Cho thuê tài chính khác biệt để thắng, cởi trói để lớn

(TBTCO) - Cho thuê tài chính có tiềm năng lớn, nhưng vẫn “ngủ yên” với thị phần khiêm tốn, khó cạnh tranh về lãi suất so với ngân hàng. Các chuyên gia cho rằng, để bứt phá, lĩnh vực này cần đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng danh mục tài sản cho thuê và tạo khác biệt rõ rệt.
aa
Thị trường cho thuê tài chính “nghẹt thở” vì thiếu cấp phép mới Khai mở dư địa mới ngành cho thuê tài chính Cho thuê tài chính - nhiều ưu điểm song thị trường vẫn ngó lơ "Thức tỉnh" thị trường cho thuê tài chính còn "ngủ quên" trước tiềm năng

Cuộc cạnh tranh khó cân sức với ngân hàng

Trước thực tế tiềm năng thị trường rất lớn, nhưng vẫn “ngủ yên”, PGS.TS Lê Thị Kim Nhung - nguyên Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Thương mại thẳng thắn nhận định: “Các công ty cho thuê tài chính không thể chỉ bán sản phẩm giống ngân hàng”.

Đằng sau câu nói ấy là nỗi trăn trở kéo dài nhiều năm về một lĩnh vực có quá nhiều ưu điểm, nhưng những con số hiện tại cho thấy vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Cho thuê tài chính khác biệt để thắng, cởi trói để lớn
Nhiều chủ doanh nghiệp thường so sánh lãi suất thuê tài chính với lãi suất vay ngân hàng và nếu thấy ngân hàng rẻ hơn, họ sẽ bỏ qua hình thức thuê - Ảnh minh hoạ.

Theo Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, quy mô tài sản, dư nợ cho thuê tài chính tăng trưởng đều đặn các năm, bình quân 14,7%/năm giai đoạn 2021 - 2024. Tuy nhiên, toàn thị trường hiện chỉ khoảng 15.000 hợp đồng từ 8 công ty đang hoạt động. Giả định mỗi hợp đồng là 1 khách hàng, tỷ lệ thâm nhập chỉ đạt 1,5% trên gần 1 triệu doanh nghiệp; tính cả 5,2 triệu hộ kinh doanh, con số này trở nên vô cùng nhỏ bé so với tiềm năng.

Ông Nguyễn Thiều Sơn - Tổng Giám đốc BIDV-SuMi TRUST Leasing (BSL) cũng thừa nhận, dù xuất hiện hơn 20 năm, nhưng đến nay, hoạt động cho thuê tài chính mới bắt đầu có những bước phát triển rõ rệt. Đến hết quý II/2025, tổng dư nợ cho thuê mới khoảng 47.000 tỷ đồng, tương đương 0,28% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng.

"Công ty tài chính không thể chỉ cho vay đơn thuần như ngân hàng, bởi không thể cạnh tranh trực tiếp được ngân hàng. Rõ ràng, chúng ta không có lợi thế về vốn, về chi phí, mà phải có dịch vụ đi kèm như: bảo hiểm và gắn với quá trình bảo trì, bảo dưỡng. Nếu không, sẽ không có những đặc trưng khác biệt, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn sử dụng vốn vay ngân hàng nhiều" - ông Sơn bày tỏ.

Thực tế, nhiều chủ doanh nghiệp thường so sánh lãi suất thuê tài chính với lãi suất vay ngân hàng và nếu thấy ngân hàng rẻ hơn, họ sẽ bỏ qua hình thức thuê. Bởi vay ngắn hạn có lãi suất ban đầu thấp hơn, đơn cử chỉ khoảng 6%/năm tại ngân hàng quốc doanh, còn vay trung dài hạn có lãi suất trên 8% hoặc hơn 10% tại ngân hàng tư nhân.

Trao đổi với phóng viên, nhân viên kinh doanh của một công ty cho thuê tài chính cho biết, lãi suất cho thuê thường nhỉnh hơn so với lãi suất vay ngân hàng, nên khó cạnh tranh về giá. Thay vào đó, công ty hợp tác với nhà phân phối và các nhà máy để thực hiện bảo hành, bảo trì, thậm chí cùng nhà sản xuất đàm phán với nhà cung cấp nhằm mang lại mức giá tốt hơn cho khách hàng. Khi sử dụng dịch vụ, khách hàng còn được hỗ trợ lãi suất.

