Tín dụng vào giai đoạn "nước rút", ngân hàng nhận diện bài toán rủi ro năm tới

(TBTCO) - Tín dụng đang bước vào giai đoạn "nước rút" cuối năm, tập trung nhiều hơn vào việc sàng lọc lại các khách hàng có chất lượng tín dụng tốt và tạo nền tảng bước vào năm 2026. Các ngân hàng cũng đặt yêu cầu kiểm soát rủi ro và chuẩn bị cho các sức ép từ tỷ giá, lãi suất, nợ xấu và sức nóng từ tăng trưởng tín dụng bất động sản... lên hàng đầu.
aa
Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn" Room tín dụng "kẹt" cuối năm, ngân hàng rầm rập tăng lãi suất Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Tín dụng tăng tốc nhưng được “lọc kỹ”

Chia sẻ gần đây về triển vọng ngành ngân hàng giai đoạn cuối năm 2025 và năm 2026, ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB đưa ra hai góc nhìn. Ở góc nhìn tích cực, ông Phát cho rằng, tín dụng đã tăng trưởng khá tốt trong 9 tháng 2025 và vượt trội so với các năm liền trước. Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đến quý III đạt khoảng 13,4%. Tỷ giá được kiểm soát khá tốt khi mức tăng chỉ dưới 4%, trong khi nợ xấu có xu hướng được kiểm soát.

"ACB năm nay có thể đạt tăng trưởng tín dụng khoảng 18%, ở mức trung bình của ngành và sẽ tiếp tục duy trì động lực tăng trưởng, nhưng sẽ luôn chú trọng quản lý rủi ro, không tăng quá nóng những lĩnh vực có thể gây rủi ro trong trong tương lai".

Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB

"Có thể tăng trưởng tín dụng toàn ngành khoảng 18 - 20%, tuy nhiên, cũng thấy được những thách thức lớn phía trước đối với ngành ngân hàng" - ông Phát đánh giá.

Cùng chung quan điểm, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị Vietinbank dự kiến cả năm 2025, toàn ngành có thể đạt mức tăng trưởng tín dụng 19 - 20%. Đây cũng là một trong những mức tăng trưởng tín dụng cao nhất nhiều năm vừa qua.

"Có thể nói là tín dụng ngân hàng cũng là một trong những động lực đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP theo định hướng của Chính phủ" - bà Hoài nhấn mạnh.

Tín dụng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng GDP
Tín dụng vào giai đoạn "nước rút", ngân hàng nhận diện bài toán rủi ro năm tới. Ảnh minh hoạ.

Theo lãnh đạo Vietinbank, ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cấp room tín dụng khoảng 17% và hiện đang tăng trưởng tín dụng, tiệm cận con số này. Về cơ bản, giai đoạn hiện nay khi tốc độ tăng trưởng tín dụng khá cao, ngân hàng đang tập trung nhiều hơn vào việc sàng lọc lại các khách hàng có chất lượng tín dụng tốt, có nhu cầu tăng trưởng thực tiễn và bền vững, đặc biệt làm nền tảng bước sang năm 2026.

Cũng theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), tăng trưởng tín dụng dự kiến cả năm sẽ đạt trên 18%, dù Ngân hàng Nhà nước đang kiểm soát chặt chẽ hạn mức tăng trưởng tín dụng mới.

Cầu tín dụng tiếp đà phục hồi, đến từ doanh nghiệp sau giai đoạn thắt chặt đang mở rộng sản xuất kinh doanh, đặc biệt ở các ngành xuất khẩu, bán lẻ, logistics, năng lượng, bất động sản khu công nghiệp…, làm nhu cầu vốn lưu động tăng mạnh.

Năm 2026, lãnh đạo Vietinbank dự kiến tăng trưởng tín dụng có thể đạt 16 - 18% và các ngân hàng cơ bản vẫn tập trung vào các ngành nghề như: thương mại, dịch vụ, sản xuất và bất động sản. Trong đó, dự kiến với các ngân hàng cho vay doanh nghiệp hoặc cho vay liên quan đến lĩnh vực bất động sản chắc chắn sẽ có xu hướng tăng cao. Với những ngân hàng có thế mạnh về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, nông nghiệp ưu tiên như: nhóm Big 4, Agribank hay ACB... nhiều khả năng sẽ tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng.

