Tín dụng vào giai đoạn "nước rút", ngân hàng nhận diện bài toán rủi ro năm tới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng đang bước vào giai đoạn "nước rút" cuối năm, tập trung nhiều hơn vào việc sàng lọc lại các khách hàng có chất lượng tín dụng tốt và tạo nền tảng bước vào năm 2026. Các ngân hàng cũng đặt yêu cầu kiểm soát rủi ro và chuẩn bị cho các sức ép từ tỷ giá, lãi suất, nợ xấu và sức nóng từ tăng trưởng tín dụng bất động sản... lên hàng đầu.
aa
Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn" Room tín dụng "kẹt" cuối năm, ngân hàng rầm rập tăng lãi suất Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Tín dụng tăng tốc nhưng được “lọc kỹ”

Chia sẻ gần đây về triển vọng ngành ngân hàng giai đoạn cuối năm 2025 và năm 2026, ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB đưa ra hai góc nhìn. Ở góc nhìn tích cực, ông Phát cho rằng, tín dụng đã tăng trưởng khá tốt trong 9 tháng 2025 và vượt trội so với các năm liền trước. Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đến quý III đạt khoảng 13,4%. Tỷ giá được kiểm soát khá tốt khi mức tăng chỉ dưới 4%, trong khi nợ xấu có xu hướng được kiểm soát.

"ACB năm nay có thể đạt tăng trưởng tín dụng khoảng 18%, ở mức trung bình của ngành và sẽ tiếp tục duy trì động lực tăng trưởng, nhưng sẽ luôn chú trọng quản lý rủi ro, không tăng quá nóng những lĩnh vực có thể gây rủi ro trong trong tương lai".

Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB

"Có thể tăng trưởng tín dụng toàn ngành khoảng 18 - 20%, tuy nhiên, cũng thấy được những thách thức lớn phía trước đối với ngành ngân hàng" - ông Phát đánh giá.

Cùng chung quan điểm, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị Vietinbank dự kiến cả năm 2025, toàn ngành có thể đạt mức tăng trưởng tín dụng 19 - 20%. Đây cũng là một trong những mức tăng trưởng tín dụng cao nhất nhiều năm vừa qua.

"Có thể nói là tín dụng ngân hàng cũng là một trong những động lực đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP theo định hướng của Chính phủ" - bà Hoài nhấn mạnh.

Tín dụng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng GDP
Tín dụng vào giai đoạn "nước rút", ngân hàng nhận diện bài toán rủi ro năm tới. Ảnh minh hoạ.

Theo lãnh đạo Vietinbank, ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cấp room tín dụng khoảng 17% và hiện đang tăng trưởng tín dụng, tiệm cận con số này. Về cơ bản, giai đoạn hiện nay khi tốc độ tăng trưởng tín dụng khá cao, ngân hàng đang tập trung nhiều hơn vào việc sàng lọc lại các khách hàng có chất lượng tín dụng tốt, có nhu cầu tăng trưởng thực tiễn và bền vững, đặc biệt làm nền tảng bước sang năm 2026.

Cũng theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), tăng trưởng tín dụng dự kiến cả năm sẽ đạt trên 18%, dù Ngân hàng Nhà nước đang kiểm soát chặt chẽ hạn mức tăng trưởng tín dụng mới.

Cầu tín dụng tiếp đà phục hồi, đến từ doanh nghiệp sau giai đoạn thắt chặt đang mở rộng sản xuất kinh doanh, đặc biệt ở các ngành xuất khẩu, bán lẻ, logistics, năng lượng, bất động sản khu công nghiệp…, làm nhu cầu vốn lưu động tăng mạnh.

Năm 2026, lãnh đạo Vietinbank dự kiến tăng trưởng tín dụng có thể đạt 16 - 18% và các ngân hàng cơ bản vẫn tập trung vào các ngành nghề như: thương mại, dịch vụ, sản xuất và bất động sản. Trong đó, dự kiến với các ngân hàng cho vay doanh nghiệp hoặc cho vay liên quan đến lĩnh vực bất động sản chắc chắn sẽ có xu hướng tăng cao. Với những ngân hàng có thế mạnh về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, nông nghiệp ưu tiên như: nhóm Big 4, Agribank hay ACB... nhiều khả năng sẽ tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng.