Vị này cũng nói thêm, các doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn nhằm đầu tư dài hạn sẽ khiến cấu trúc vốn sẽ bị lệch, tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối dòng tiền và nhiều rủi ro. "Thực tế có nhiều trường hợp vay ngắn hạn với lãi suất rẻ để mua máy móc, nhưng nếu xảy ra bất thường, dòng tiền về chậm sẽ gặp khó khăn" - nhân viên này lưu ý.

Không chỉ tiềm ẩn rủi ro lệch kỳ hạn khi đứt gãy dòng tiền, mà còn khiến doanh nghiệp thường xuyên xoay vòng vốn, phụ thuộc vào điều kiện tín dụng và lãi suất lúc đó. Lẽ ra đây phải là “sân chơi” của cho thuê tài chính - hình thức vừa cung cấp vốn trung dài hạn, lại không yêu cầu thế chấp. Thế nhưng, tiềm năng này vẫn còn bỏ ngỏ.

Sớm mở rộng danh mục tài sản cho thuê

Thống kê của Hiệp hội Cho thuê tài chính cũng cho thấy, đối tượng cho thuê tài chính tập trung vào cho thuê ô tô các loại, với dư nợ hơn 9.000 tỷ đồng, tăng trên 8% so với cuối năm 2024; cho thuê máy móc xây dựng, khai khoáng 3.000 tỷ đồng; thiết bị y tế 398 tỷ đồng, tăng 50,7%; Dây chuyền máy sản xuất ở mức ổn định, dư nợ đạt hơn 6.900 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,58%.

Theo ông Lưu Huỳnh - Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Cho thuê Tài chính Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - SBL), những năm gần đây, lĩnh vực cho thuê tài chính nhận được sự quan tâm đáng kể từ Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ban, ngành, mở ra triển vọng phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Tuy nhiên, hiện thị trường chủ yếu tập trung ở 2 mảng chính: máy móc - thiết bị và phương tiện vận chuyển, đáng nói, sản phẩm vẫn còn đơn điệu, cần được đa dạng hóa hơn.

Theo tinh thần Nghị quyết 68/NQ-TW, ông Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính đề nghị xem xét sớm mở rộng loại tài sản có thể cho thuê tài chính, đặc biệt với các loại tài sản như: tài sản số, phần mềm, cơ sở hạ tầng công nghệ, bản quyền trí tuệ, giấy phép, quyền khai thác... Một số công ty hội viên mong muốn Ngân hàng Nhà nước có văn bản giải thích rõ về tàu sông pha biển (VR-SB) còn khá mơ hồ.

Gỡ bỏ hạn chế, xóa bất bình đẳng với doanh nghiệp khác

"Nhìn về dài hạn, chúng tôi đề nghị Ngân hàng Nhà nước không loại trừ 2 loại tài sản là tàu biển và tàu bay chở người khỏi đối tượng tài sản được cho thuê tài chính. Vì thực tế bị khống chế bởi tỷ lệ cấp tín dụng qua cho thuê tài chính không vượt quá 15% vốn tự có, hiện tại công ty lớn nhất 1.500 tỷ đồng thì mức dư nợ cũng chỉ 225 tỷ đồng chưa đủ cho thuê 1 tàu biển, nhất là máy bay, mà phải hợp vốn, như vậy được san sẻ rủi ro và hạn chế rủi ro đạo đức. Hơn nữa, Công ty cổ phần Cho thuê máy bay Việt Nam VALC hoạt động theo Luật Doanh nghiệp bình thường không bị khống chế, điều này gây bất bình đẳng với cho thuê tài chính" - ông Phạm Xuân Hòe đề xuất.

Ông Nguyễn Thiều Sơn cũng đề nghị mở rộng danh mục tài sản cho thuê sang các sản phẩm mới phù hợp với định hướng của Chính phủ và nhu cầu thị trường như: phần mềm, tài sản số, bằng sáng chế... Đồng thời, mở rộng danh mục tài sản cho thuê theo thông lệ quốc tế phổ biến, bao gồm máy bay; tăng hạn mức cho các giao dịch số và sản phẩm giá trị nhỏ, phù hợp với thực tiễn thị trường.

