Tín dụng vào giai đoạn "nước rút", ngân hàng nhận diện bài toán rủi ro năm tới

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng đang bước vào giai đoạn "nước rút" cuối năm, tập trung nhiều hơn vào việc sàng lọc lại các khách hàng có chất lượng tín dụng tốt và tạo nền tảng bước vào năm 2026. Các ngân hàng cũng đặt yêu cầu kiểm soát rủi ro và chuẩn bị cho các sức ép từ tỷ giá, lãi suất, nợ xấu và sức nóng từ tăng trưởng tín dụng bất động sản... lên hàng đầu.
aa
Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn" Room tín dụng "kẹt" cuối năm, ngân hàng rầm rập tăng lãi suất Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ

Tín dụng tăng tốc nhưng được “lọc kỹ”

Chia sẻ gần đây về triển vọng ngành ngân hàng giai đoạn cuối năm 2025 và năm 2026, ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB đưa ra hai góc nhìn. Ở góc nhìn tích cực, ông Phát cho rằng, tín dụng đã tăng trưởng khá tốt trong 9 tháng 2025 và vượt trội so với các năm liền trước. Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đến quý III đạt khoảng 13,4%. Tỷ giá được kiểm soát khá tốt khi mức tăng chỉ dưới 4%, trong khi nợ xấu có xu hướng được kiểm soát.

"ACB năm nay có thể đạt tăng trưởng tín dụng khoảng 18%, ở mức trung bình của ngành và sẽ tiếp tục duy trì động lực tăng trưởng, nhưng sẽ luôn chú trọng quản lý rủi ro, không tăng quá nóng những lĩnh vực có thể gây rủi ro trong trong tương lai".

Ông Từ Tiến Phát - Tổng Giám đốc ACB

"Có thể tăng trưởng tín dụng toàn ngành khoảng 18 - 20%, tuy nhiên, cũng thấy được những thách thức lớn phía trước đối với ngành ngân hàng" - ông Phát đánh giá.

Cùng chung quan điểm, bà Phạm Thị Thanh Hoài - Thành viên Hội đồng quản trị Vietinbank dự kiến cả năm 2025, toàn ngành có thể đạt mức tăng trưởng tín dụng 19 - 20%. Đây cũng là một trong những mức tăng trưởng tín dụng cao nhất nhiều năm vừa qua.

"Có thể nói là tín dụng ngân hàng cũng là một trong những động lực đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP theo định hướng của Chính phủ" - bà Hoài nhấn mạnh.

Tín dụng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng GDP
Tín dụng vào giai đoạn "nước rút", ngân hàng nhận diện bài toán rủi ro năm tới. Ảnh minh hoạ.

Theo lãnh đạo Vietinbank, ngân hàng được Ngân hàng Nhà nước cấp room tín dụng khoảng 17% và hiện đang tăng trưởng tín dụng, tiệm cận con số này. Về cơ bản, giai đoạn hiện nay khi tốc độ tăng trưởng tín dụng khá cao, ngân hàng đang tập trung nhiều hơn vào việc sàng lọc lại các khách hàng có chất lượng tín dụng tốt, có nhu cầu tăng trưởng thực tiễn và bền vững, đặc biệt làm nền tảng bước sang năm 2026.

Cũng theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), tăng trưởng tín dụng dự kiến cả năm sẽ đạt trên 18%, dù Ngân hàng Nhà nước đang kiểm soát chặt chẽ hạn mức tăng trưởng tín dụng mới.

Cầu tín dụng tiếp đà phục hồi, đến từ doanh nghiệp sau giai đoạn thắt chặt đang mở rộng sản xuất kinh doanh, đặc biệt ở các ngành xuất khẩu, bán lẻ, logistics, năng lượng, bất động sản khu công nghiệp…, làm nhu cầu vốn lưu động tăng mạnh.

Năm 2026, lãnh đạo Vietinbank dự kiến tăng trưởng tín dụng có thể đạt 16 - 18% và các ngân hàng cơ bản vẫn tập trung vào các ngành nghề như: thương mại, dịch vụ, sản xuất và bất động sản. Trong đó, dự kiến với các ngân hàng cho vay doanh nghiệp hoặc cho vay liên quan đến lĩnh vực bất động sản chắc chắn sẽ có xu hướng tăng cao. Với những ngân hàng có thế mạnh về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, nông nghiệp ưu tiên như: nhóm Big 4, Agribank hay ACB... nhiều khả năng sẽ tiếp tục đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng.

Nhận diện rõ thách thức

Tín dụng được dự báo tiếp đà tăng mạnh, phản ánh nhu cầu vốn phục hồi, nhưng năm tới ngành ngân hàng vẫn đối mặt nhiều thách thức cần sớm nhận diện.

Ông Từ Tiến Phát dự báo, năm 2026, ngành ngân hàng được dự báo sẽ đối mặt với nhiều thách thức mới, bao gồm các vấn đề liên quan đến tỷ giá, lạm phát và lãi suất.