Nhận diện rõ thách thức

Tín dụng được dự báo tiếp đà tăng mạnh, phản ánh nhu cầu vốn phục hồi, nhưng năm tới ngành ngân hàng vẫn đối mặt nhiều thách thức cần sớm nhận diện.

Ông Từ Tiến Phát dự báo, năm 2026, ngành ngân hàng được dự báo sẽ đối mặt với nhiều thách thức mới, bao gồm các vấn đề liên quan đến tỷ giá, lạm phát và lãi suất.

Theo đó, thứ nhất, vấn đề tỷ giá, vốn đang chịu tác động từ cả yếu tố bên ngoài và bên trong, trong khi dư địa điều hành không còn nhiều, cũng nhiều vất vả cho hệ thống ngân hàng để giữ tỷ giá ổn định.

Thứ hai, xu hướng lãi suất. Gần đây, lãi suất huy động bắt đầu tăng và lãi suất cho vay cũng nhích lên. Xu thế này có thể mạnh lên trong năm 2026, gây ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng, đặc biệt là biên lãi ròng (NIM). Thực tế cho thấy, NIM toàn ngành có xu hướng đi ngang hoặc giảm tại một số ngân hàng, với mức độ cạnh tranh gay gắt ở cả huy động và cho vay, NIM có khả năng giảm nhẹ thời gian tới.

Đối với nợ xấu, dù được kiểm soát tốt thời gian qua, lãnh đạo ACB nhận định, khó khăn của một số doanh nghiệp và khách hàng cá nhân có thể khiến nợ xấu tăng trở lại.

Tín dụng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng GDP
Tốc độ tăng trưởng tín dụng qua các năm. Ảnh tư liệu.

Liên quan đến vấn đề hấp thụ vốn của nền kinh tế, theo ông Phát, dù tăng trưởng tín dụng từ đầu năm đến nay tương đối tốt và đạt mức khá ấn tượng so với nhiều năm, nhưng cơ cấu tăng trưởng lại cho thấy tín dụng vào bất động sản tăng nhanh hơn, trên 20%, trong khi các hoạt động khác chỉ tăng trưởng trung bình. Điều này tạo ra sự chênh lệch giữa đầu tư và sản xuất kinh doanh, làm lộ rõ rủi ro.

Cùng chung quan điểm, lãnh đạo Vietinbank cho rằng, dự kiến với nhu cầu tín dụng tăng cao, trong bối cảnh mặt bằng bất động sản cũng khá cao. Vì vậy, thời gian tới, các ngân hàng bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cũng sẽ đặt mục tiêu cao về quản lý rủi ro đối với cho vay bất động sản, cả với doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng.

Làm rõ tác động của mặt bằng lãi suất lên hoạt động ngân hàng thời gian tới, theo bà Nguyễn Huyền Trang - Phó trưởng Phòng Kế hoạch và Quản trị Tài chính - Khối Tài chính của Vietinbank cho biết, trong quý III/2025, nhiều ngân hàng, đặc biệt là khối ngân hàng thương mại cổ phần đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở một số kỳ hạn. Mặt bằng lãi suất huy động của Vietinbank một số kỳ hạn cũng có xu hướng tăng nhẹ trong quý III so với 6 tháng đầu năm.

Dự báo lãi suất thời gian tới, theo bà Trang, lãi suất được dự báo chịu tác động mạnh từ các yếu tố trong và ngoài nước, đặc biệt là chính sách của Mỹ, vốn ảnh hưởng sâu rộng đến cán cân thương mại, tỷ giá và lãi suất. Trong hai tháng vừa qua, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã hai lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND. Tuy nhiên, lãi suất VND đã duy trì ở mức thấp thời gian dài, do đó, dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ không còn nhiều.