Khi những ưu điểm vượt trội chưa được thấy rõ, khung pháp lý chưa thực sự cởi mở và sản phẩm chưa khác biệt rõ ràng so với ngân hàng, cho thuê tài chính vẫn loay hoay trong “vùng trũng”. Nỗi đau đáu của những người tâm huyết với ngành là làm sao để kênh vốn này thực sự trở thành một động lực, san sẻ vốn tín dụng trung, dài hạn cho ngân hàng và trợ lực cho doanh nghiệp Việt./.

Trước cơ hội bứt phá từ thị trường mới

Từ góc nhìn của cơ quan quản lý, ông Trịnh Quốc Hùng - Trưởng phòng Tổng hợp, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, Thông tư số 26/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 chỉ hạn chế cho thuê tài chính với máy bay chở người và tàu biển, không bao gồm tàu thủy nội địa. Như vậy, ngoài tàu biển theo định nghĩa của Luật Hàng hải, các loại phương tiện khác, kể cả máy bay nhỏ không người lái, đều không bị hạn chế.

"Tới đây, chắc chắn danh mục tài sản sẽ mở rộng hơn nữa để tạo điều kiện cho các công ty tài chính đa dạng hóa các sản phẩm cho thuê, mở rộng hoạt động kinh doanh" - ông Hùng nói và nhấn mạnh, vẫn phải dựa trên nguyên tắc quản lý và kiểm soát rủi ro chặt chẽ.

Theo PGS.TS Lê Thị Kim Nhung, thị trường cho thuê tài chính hiện quy mô nhỏ và bị lãng quên, trong khi tập khách hàng tiềm năng rất rộng, nhưng vẫn “ngủ yên” và chưa trở thành nhu cầu thực sự có khả năng thanh toán. "Cần thiết kế sản phẩm cho thuê tài chính, bên cạnh bản chất cho thuê tài chính là tài trợ vốn, phải có tài trợ phi tài chính đi kèm, từ đó tạo nên tính riêng có và chào bán thế nào để tiếp cận khách hàng" - bà Nhung lưu ý.

Cũng theo bà Nhung, cho thuê tài chính còn nhiều tiềm năng, nằm ở các thiết bị bay không người lái, máy móc cơ giới phục vụ nông nghiệp, hay hợp tác với hãng sản xuất (Honda, VinFast…) khi xu thế xe điện lên ngôi, liên kết với các công ty bảo hiểm để chuyển giao rủi ro vận hành, từ đó, tối ưu hiệu quả khai thác tài sản và mở rộng thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17966 18241 18820
CAD 18122 18397 19017
CHF 31081 31459 32106
CNY 0 3825 3922
EUR 29314 29534 30615
GBP 34177 34568 35505
HKD 0 3179 3381
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14647 15235
SGD 19864 20145 20716
THB 695 759 812
USD (1,2) 25699 0 0
USD (5,10,20) 25738 0 0
USD (50,100) 25766 25780 26150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,755 25,755 26,135
USD(1-2-5) 24,725 - -
USD(10-20) 24,725 - -
EUR 29,335 29,358 30,750
JPY 162.83 163.12 173
GBP 34,326 34,419 35,613
AUD 18,143 18,209 18,900
CAD 18,306 18,365 19,044
CHF 31,333 31,430 32,357
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,790 3,936
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.55 18.3 19.91
THB 742.59 751.76 804.71
NZD 14,635 14,771 15,210
SEK - 2,607 2,701
DKK - 3,934 4,074
NOK - 2,726 2,826
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,938.54 - 6,705.61
TWD 735.4 - 891
SAR - 6,788.41 7,150.9
KWD - 82,221 87,493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,415 29,533 30,730
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,240 31,365 32,300
JPY 163.69 164.35 172.33
AUD 18,155 18,228 18,821
SGD 20,068 20,149 20,742
THB 761 764 800
CAD 18,349 18,423 19,014
NZD 14,717 15,256
KRW 18.26 20.19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18153 18253 19178
CAD 18317 18417 19431
CHF 31333 31363 32941
CNY 3806.2 3831.2 3966.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29495 29525 31248
GBP 34484 34534 36294
HKD 0 3305 0
JPY 163.99 164.49 175.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14767 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20019 20149 20871
THB 0 724.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,230
USD20 25,678 25,828 26,230
USD1 25,658 25,828 26,230
AUD 18,213 18,313 19,419
EUR 29,320 29,420 31,078
CAD 18,289 18,389 19,696
SGD 20,129 20,279 20,835
JPY 164.9 166.4 171.95
GBP 34,414 34,564 35,627
XAU 14,228,000 0 14,532,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/09/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30