Nhận diện rõ thách thức

Tín dụng được dự báo tiếp đà tăng mạnh, phản ánh nhu cầu vốn phục hồi, nhưng năm tới ngành ngân hàng vẫn đối mặt nhiều thách thức cần sớm nhận diện.

Ông Từ Tiến Phát dự báo, năm 2026, ngành ngân hàng được dự báo sẽ đối mặt với nhiều thách thức mới, bao gồm các vấn đề liên quan đến tỷ giá, lạm phát và lãi suất.

Theo đó, thứ nhất, vấn đề tỷ giá, vốn đang chịu tác động từ cả yếu tố bên ngoài và bên trong, trong khi dư địa điều hành không còn nhiều, cũng nhiều vất vả cho hệ thống ngân hàng để giữ tỷ giá ổn định.

Thứ hai, xu hướng lãi suất. Gần đây, lãi suất huy động bắt đầu tăng và lãi suất cho vay cũng nhích lên. Xu thế này có thể mạnh lên trong năm 2026, gây ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng, đặc biệt là biên lãi ròng (NIM). Thực tế cho thấy, NIM toàn ngành có xu hướng đi ngang hoặc giảm tại một số ngân hàng, với mức độ cạnh tranh gay gắt ở cả huy động và cho vay, NIM có khả năng giảm nhẹ thời gian tới.

Đối với nợ xấu, dù được kiểm soát tốt thời gian qua, lãnh đạo ACB nhận định, khó khăn của một số doanh nghiệp và khách hàng cá nhân có thể khiến nợ xấu tăng trở lại.

Tín dụng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng GDP
Tốc độ tăng trưởng tín dụng qua các năm. Ảnh tư liệu.

Liên quan đến vấn đề hấp thụ vốn của nền kinh tế, theo ông Phát, dù tăng trưởng tín dụng từ đầu năm đến nay tương đối tốt và đạt mức khá ấn tượng so với nhiều năm, nhưng cơ cấu tăng trưởng lại cho thấy tín dụng vào bất động sản tăng nhanh hơn, trên 20%, trong khi các hoạt động khác chỉ tăng trưởng trung bình. Điều này tạo ra sự chênh lệch giữa đầu tư và sản xuất kinh doanh, làm lộ rõ rủi ro.

Cùng chung quan điểm, lãnh đạo Vietinbank cho rằng, dự kiến với nhu cầu tín dụng tăng cao, trong bối cảnh mặt bằng bất động sản cũng khá cao. Vì vậy, thời gian tới, các ngân hàng bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cũng sẽ đặt mục tiêu cao về quản lý rủi ro đối với cho vay bất động sản, cả với doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng.

Làm rõ tác động của mặt bằng lãi suất lên hoạt động ngân hàng thời gian tới, theo bà Nguyễn Huyền Trang - Phó trưởng Phòng Kế hoạch và Quản trị Tài chính - Khối Tài chính của Vietinbank cho biết, trong quý III/2025, nhiều ngân hàng, đặc biệt là khối ngân hàng thương mại cổ phần đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở một số kỳ hạn. Mặt bằng lãi suất huy động của Vietinbank một số kỳ hạn cũng có xu hướng tăng nhẹ trong quý III so với 6 tháng đầu năm.

Dự báo lãi suất thời gian tới, theo bà Trang, lãi suất được dự báo chịu tác động mạnh từ các yếu tố trong và ngoài nước, đặc biệt là chính sách của Mỹ, vốn ảnh hưởng sâu rộng đến cán cân thương mại, tỷ giá và lãi suất. Trong hai tháng vừa qua, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã hai lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND. Tuy nhiên, lãi suất VND đã duy trì ở mức thấp thời gian dài, do đó, dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ không còn nhiều.