"Thời gian tới, Fed được kỳ vọng tiếp tục giảm lãi suất trong kỳ họp tháng 12 và quý I/2026. Nếu Fed thực hiện thêm các đợt cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn, Ngân hàng Nhà nước sẽ có thêm dư địa điều hành lãi suất, bao gồm cả lãi suất điều hành, để hỗ trợ đà tăng trưởng kinh tế năm 2026" - đại diện Vietinbank nhìn nhận./.

Áp lực đẩy lãi suất

Tăng trưởng huy động vốn dù cải thiện so với các năm trước nhưng vẫn chậm hơn đáng kể so với tín dụng, chênh lệch giữa dư nợ và tiền gửi nới rộng lên 1,6 triệu tỷ đồng; tỷ lệ dư nợ/huy động (LDR) của nhiều ngân hàng tiệm cận ngưỡng, hoặc vượt ngưỡng tối đa 85% cuối quý III/2025. Hệ quả là các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động.

Trong báo cáo công bố giữa tháng 11/2025, theo nhóm phân tích Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính nhóm Ngân hàng Doanh nghiệp và Định chế Tài chính thuộc Techcombank, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của nhóm 8 ngân hàng cổ phần lớn tăng 34 điểm cơ bản năm nay và còn dư địa tăng thêm khoảng 6 - 10 điểm cơ bản đến cuối năm.

Sang năm 2026, với mục tiêu tăng trưởng cao hơn năm nay (10% so với 8%), nhóm phân tích chỉ dự báo tăng trưởng kinh tế khoảng 7,8%, nhưng tăng trưởng tín dụng tiếp tục ở mức cao. Việc tín dụng tiếp tục đà tăng trưởng nhanh hơn huy động trong năm 2026, cũng sẽ khiến lãi suất huy động tiếp tục tăng khoảng 50 điểm cơ bản trong kịch bản cơ sở./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

Tỷ giá USD hôm nay (23/6): Tỷ giá trung tâm lên 25.189 đồng, thị trường nâng cược Fed tăng lãi suất 2 lần

(TBTCO) - Sáng 23/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.189 đồng, tăng 6 đồng so với phiên trước. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,23% lên 100,99 điểm khi thị trường gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ, xác suất Fed tăng lãi suất ít nhất 02 lần trong năm nay đã lên tới 58,5%.
Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

Nhập siêu kéo dài, tỷ giá USD/VND vẫn “đứng vững” nhưng lãi suất khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Dù nhập siêu lên tới 16,8 tỷ USD, tỷ giá USD/VND vẫn ổn định, tỷ giá trung tâm mới tăng 0,25%, nhờ dòng vốn FDI, kiều hối và chênh lệch lãi suất hỗ trợ dòng ngoại tệ quay trở lại thị trường. Tuy nhiên, áp lực thanh khoản vẫn hiện hữu, chi phí vốn ở mức cao và mục tiêu ổn định tỷ giá sẽ tiếp tục khiến mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

Tỷ giá USD hôm nay (20/6): USD tự do tăng gần 300 đồng tuần qua, kỳ vọng Fed tăng lãi suất đẩy DXY lên cao

(TBTCO) - Sáng 20/6, tỷ giá trung tâm ở mức 25.181 đồng, tăng 26 đồng trong tuần và ghi nhận tuần tăng thứ sáu liên tiếp, lên cao nhất kể từ đầu tháng 10/2025. Trong khi đó, DXY chốt tuần tại 100,76 điểm, tăng 1,01%, nhờ kỳ vọng Fed nâng lãi suất trước cuối năm, còn ECB vẫn để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (17/6): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh 9 tháng, thị trường chờ quyết định lãi suất từ Fed

