Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/12: Thanh khoản hụt “oxy”, lãi suất liên ngân hàng áp sát 7,5%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/12 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng nhiều kỳ hạn tiến sát 7,5%, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn, dấu hiệu thị trường thiếu “oxy”. Tiếp đà bơm ròng 35.317,15 tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước có hàng loạt động thái mới khi nâng lãi suất OMO lên 4,5%; triển khai công cụ hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn 14 ngày nhằm hỗ trợ thanh khoản hệ thống giai đoạn cao điểm, khi "mặt trận" tỷ giá nguội bớt.
aa
Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ Sức ép gia tăng, lãi suất “khéo co thì ấm” Tín dụng vào giai đoạn "nước rút", ngân hàng nhận diện bài toán rủi ro năm tới

Bơm ròng 35.000 tỷ đồng khi lãi suất liên ngân hàng sát 7,5%

Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 1/12 đến ngày 5/12 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục xu hướng tăng ở hầu hết các kỳ hạn. Ngày 4/12, lãi suất qua đêm tăng mạnh nhất, thêm 1,48% so với cuối tuần trước lên 6,88%, cao nhất kể từ tháng 5/2023 đến nay.

Cùng với đó, các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần tăng lần lượt 1,10% và 1,14% lên lần lượt 6,92% và 7,22%. Kỳ hạn 1 tháng ghi nhận mức tăng 1,49% lên 7,16%. Trong khi đó, kỳ hạn 3 tháng tăng nhẹ 0,43% nhưng với mức lãi suất cao nhất, lên tới 7,34%. Diễn biến này phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn tăng cao vào đầu tháng và trạng thái thanh khoản hệ thống đang có dấu hiệu phân hóa.

Thị trường tiền tệ tuần  1 - 5/12: Thanh khoản hụt “oxy”, lãi suất liên ngân hàng áp sát 7,5%
Ảnh minh hoạ

Trên thị trường mở, tuần qua ghi nhận quy mô bơm vốn mạnh, với 115.759,91 tỷ đồng trúng thầu ở các kỳ hạn 7, 14, 28 và 91 ngày, lãi suất bật tăng lên 4,5% trong hai phiên cuối tuần.

Ở chiều ngược lại, có 80.442,76 tỷ đồng đáo hạn trên kênh cầm cố, đưa lượng vốn OMO lưu hành lên 366.082,41 tỷ đồng, tiếp tục ở vùng đỉnh mới.

Lãi suất liên ngân hàng tuần qua tiếp tục tăng mạnh, nhiều kỳ hạn tiến sát 7,5%, trong khi lãi suất qua đêm vọt lên 6,88%, mức cao nhất từ tháng 5/2023, phản ánh áp lực thanh khoản gia tăng. Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 35.317,15 tỷ đồng, mở rộng kỳ hạn OMO. Hàng loạt động thái mới từ nhà điều hành cũng được ghi nhận như: triển khai hoán đổi ngoại tệ 14 ngày để hỗ trợ hệ thống. Việc lãi suất OMO lên 4,5% cũng cho thấy mặt bằng lãi suất mới được thiết lập.

Tính chung, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 35.317,15 tỷ đồng trong tuần, nối tiếp đà bơm ròng mạnh gần 74.000 tỷ đồng tuần trước, qua đó, duy trì mặt bằng thanh khoản ổn định nhằm hỗ trợ nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.

Theo giới quan sát, lãi suất qua đêm bất ngờ bật lên quanh 7% không phải mức tăng nhẹ theo mùa, mà là tín hiệu rõ ràng cho thấy hệ thống ngân hàng đang thực sự thiếu hụt thanh khoản ngắn hạn. Lãi qua đêm chiếm tới 90% giao dịch trên thị trường liên ngân hàng; khi lãi suất vọt lên, nghĩa các ngân hàng buộc phải vay nóng với chi phí rất cao chỉ để đảm bảo dòng tiền.

Nguyên nhân nằm ở sự lệch pha lớn giữa tín dụng và huy động. Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối tháng 9/2025, tiền gửi của khách hàng cá nhân và tổ chức kinh tế đạt gần 16,18 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 9,8% so với cuối năm 2024. Trong khi đó, tín dụng cùng thời điểm tăng khoảng 13,37%, cho thấy tăng trưởng tín dụng đang vượt khá xa so với tăng trưởng tiền gửi. Tính đến cuối tháng 10, tín dụng đã tăng 14,77%.