Theo đó, thứ nhất, vấn đề tỷ giá, vốn đang chịu tác động từ cả yếu tố bên ngoài và bên trong, trong khi dư địa điều hành không còn nhiều, cũng nhiều vất vả cho hệ thống ngân hàng để giữ tỷ giá ổn định.

Thứ hai, xu hướng lãi suất. Gần đây, lãi suất huy động bắt đầu tăng và lãi suất cho vay cũng nhích lên. Xu thế này có thể mạnh lên trong năm 2026, gây ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng, đặc biệt là biên lãi ròng (NIM). Thực tế cho thấy, NIM toàn ngành có xu hướng đi ngang hoặc giảm tại một số ngân hàng, với mức độ cạnh tranh gay gắt ở cả huy động và cho vay, NIM có khả năng giảm nhẹ thời gian tới.

Đối với nợ xấu, dù được kiểm soát tốt thời gian qua, lãnh đạo ACB nhận định, khó khăn của một số doanh nghiệp và khách hàng cá nhân có thể khiến nợ xấu tăng trở lại.

Tín dụng tiếp tục dẫn dắt tăng trưởng GDP
Tốc độ tăng trưởng tín dụng qua các năm. Ảnh tư liệu.

Liên quan đến vấn đề hấp thụ vốn của nền kinh tế, theo ông Phát, dù tăng trưởng tín dụng từ đầu năm đến nay tương đối tốt và đạt mức khá ấn tượng so với nhiều năm, nhưng cơ cấu tăng trưởng lại cho thấy tín dụng vào bất động sản tăng nhanh hơn, trên 20%, trong khi các hoạt động khác chỉ tăng trưởng trung bình. Điều này tạo ra sự chênh lệch giữa đầu tư và sản xuất kinh doanh, làm lộ rõ rủi ro.

Cùng chung quan điểm, lãnh đạo Vietinbank cho rằng, dự kiến với nhu cầu tín dụng tăng cao, trong bối cảnh mặt bằng bất động sản cũng khá cao. Vì vậy, thời gian tới, các ngân hàng bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cũng sẽ đặt mục tiêu cao về quản lý rủi ro đối với cho vay bất động sản, cả với doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng.

Làm rõ tác động của mặt bằng lãi suất lên hoạt động ngân hàng thời gian tới, theo bà Nguyễn Huyền Trang - Phó trưởng Phòng Kế hoạch và Quản trị Tài chính - Khối Tài chính của Vietinbank cho biết, trong quý III/2025, nhiều ngân hàng, đặc biệt là khối ngân hàng thương mại cổ phần đã điều chỉnh tăng lãi suất huy động ở một số kỳ hạn. Mặt bằng lãi suất huy động của Vietinbank một số kỳ hạn cũng có xu hướng tăng nhẹ trong quý III so với 6 tháng đầu năm.

Dự báo lãi suất thời gian tới, theo bà Trang, lãi suất được dự báo chịu tác động mạnh từ các yếu tố trong và ngoài nước, đặc biệt là chính sách của Mỹ, vốn ảnh hưởng sâu rộng đến cán cân thương mại, tỷ giá và lãi suất. Trong hai tháng vừa qua, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đã hai lần điều chỉnh giảm lãi suất điều hành, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND. Tuy nhiên, lãi suất VND đã duy trì ở mức thấp thời gian dài, do đó, dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ không còn nhiều.

"Thời gian tới, Fed được kỳ vọng tiếp tục giảm lãi suất trong kỳ họp tháng 12 và quý I/2026. Nếu Fed thực hiện thêm các đợt cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn, Ngân hàng Nhà nước sẽ có thêm dư địa điều hành lãi suất, bao gồm cả lãi suất điều hành, để hỗ trợ đà tăng trưởng kinh tế năm 2026" - đại diện Vietinbank nhìn nhận./.

Áp lực đẩy lãi suất

Tăng trưởng huy động vốn dù cải thiện so với các năm trước nhưng vẫn chậm hơn đáng kể so với tín dụng, chênh lệch giữa dư nợ và tiền gửi nới rộng lên 1,6 triệu tỷ đồng; tỷ lệ dư nợ/huy động (LDR) của nhiều ngân hàng tiệm cận ngưỡng, hoặc vượt ngưỡng tối đa 85% cuối quý III/2025. Hệ quả là các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động.

Trong báo cáo công bố giữa tháng 11/2025, theo nhóm phân tích Bộ phận Phân tích Kinh tế và Thị trường Tài chính nhóm Ngân hàng Doanh nghiệp và Định chế Tài chính thuộc Techcombank, lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của nhóm 8 ngân hàng cổ phần lớn tăng 34 điểm cơ bản năm nay và còn dư địa tăng thêm khoảng 6 - 10 điểm cơ bản đến cuối năm.