"Thời gian tới, Fed được kỳ vọng tiếp tục giảm lãi suất trong kỳ họp tháng 12 và quý I/2026. Nếu Fed thực hiện thêm các đợt cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn, Ngân hàng Nhà nước sẽ có thêm dư địa điều hành lãi suất, bao gồm cả lãi suất điều hành, để hỗ trợ đà tăng trưởng kinh tế năm 2026" - đại diện Vietinbank nhìn nhận./.

Áp lực đẩy lãi suất

Tăng trưởng huy động vốn dù cải thiện so với các năm trước nhưng vẫn chậm hơn đáng kể so với tín dụng, chênh lệch giữa dư nợ và tiền gửi nới rộng lên 1,6 triệu tỷ đồng; tỷ lệ dư nợ/huy động (LDR) của nhiều ngân hàng tiệm cận ngưỡng, hoặc vượt ngưỡng tối đa 85% cuối quý III/2025. Hệ quả là các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động.

Trong báo cáo công bố giữa tháng 11/2025, theo nhóm phân tích Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính nhóm Ngân hàng Doanh nghiệp và Định chế Tài chính thuộc Techcombank, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của nhóm 8 ngân hàng cổ phần lớn tăng 34 điểm cơ bản năm nay và còn dư địa tăng thêm khoảng 6 - 10 điểm cơ bản đến cuối năm.

Sang năm 2026, với mục tiêu tăng trưởng cao hơn năm nay (10% so với 8%), nhóm phân tích chỉ dự báo tăng trưởng kinh tế khoảng 7,8%, nhưng tăng trưởng tín dụng tiếp tục ở mức cao. Việc tín dụng tiếp tục đà tăng trưởng nhanh hơn huy động trong năm 2026, cũng sẽ khiến lãi suất huy động tiếp tục tăng khoảng 50 điểm cơ bản trong kịch bản cơ sở./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

Tỷ giá USD hôm nay (3/10): USD biến động hẹp, việc làm Mỹ suy yếu khiến Fed khó tăng lãi suất tháng 10

(TBTCO) - Sáng 3/10, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên 25.636 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do biến động hẹp. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,91 điểm, tăng 0,93% dù hạ nhiệt phiên cuối tuần. Dữ liệu PCE và việc làm Mỹ suy yếu kéo xác suất Fed tăng lãi suất tháng 10 từ khoảng 70% xuống 21,59%, qua đó giảm áp lực lên USD.
Tỷ giá USD hôm nay (2/10): USD đồng loạt tăng, DXY lên cao nhất từ cuối tháng 3/2025 trước dữ liệu việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (2/10): USD đồng loạt tăng, DXY lên cao nhất từ cuối tháng 3/2025 trước dữ liệu việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 2/10, tỷ giá trung tâm tăng 12 đồng lên 25.636 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên. Chỉ số DXY bật tăng 0,57% lên 102,04 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025. Giới đầu tư đang chờ báo cáo việc làm tháng 9 của Mỹ để tìm tín hiệu chính sách của Fed, khi kỳ vọng tăng lãi suất tháng 10 suy giảm.
Tỷ giá USD hôm nay (1/10): Tỷ giá trung tâm nối dài đà giảm, dữ liệu lạm phát Mỹ đẩy lùi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (1/10): Tỷ giá trung tâm nối dài đà giảm, dữ liệu lạm phát Mỹ đẩy lùi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 1/10, tỷ giá trung tâm tiếp đà giảm 3 đồng xuống 25.624 đồng, tỷ giá tại ngân hàng cũng đi xuống. Chỉ số DXY nhích lên 101,48 điểm. Dữ liệu lạm phát Mỹ thấp hơn dự báo khiến thị trường lùi kỳ vọng Fed tăng lãi suất từ tháng 10 sang tháng 12, trong khi căng thẳng Trung Đông và bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ tiếp tục được chú ý.
Tỷ giá USD hôm nay (30/9): Tỷ giá trung tâm giảm, DXY tiến sát đỉnh hai tháng khi thị trường chờ PCE Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (30/9): Tỷ giá trung tâm giảm, DXY tiến sát đỉnh hai tháng khi thị trường chờ PCE Mỹ

