Cho thuê tài chính khác biệt để thắng, cởi trói để lớn

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Cho thuê tài chính có tiềm năng lớn, nhưng vẫn “ngủ yên” với thị phần khiêm tốn, khó cạnh tranh về lãi suất so với ngân hàng. Các chuyên gia cho rằng, để bứt phá, lĩnh vực này cần đa dạng hóa sản phẩm, mở rộng danh mục tài sản cho thuê và tạo khác biệt rõ rệt.
aa
Thị trường cho thuê tài chính “nghẹt thở” vì thiếu cấp phép mới Khai mở dư địa mới ngành cho thuê tài chính Cho thuê tài chính - nhiều ưu điểm song thị trường vẫn ngó lơ "Thức tỉnh" thị trường cho thuê tài chính còn "ngủ quên" trước tiềm năng

Cuộc cạnh tranh khó cân sức với ngân hàng

Trước thực tế tiềm năng thị trường rất lớn, nhưng vẫn “ngủ yên”, PGS.TS Lê Thị Kim Nhung - nguyên Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Thương mại thẳng thắn nhận định: “Các công ty cho thuê tài chính không thể chỉ bán sản phẩm giống ngân hàng”.

Đằng sau câu nói ấy là nỗi trăn trở kéo dài nhiều năm về một lĩnh vực có quá nhiều ưu điểm, nhưng những con số hiện tại cho thấy vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.

Cho thuê tài chính khác biệt để thắng, cởi trói để lớn
Nhiều chủ doanh nghiệp thường so sánh lãi suất thuê tài chính với lãi suất vay ngân hàng và nếu thấy ngân hàng rẻ hơn, họ sẽ bỏ qua hình thức thuê - Ảnh minh hoạ.

Theo Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, quy mô tài sản, dư nợ cho thuê tài chính tăng trưởng đều đặn các năm, bình quân 14,7%/năm giai đoạn 2021 - 2024. Tuy nhiên, toàn thị trường hiện chỉ khoảng 15.000 hợp đồng từ 8 công ty đang hoạt động. Giả định mỗi hợp đồng là 1 khách hàng, tỷ lệ thâm nhập chỉ đạt 1,5% trên gần 1 triệu doanh nghiệp; tính cả 5,2 triệu hộ kinh doanh, con số này trở nên vô cùng nhỏ bé so với tiềm năng.

Ông Nguyễn Thiều Sơn - Tổng Giám đốc BIDV-SuMi TRUST Leasing (BSL) cũng thừa nhận, dù xuất hiện hơn 20 năm, nhưng đến nay, hoạt động cho thuê tài chính mới bắt đầu có những bước phát triển rõ rệt. Đến hết quý II/2025, tổng dư nợ cho thuê mới khoảng 47.000 tỷ đồng, tương đương 0,28% tổng dư nợ tín dụng toàn hệ thống ngân hàng.

"Công ty tài chính không thể chỉ cho vay đơn thuần như ngân hàng, bởi không thể cạnh tranh trực tiếp được ngân hàng. Rõ ràng, chúng ta không có lợi thế về vốn, về chi phí, mà phải có dịch vụ đi kèm như: bảo hiểm và gắn với quá trình bảo trì, bảo dưỡng. Nếu không, sẽ không có những đặc trưng khác biệt, đặc biệt trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn sử dụng vốn vay ngân hàng nhiều" - ông Sơn bày tỏ.

Thực tế, nhiều chủ doanh nghiệp thường so sánh lãi suất thuê tài chính với lãi suất vay ngân hàng và nếu thấy ngân hàng rẻ hơn, họ sẽ bỏ qua hình thức thuê. Bởi vay ngắn hạn có lãi suất ban đầu thấp hơn, đơn cử chỉ khoảng 6%/năm tại ngân hàng quốc doanh, còn vay trung dài hạn có lãi suất trên 8% hoặc hơn 10% tại ngân hàng tư nhân.

Trao đổi với phóng viên, nhân viên kinh doanh của một công ty cho thuê tài chính cho biết, lãi suất cho thuê thường nhỉnh hơn so với lãi suất vay ngân hàng, nên khó cạnh tranh về giá. Thay vào đó, công ty hợp tác với nhà phân phối và các nhà máy để thực hiện bảo hành, bảo trì, thậm chí cùng nhà sản xuất đàm phán với nhà cung cấp nhằm mang lại mức giá tốt hơn cho khách hàng. Khi sử dụng dịch vụ, khách hàng còn được hỗ trợ lãi suất.

Vị này cũng nói thêm, các doanh nghiệp vay vốn ngắn hạn nhằm đầu tư dài hạn sẽ khiến cấu trúc vốn sẽ bị lệch, tiềm ẩn nguy cơ mất cân đối dòng tiền và nhiều rủi ro. "Thực tế có nhiều trường hợp vay ngắn hạn với lãi suất rẻ để mua máy móc, nhưng nếu xảy ra bất thường, dòng tiền về chậm sẽ gặp khó khăn" - nhân viên này lưu ý.