Sang năm 2026, với mục tiêu tăng trưởng cao hơn năm nay (10% so với 8%), nhóm phân tích chỉ dự báo tăng trưởng kinh tế khoảng 7,8%, nhưng tăng trưởng tín dụng tiếp tục ở mức cao. Việc tín dụng tiếp tục đà tăng trưởng nhanh hơn huy động trong năm 2026, cũng sẽ khiến lãi suất huy động tiếp tục tăng khoảng 50 điểm cơ bản trong kịch bản cơ sở./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

Tỷ giá USD hôm nay (15/8): USD tự do giảm sâu 2.000 đồng từ đỉnh, thị trường chờ tín hiệu từ biên bản FOMC

(TBTCO) - Sáng 15/8, tỷ giá trung tâm ở mức 25.561 đồng, tăng 98 đồng trong tuần, đẩy tỷ giá trần lên 26.839 đồng, trong khi USD tự do lùi xuống vùng thấp nhất khoảng 1,5 năm, giảm 2.130 đồng từ đỉnh. Còn chỉ số DXY giảm 0,33%, chốt tuần ở 99,63 điểm khi bán lẻ Mỹ suy yếu, gây áp lực lên đồng USD. Tuần tới, tâm điểm thị trường chuyển sang biên bản cuộc họp tháng 7 của FOMC.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (14/8): Tỷ giá trung tâm giảm, PPI Mỹ thấp hơn dự báo kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 14/8, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.561 đồng/USD sau chuỗi phiên tăng mạnh, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại đi lên. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 99,92 điểm, khi chỉ số giá sản xuất (PPI) tháng 7 của Mỹ đi ngang và thấp hơn dự báo, nối tiếp CPI hạ nhiệt, gây sức ép lên đồng USD và kéo giảm kỳ vọng Fed tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

(TBTCO) - Sáng 13/8, tỷ giá USD diễn biến trái chiều. Tỷ giá trung tâm tăng 27 đồng lên 25.566 đồng/USD, USD tự do tăng tới 200 đồng, lên 25.950 - 25.990 VND/USD, trong khi nhiều ngân hàng lại điều chỉnh giảm đáng kể. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,17% lên 99,85 điểm, dù tình hình lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt, làm giảm kỳ vọng Fed mạnh tay tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

(TBTCO) - Sáng 12/8, tỷ giá trung tâm tăng 23 đồng lên 25.539 đồng, trong khi tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng vẫn chưa dứt xu hướng điều chỉnh giảm. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,02% lên 99,84 điểm, giá dầu tăng khơi lại lo ngại lạm phát, đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ đi lên và gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt, trái chiều với tín hiệu từ báo cáo việc làm yếu.
Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

Tỷ giá USD hôm nay (11/8): Tỷ giá trung tâm vượt 25.500 đồng, đồng Yên chịu áp lực dù can thiệp quy mô kỷ lục

(TBTCO) - Sáng 11/8, tỷ giá trung tâm tăng 25 đồng, lên 25.516 đồng/USD, lần đầu vượt 25.500 đồng, kéo tỷ giá trần lên sát 26.792 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng nhẹ lên 99,8 điểm, trong khi đồng Yên tiếp tục chịu áp lực giảm giá dù Nhật Bản can thiệp kỷ lục, khi chênh lệch lãi suất Mỹ - Nhật vẫn là yếu tố chi phối.
Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

Tỷ giá USD hôm nay (10/8): Tỷ giá trung tâm tiếp tục leo dốc, USD chờ tín hiệu mới từ CPI Mỹ tháng 7

(TBTCO) - Sáng 10/8, tỷ giá trung tâm tăng 28 đồng, lên 25.491 đồng/USD, song giá bán USD tại ngân hàng vẫn thấp hơn trần gần 400 đồng. Trên thị trường tự do, USD giảm mạnh 170 đồng, xuống 25.800 - 25.830 VND/USD. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng 0,13% lên 99,66 điểm. Tuần này, CPI tháng 7 của Mỹ sẽ là chất xúc tác quan trọng đối với đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

(TBTCO) - Sáng 8/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục lập đỉnh lịch sử mới tại 25.463 đồng, tăng 125 đồng chỉ sau một tuần. Trái chiều, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng đồng loạt giảm, còn chỉ số DXY lùi về mức thấp nhất 7 tuần còn 99,6 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực sau khi kinh tế Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm trong tháng 7 và Nhật Bản can thiệp hỗ trợ đồng yên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 142,600
Hà Nội - PNJ 139,100 142,600
Đà Nẵng - PNJ 139,100 142,600
Miền Tây - PNJ 139,100 142,600
Tây Nguyên - PNJ 139,100 142,600
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 142,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 14,320
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,630 14,230
Trang sức 99.99 13,640 14,240
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 1,407
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 139,307
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 105,686
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 95,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 85,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 82,186
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 58,828
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 20/08/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 20/08/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80