
EUR 29258 29478 30554
GBP 33891 34280 35205
HKD 0 3227 3430
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14533 15115
SGD 19755 20037 20611
THB 704 767 821
USD (1,2) 26065 0 0
USD (5,10,20) 26106 0 0
USD (50,100) 26135 26149 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80