Không chỉ tiềm ẩn rủi ro lệch kỳ hạn khi đứt gãy dòng tiền, mà còn khiến doanh nghiệp thường xuyên xoay vòng vốn, phụ thuộc vào điều kiện tín dụng và lãi suất lúc đó. Lẽ ra đây phải là “sân chơi” của cho thuê tài chính - hình thức vừa cung cấp vốn trung dài hạn, lại không yêu cầu thế chấp. Thế nhưng, tiềm năng này vẫn còn bỏ ngỏ.

Sớm mở rộng danh mục tài sản cho thuê

Thống kê của Hiệp hội Cho thuê tài chính cũng cho thấy, đối tượng cho thuê tài chính tập trung vào cho thuê ô tô các loại, với dư nợ hơn 9.000 tỷ đồng, tăng trên 8% so với cuối năm 2024; cho thuê máy móc xây dựng, khai khoáng 3.000 tỷ đồng; thiết bị y tế 398 tỷ đồng, tăng 50,7%; Dây chuyền máy sản xuất ở mức ổn định, dư nợ đạt hơn 6.900 tỷ đồng, giảm nhẹ 0,58%.

Theo ông Lưu Huỳnh - Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Cho thuê Tài chính Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank - SBL), những năm gần đây, lĩnh vực cho thuê tài chính nhận được sự quan tâm đáng kể từ Ngân hàng Nhà nước và các bộ, ban, ngành, mở ra triển vọng phát triển mạnh mẽ trong thời gian tới. Tuy nhiên, hiện thị trường chủ yếu tập trung ở 2 mảng chính: máy móc - thiết bị và phương tiện vận chuyển, đáng nói, sản phẩm vẫn còn đơn điệu, cần được đa dạng hóa hơn.

Theo tinh thần Nghị quyết 68/NQ-TW, ông Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê tài chính đề nghị xem xét sớm mở rộng loại tài sản có thể cho thuê tài chính, đặc biệt với các loại tài sản như: tài sản số, phần mềm, cơ sở hạ tầng công nghệ, bản quyền trí tuệ, giấy phép, quyền khai thác... Một số công ty hội viên mong muốn Ngân hàng Nhà nước có văn bản giải thích rõ về tàu sông pha biển (VR-SB) còn khá mơ hồ.

Gỡ bỏ hạn chế, xóa bất bình đẳng với doanh nghiệp khác

"Nhìn về dài hạn, chúng tôi đề nghị Ngân hàng Nhà nước không loại trừ 2 loại tài sản là tàu biển và tàu bay chở người khỏi đối tượng tài sản được cho thuê tài chính. Vì thực tế bị khống chế bởi tỷ lệ cấp tín dụng qua cho thuê tài chính không vượt quá 15% vốn tự có, hiện tại công ty lớn nhất 1.500 tỷ đồng thì mức dư nợ cũng chỉ 225 tỷ đồng chưa đủ cho thuê 1 tàu biển, nhất là máy bay, mà phải hợp vốn, như vậy được san sẻ rủi ro và hạn chế rủi ro đạo đức. Hơn nữa, Công ty cổ phần Cho thuê máy bay Việt Nam VALC hoạt động theo Luật Doanh nghiệp bình thường không bị khống chế, điều này gây bất bình đẳng với cho thuê tài chính" - ông Phạm Xuân Hòe đề xuất.

Ông Nguyễn Thiều Sơn cũng đề nghị mở rộng danh mục tài sản cho thuê sang các sản phẩm mới phù hợp với định hướng của Chính phủ và nhu cầu thị trường như: phần mềm, tài sản số, bằng sáng chế... Đồng thời, mở rộng danh mục tài sản cho thuê theo thông lệ quốc tế phổ biến, bao gồm máy bay; tăng hạn mức cho các giao dịch số và sản phẩm giá trị nhỏ, phù hợp với thực tiễn thị trường.

Khi những ưu điểm vượt trội chưa được thấy rõ, khung pháp lý chưa thực sự cởi mở và sản phẩm chưa khác biệt rõ ràng so với ngân hàng, cho thuê tài chính vẫn loay hoay trong “vùng trũng”. Nỗi đau đáu của những người tâm huyết với ngành là làm sao để kênh vốn này thực sự trở thành một động lực, san sẻ vốn tín dụng trung, dài hạn cho ngân hàng và trợ lực cho doanh nghiệp Việt./.

Trước cơ hội bứt phá từ thị trường mới

Từ góc nhìn của cơ quan quản lý, ông Trịnh Quốc Hùng - Trưởng phòng Tổng hợp, Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) cho biết, Thông tư số 26/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 chỉ hạn chế cho thuê tài chính với máy bay chở người và tàu biển, không bao gồm tàu thủy nội địa. Như vậy, ngoài tàu biển theo định nghĩa của Luật Hàng hải, các loại phương tiện khác, kể cả máy bay nhỏ không người lái, đều không bị hạn chế.

"Tới đây, chắc chắn danh mục tài sản sẽ mở rộng hơn nữa để tạo điều kiện cho các công ty tài chính đa dạng hóa các sản phẩm cho thuê, mở rộng hoạt động kinh doanh" - ông Hùng nói và nhấn mạnh, vẫn phải dựa trên nguyên tắc quản lý và kiểm soát rủi ro chặt chẽ.