Nhiều ngân hàng trong hệ thống cho vay nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ huy động. Bên cạnh những ngân hàng “kẹt room”, vẫn có ngân hàng dư dả. Vào cuối năm, khi doanh nghiệp giải ngân mạnh, các dự án cần vốn chạy nước rút, dòng tiền ra nhanh khiến thanh khoản cục bộ bị kéo căng.

Tăng kỳ hạn OMO, tung công cụ hoán đổi ngoại tệ

Trong bối cảnh thanh khoản thị trường 2 đang căng lên mức hiếm thấy, với lãi suất liên ngân hàng nhiều phiên sát 7,5%, Ngân hàng Nhà nước buộc phải can thiệp liên tục để tránh tình trạng “thiếu oxy” trên thị trường. Về kỳ hạn, bình thường OMO chỉ có kỳ hạn 7 - 14 ngày, nhưng thời điểm này kỳ hạn được kéo dài lên 91 ngày, thậm chí 105 ngày, cho thấy nhà điều hành muốn giữ thanh khoản ổn định trong nhiều tháng, tránh tình trạng bơm - hút giật cục.

Thị trường tiền tệ tuần  1 - 5/12: Thanh khoản hụt “oxy”, lãi suất liên ngân hàng áp sát 7,5%

Cùng với đó, việc lãi suất OMO tăng lên 4,5% cho thấy một mặt bằng lãi suất mới đã được nhà điều hành chấp nhận, khác với giai đoạn trước khi mục tiêu hạ lãi suất bằng mọi giá được ưu tiên. Dù lãi suất nhích thêm có thể gây áp lực lên một số đối tượng, nhưng ngược lại cũng mang đến nhiều tác dụng tích cực. Lãi suất cao hơn giúp hạn chế dòng vốn vay nóng đổ vào tài sản rủi ro, góp phần lành mạnh hóa thị trường; ổn định tỷ giá, giảm áp lực tâm lý lên người dân.

Mặt khác, dù Ngân hàng Nhà nước liên tục bơm tiền qua OMO, đưa dư nợ OMO vượt mốc 350 nghìn tỷ đồng, mức cao kỷ lục. Tuy nhiên, điều đáng nói, OMO tồn tại hạn chế, đó là để vay được, ngân hàng cần có trái phiếu Chính phủ làm tài sản bảo đảm. Trong khi đó, tổng lượng trái phiếu Chính phủ của toàn hệ thống chỉ khoảng 800 nghìn tỷ đồng, theo ước tính hiện đã được sử dụng hơn 50%, làm giảm dư địa hỗ trợ thanh khoản.

Vì vậy, một động thái đáng chú ý tuần qua là Ngân hàng Nhà nước vừa thông báo triển khai can thiệp thông qua hoán đổi ngoại tệ kỳ hạn 14 ngày. Khác với các lần trước chủ yếu sử dụng biện pháp bán USD kỳ hạn, lần này Ngân hàng Nhà nước chỉ thực hiện hoán đổi, có thể xem như một công cụ điều tiết hoàn toàn mới. Điểm khác biệt quan trọng là với cơ chế hoán đổi này, các ngân hàng không cần dùng trái phiếu Chính phủ làm tài sản bảo đảm khi vay VND, mà có thể dùng ngay nguồn USD huy động từ doanh nghiệp.

Sự xuất hiện của công cụ này cho thấy mức độ căng thẳng thanh khoản liên ngân hàng đang căng thẳng, đồng thời lý giải vì sao lãi suất trên thị trường tăng mạnh trong thời gian gần đây. Trong ngắn hạn, áp lực căng thanh khoản được dự báo sẽ còn kéo dài đến hết tháng 12/2025 trước khi có thể hạ nhiệt.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty Chứng Khoán Yuanta Việt Nam, dù Ngân hàng Nhà nước đã gia tăng thanh khoản ngắn hạn qua kênh OMO, nguồn vốn trên thị trường vẫn chưa theo kịp nhu cầu vay. Theo đó, lãi suất huy động có thể tiếp tục tăng trong tháng 12, đồng thời tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất cho vay trong năm 2026 khi biên lãi ròng đối mặt nguy cơ thu hẹp./.

Tỷ giá “nguội” bớt, USD tự do rơi mạnh gần 500 đồng

Cũng trong tuần qua, tỷ giá "nguội" bớt trên hầu hết "mặt trận". Theo đó, ngày 5/12, Ngân hàng Nhà nước niêm yết tỷ giá trung tâm ở 25.151 VND/USD, tuần qua biên độ dao động cũng rất hẹp. Kết tuần, tỷ giá trung tâm giảm tổng cộng 4 đồng sau 4 tuần nhích tăng.