(TBTCO) - Sáng 17/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.175 đồng/USD, tăng 10 đồng và lên mức cao nhất 9 tháng qua; tỷ giá USD tự do tăng 40 đồng. Dù chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 99,51 điểm, tâm điểm thị trường đang hướng về các cuộc họp chính sách của Fed và nhiều ngân hàng trung ương lớn, trong bối cảnh BoJ nâng lãi suất lên cao nhất 31 năm.
Tỷ giá USD hôm nay (16/6): Tỷ giá trung tâm đứng yên, DXY suy yếu trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (16/6): Tỷ giá trung tâm đứng yên, DXY suy yếu trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 16/6, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.165 đồng; trong khi tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.300 - 26.320 VND/USD, thấp hơn tỷ giá ngân hàng. Chỉ số DXY ở mức 99,63 điểm khi đồng USD suy yếu, giữa lúc thị trường chờ cuộc họp của Fed và đón nhận thông tin Mỹ - Iran hướng tới chấm dứt xung đột.
Tỷ giá USD hôm nay (15/6): Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, DXY suy yếu sau tín hiệu kết thúc xung đột Mỹ - Iran gần 4 tháng

Tỷ giá USD hôm nay (15/6): Tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, DXY suy yếu sau tín hiệu kết thúc xung đột Mỹ - Iran gần 4 tháng

(TBTCO) - Sáng 15/6, tỷ giá trung tâm công bố ở mức 25.165 đồng, tăng 10 đồng so với cuối tuần trước. Trong khi đó, tỷ giá USD tự do phổ biến quanh 26.300 - 26.320 VND/USD, tăng 50 - 60 đồng hai chiều. DXY suy yếu hiện ở mức 99,57 điểm, giảm 0,18%, sau thông tin Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận nhằm chấm dứt xung đột kéo dài gần 4 tháng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,500
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,000
Hà Nội - PNJ 144,000 147,000
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,000
Miền Tây - PNJ 144,000 147,000
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,000
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 14,700
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,890 14,590
Trang sức 99.99 13,900 14,600
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 24/06/2026 07:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17745 18018 18595
CAD 18019 18294 18913
CHF 31839 32220 32876
CNY 0 3838 3932
EUR 29376 29596 30680
GBP 33989 34379 35327
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14652 15240
SGD 19778 20060 20629
THB 708 771 825
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26448
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,448
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 29,581 29,605 30,943
JPY 158.49 158.78 167.98
GBP 34,232 34,325 35,426
AUD 17,979 18,044 18,680
CAD 18,225 18,284 18,913
CHF 32,164 32,264 33,133
SGD 19,920 19,982 20,719
CNY - 3,811 3,947
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.76 16.44 17.84
THB 756.9 766.25 817.94
NZD 14,652 14,788 15,193
SEK - 2,684 2,772
DKK - 3,958 4,087
NOK - 2,657 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,940.34 - 6,690.03
TWD 750.56 - 907.1
SAR - 6,898.04 7,248.34
KWD - 83,341 88,465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,108 26,128 26,448
EUR 29,513 29,632 30,813
GBP 34,234 34,371 35,383
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 31,999 32,128 33,022
JPY 158.78 159.42 167.22
AUD 18,045 18,117 18,707
SGD 19,998 20,078 20,657
THB 779 782 816
CAD 18,251 18,324 18,884
NZD 0 14,761 15,293
KRW 0 16.41 17.98
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26132 26132 26448
AUD 17956 18056 18982
CAD 18204 18304 19318
CHF 32079 32109 33695
CNY 3819.7 3844.7 3980
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29572 29602 31327
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3355 0
JPY 159.56 160.06 170.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14777 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19937 20067 20798
THB 0 739 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,151 26,201 26,448
USD20 26,151 26,201 26,448
USD1 26,151 26,201 26,448
AUD 18,077 18,177 19,285
EUR 29,780 29,780 31,188
CAD 18,184 18,284 19,588
SGD 20,044 20,194 20,757
JPY 159.91 161.41 165.97
GBP 34,257 34,607 35,703
XAU 14,498,000 0 14,802,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 778 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/06/2026 07:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80