Theo PGS.TS Lê Thị Kim Nhung, thị trường cho thuê tài chính hiện quy mô nhỏ và bị lãng quên, trong khi tập khách hàng tiềm năng rất rộng, nhưng vẫn “ngủ yên” và chưa trở thành nhu cầu thực sự có khả năng thanh toán. "Cần thiết kế sản phẩm cho thuê tài chính, bên cạnh bản chất cho thuê tài chính là tài trợ vốn, phải có tài trợ phi tài chính đi kèm, từ đó tạo nên tính riêng có và chào bán thế nào để tiếp cận khách hàng" - bà Nhung lưu ý.

Cũng theo bà Nhung, cho thuê tài chính còn nhiều tiềm năng, nằm ở các thiết bị bay không người lái, máy móc cơ giới phục vụ nông nghiệp, hay hợp tác với hãng sản xuất (Honda, VinFast…) khi xu thế xe điện lên ngôi, liên kết với các công ty bảo hiểm để chuyển giao rủi ro vận hành, từ đó, tối ưu hiệu quả khai thác tài sản và mở rộng thị trường./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

Mức đóng và hưởng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế điều chỉnh theo lương cơ sở mới thế nào?

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, mức lương cơ sở được điều chỉnh từ 2.340.000 đồng/tháng lên 2.530.000 đồng/tháng. Việc điều chỉnh này không chỉ tác động đến tiền lương, phụ cấp của cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang, mà còn là căn cứ để tính một số khoản đóng, mức hưởng trong chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật.
Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

BIDV phát hành gần 500 triệu cổ phiếu, nâng vốn điều lệ lên sát 78.000 tỷ đồng

(TBTCO) - BIDV vừa phê duyệt phương án phát hành hơn 498 triệu cổ phiếu để tăng vốn điều lệ thêm gần 4.982 tỷ đồng từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 77.782 tỷ đồng, tức tăng 6,8433%. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh BIDV cần củng cố hệ số CAR, đáp ứng lộ trình triển khai Basel III và tạo dư địa mở rộng tín dụng.
Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,940 16,240
Kim TT/AVPL 15,940 16,240
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,940 16,240
Nguyên Liệu 99.99 14,890 15,090
Nguyên Liệu 99.9 14,840 15,040
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,690 16,090
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,640 16,040
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,570 16,020
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,400 162,400
Hà Nội - PNJ 159,400 162,400
Đà Nẵng - PNJ 159,400 162,400
Miền Tây - PNJ 159,400 162,400
Tây Nguyên - PNJ 159,400 162,400
Đông Nam Bộ - PNJ 159,400 162,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,940 16,240
Miếng SJC Nghệ An 15,940 16,240
Miếng SJC Thái Bình 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,940 16,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,940 16,240
NL 99.90 14,600
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650
Trang sức 99.9 15,430 16,130
Trang sức 99.99 15,440 16,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,594 16,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,594 16,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,589 1,619
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,589 162
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,569 1,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 152,312 158,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,562 120,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,333 109,233
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,104 98,004
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,773 93,673
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,143 67,043
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,594 1,624
Cập nhật: 22/05/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18279 18555 19130
CAD 18612 18889 19511
CHF 32876 33261 33915
CNY 0 3837 3929
EUR 30020 30293 31321
GBP 34640 35033 35959
HKD 0 3234 3436
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15162 15753
SGD 20077 20359 20884
THB 723 786 839
USD (1,2) 26095 0 0
USD (5,10,20) 26137 0 0
USD (50,100) 26165 26180 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,201 30,225 31,484
JPY 161.69 161.98 170.76
GBP 34,874 34,968 35,968
AUD 18,470 18,537 19,124
CAD 18,849 18,910 19,493
CHF 33,165 33,268 34,052
SGD 20,227 20,290 20,972
CNY - 3,811 3,934
HKD 3,307 3,317 3,436
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 771.86 781.39 831.25
NZD 15,140 15,281 15,645
SEK - 2,780 2,861
DKK - 4,041 4,160
NOK - 2,801 2,884
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,223.64 - 6,985.42
TWD 756.56 - 911.22
SAR - 6,925.36 7,252.09
KWD - 83,849 88,699
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26203 26203 26391
AUD 18452 18552 19478
CAD 18793 18893 19907
CHF 33110 33140 34715
CNY 3816.9 3841.9 3977.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30194 30224 31947
GBP 34917 34967 36728
HKD 0 3355 0
JPY 162.3 162.8 173.35
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15266 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 752.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,191 26,241 26,391
USD20 26,191 26,241 26,391
USD1 26,191 26,241 26,391
AUD 18,472 18,572 19,684
EUR 30,310 30,310 31,719
CAD 18,735 18,835 20,143
SGD 20,301 20,451 21,360
JPY 162.79 164.29 168.83
GBP 34,811 35,161 36,033
XAU 15,948,000 0 16,242,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/05/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80