Tỷ giá tự do tuần qua giảm rất mạnh 450 đồng chiều mua và 470 đồng chiều bán, xuống còn 27.200 - 27.260 VND/USD. Khoảng cách giữa tỷ giá tự do và ngân hàng giảm đáng kể, cho thấy áp lực đầu cơ hạ nhiệt đáng kể. Trên thị trường ngân hàng, BIDV niêm yết tỷ giá USD ở mức 26.168 - 26.408 VND/USD, giảm tới 24 đồng ở chiều mua và 4 đồng ở chiều bán. Diễn biến này đồng tốc với chỉ số DXY suy yếu tuần qua, rời xa mốc 100 điểm, xuống còn 98,96 điểm.

Trong khi đó, tỷ giá đồng EUR và GBP tiếp tục xu hướng tăng mạnh, khi tỷ giá EUR tăng 142 - 172 đồng lên 30.327 - 31.527 VND/EUR; tỷ giá GBP tăng 262 - 304 đồng, lên 34.791 - 35.731 VND/GBP. Đồng JPY tăng nhẹ khoảng 2 đồng, còn CNY tăng 3 - 5 đồng, duy trì mức phục hồi ổn định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

Tỷ giá USD hôm nay (4/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ sau nghỉ lễ, DXY quanh 98 điểm chờ đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.112 đồng sau kỳ nghỉ lễ, tỷ giá USD tự do lùi 60 đồng. DXY đầu tuần quanh 98,17 điểm, trong bối cảnh USD chịu áp lực trước khả năng Nhật Bản can thiệp tỷ giá, tuần này, thị trường tập trung vào đàm phán Mỹ - Iran và dữ liệu việc làm Mỹ.
Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (2/5): Tỷ giá đi ngang dịp lễ, DXY phục hồi sau nhịp rơi dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 2/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng do kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Còn DXY chốt tuần ở 98,23 điểm, tăng 0,17% sau nhịp giảm dưới 98 điểm, song vẫn thấp hơn 0,72% so với tuần trước. Đồng USD chịu áp lực từ tín hiệu hạ nhiệt xung đột Mỹ - Iran và ước tính Nhật Bản dùng 34,5 tỷ USD hỗ trợ đồng yên, song triển vọng vẫn tích cực nhờ lập trường chính sách của Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

Tỷ giá USD hôm nay (1/5): USD tự do lùi nhẹ, DXY giữ nhịp dù tỷ giá USD/JPY lao dốc 3% sau can thiệp của Nhật Bản

(TBTCO) - Sáng ngày 1/5, tỷ giá trung tâm giữ ở 25.113 đồng trong kỳ nghỉ lễ, trong khi USD tự do lùi nhẹ 10 đồng còn 26.740 - 26.790 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY lên 98,17 điểm, USD tăng so với nhiều đồng tiền nhưng vẫn thấp hơn phiên trước. Đáng chú ý, Nhật Bản can thiệp tỷ giá khiến tỷ giá USD/JPY giảm gần 3% trong một phiên, song sức mạnh USD vẫn duy trì do áp lực từ giá dầu và rủi ro địa chính trị.
Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (30/4): Tỷ giá đi ngang dịp nghỉ lễ, Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 3 liên tiếp

(TBTCO) - Sáng ngày 30/4, tỷ giá trung tâm niêm yết ở mức 25.113 đồng, giữ nguyên phiên trước do đang kỳ nghỉ lễ. Trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY giảm nhẹ còn 98,84 điểm sau nhịp tăng trước đó, trong bối cảnh Fed tiếp tục giữ nguyên lãi suất 3,5 - 3,75% trong cuộc họp thứ 3 liên tiếp, khi rủi ro địa chính trị và áp lực lạm phát vẫn hiện hữu trên thị trường toàn cầu.
Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (29/4): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, WB cảnh báo áp lực giá năng lượng và lạm phát gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 29/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ lên 25.113 đồng, kéo biên độ giao dịch USD tại ngân hàng lên 23.857,35 - 26.368,65 VND/USD, trong khi USD thị trường tự do neo quanh 26.750 - 26.800 đồng. DXY lùi về 98,6 điểm, giá dầu hạ nhiệt sau thông tin UAE rời OPEC nhưng vẫn nhạy cảm trước rủi ro địa chính trị, khi WB cảnh báo giá năng lượng có thể tăng 24% trong năm 2026, kéo theo áp lực lạm phát gia tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (28/4): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD tự do tăng mạnh 100 đồng sau chuỗi giảm