(TBTCO) - Sáng 30/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 3 đồng so với phiên trước, trong khi USD tại các ngân hàng diễn biến trái chiều. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,2% lên 101,38 điểm, tiến sát mức cao nhất kể từ cuối tháng 7. Thị trường đang chờ loạt dữ liệu kinh tế Mỹ, đáng chú ý là báo cáo việc làm và chỉ số PCE.
Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (29/9): USD “lặng sóng” trong nước, thị trường dõi theo khả năng Úc và Ấn Độ tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 29/9, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.630 đồng, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do đi ngang. Chỉ số DXY nhích nhẹ 0,02% lên 101,21 điểm, duy trì vùng cao hai tháng. Thị trường hướng sự chú ý tới các quyết định chính sách sắp tới, khi kỳ vọng ngân hàng trung ương Ấn Độ và Úc đều tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Tỷ giá USD hôm nay (28/9): DXY giữ trên 101 điểm, USD chờ “phép thử” từ dữ liệu lao động Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (28/9): DXY giữ trên 101 điểm, USD chờ “phép thử” từ dữ liệu lao động Mỹ

(TBTCO) - Sáng 28/9, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng, xuống 25.632 đồng/USD, trong khi USD tại ngân hàng và thị trường tự do diễn biến phân hóa. DXY mở đầu tuần nhích 0,09%, lên 101,13 điểm. Tuần này, thị trường tập trung vào dữ liệu lao động, sản xuất của Mỹ và phát biểu của quan chức Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), giữa kỳ vọng Fed tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản vào cuối tháng 10.
Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

Thị trường tiền tệ tuần 21 - 25/9: Lãi suất qua đêm rơi về 1% khi mở mạnh “van” thanh khoản, tỷ giá vẫn dè chừng Fed

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 21 - 25/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 34.329 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần kéo lãi suất qua đêm xuống 1,1%/năm. Trong khi đó, tỷ giá thu hẹp nhịp tăng dù chỉ số DXY vẫn quanh 101 điểm, khi thị trường thận trọng trước khả năng Fed tiếp tục tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,000 143,000
Hà Nội - PNJ 140,000 143,000
Đà Nẵng - PNJ 140,000 143,000
Miền Tây - PNJ 140,000 143,000
Tây Nguyên - PNJ 140,000 143,000
Đông Nam Bộ - PNJ 140,000 143,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,320
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,600 14,200
Trang sức 99.99 13,610 14,210
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 07/10/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17577 17849 18426
CAD 17674 17948 18565
CHF 30616 30992 31642
CNY 0 3834 3930
EUR 28591 28809 29889
GBP 33618 34006 34954
HKD 0 3181 3383
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14250 14840
SGD 19788 20069 20641
THB 688 752 805
USD (1,2) 25726 0 0
USD (5,10,20) 25765 0 0
USD (50,100) 25793 25807 26177
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,629 28,652 30,010
JPY 159.81 160.1 169.76
GBP 33,786 33,877 35,050
AUD 17,778 17,842 18,518
CAD 17,869 17,926 18,585
CHF 30,867 30,963 31,879
SGD 19,905 19,967 20,749
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.88 18.65 20.29
THB 737.03 746.13 798.9
NZD 14,242 14,374 14,800
SEK - 2,550 2,640
DKK - 3,840 3,976
NOK - 2,662 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.83 - 6,709.75
TWD 738.01 - 894.13
SAR - 6,805.35 7,168.56
KWD - 82,070 87,330
AED - 6,820 7,349
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 28,677 28,792 29,998
GBP 33,786 33,922 34,954
HKD 3,247 3,260 3,377
CHF 30,780 30,904 31,849
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,804 17,875 18,473
SGD 19,983 20,063 20,659
THB 753 756 793
CAD 17,910 17,982 18,578
NZD 14,322 14,878
KRW 18.70 20.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25781 25811 26171
AUD 17761 17861 18786
CAD 17859 17959 18974
CHF 30862 30892 32465
CNY 3816.6 3841.6 3976.7
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28769 28799 30522
GBP 33907 33957 35715
HKD 0 3315 0
JPY 160.75 161.25 171.76
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14363 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19946 20076 20799
THB 0 717.6 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Cập nhật: 07/10/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30