Tỷ giá USD hôm nay (28/4): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD tự do tăng mạnh 100 đồng sau chuỗi giảm

(TBTCO) - Sáng ngày 28/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 2 đồng so với phiên gần nhất, qua đó, biên độ giao dịch tại các ngân hàng giảm còn 23.855,45 - 26.366,55 VND/USD, trong khi thị trường tự do bật tăng mạnh 100 đồng hai chiều. Trên thị trường quốc tế, DXY nhích lên 98,52 điểm, tăng 0,03%, song xu hướng vẫn thận trọng trước diễn biến địa chính trị và kỳ vọng chính sách từ Fed.
Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

Tỷ giá USD hôm nay (27/4): Trong nước đi ngang, USD nhích tăng khi thị trường chờ tín hiệu chính sách

(TBTCO) - Sáng ngày 27/4, tỷ giá trung tâm phiên đầu tuần ở mức 25.113 đồng, đi ngang do trùng kỳ nghỉ lễ, trong khi DXY nhích tăng nhẹ lên 98,61 điểm. Đồng USD tăng nhẹ khi đàm phán Mỹ - Iran chưa tiến triển, làm dấy lên lo ngại lạm phát và khiến kỳ vọng Fed cắt giảm lãi suất năm 2026 suy yếu, trong bối cảnh thị trường chờ loạt dữ liệu và quyết sách quan trọng tuần này.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Kim TT/AVPL 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 15,400 ▲150K 15,600 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 15,350 ▲150K 15,550 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,200 ▲150K 16,600 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,150 ▲150K 16,550 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,080 ▲150K 16,530 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 164,000 ▲1000K 167,000 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,450 ▲150K 16,750 ▲150K
NL 99.90 14,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000
Trang sức 99.9 15,940 ▲150K 16,640 ▲150K
Trang sức 99.99 15,950 ▲150K 16,650 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Cập nhật: 07/05/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18562 18839 19420
CAD 18776 19054 19668
CHF 33175 33561 34211
CNY 0 3827 3919
EUR 30329 30603 31631
GBP 35021 35415 36349
HKD 0 3228 3430
JPY 161 165 171
KRW 0 17 18
NZD 0 15416 16004
SGD 20238 20522 21050
THB 733 797 850
USD (1,2) 26044 0 0
USD (5,10,20) 26085 0 0
USD (50,100) 26114 26133 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,118 26,118 26,368
USD(1-2-5) 25,074 - -
USD(10-20) 25,074 - -
EUR 30,463 30,487 31,784
JPY 164.05 164.35 173.39
GBP 35,213 35,308 36,345
AUD 18,756 18,824 19,438
CAD 18,978 19,039 19,643
CHF 33,436 33,540 34,348
SGD 20,369 20,432 21,131
CNY - 3,801 3,927
HKD 3,300 3,310 3,431
KRW 16.72 17.44 18.88
THB 777.92 787.53 839.47
NZD 15,373 15,516 15,898
SEK - 2,804 2,890
DKK - 4,077 4,199
NOK - 2,787 2,872
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,306.02 - 7,085.34
TWD 758.86 - 914.71
SAR - 6,911.29 7,242.98
KWD - 83,791 88,706
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,360 30,482 31,665
GBP 35,154 35,295 36,308
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,196 33,329 34,276
JPY 164.47 165.13 172.67
AUD 18,687 18,762 19,359
SGD 20,398 20,480 21,068
THB 795 798 833
CAD 18,953 19,029 19,607
NZD 15,419 15,955
KRW 17.37 19.11
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26214 26214 26368
AUD 18738 18838 19766
CAD 18956 19056 20071
CHF 33425 33455 35038
CNY 3807.2 3832.2 3967.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30520 30550 32275
GBP 35324 35374 37131
HKD 0 3355 0
JPY 164.7 165.2 175.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15513 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20397 20527 21255
THB 0 762.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16450000 16450000 16750000
SBJ 14000000 14000000 16750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,138 26,188 26,368
USD20 26,138 26,188 26,368
USD1 26,138 26,188 26,368
AUD 18,802 18,902 20,011
EUR 30,654 30,654 32,063
CAD 18,904 19,004 20,315
SGD 20,479 20,629 21,193
JPY 165.34 166.84 171.38
GBP 35,229 35,579 36,696
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/05/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80