Room tín dụng "kẹt" cuối năm, ngân hàng rầm rập tăng lãi suất

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng toàn hệ thống dự kiến tăng 16% đến cuối tháng 11/2025, mức cao nhất trong 10 năm, nhưng Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa nới hạn mức cho các ngân hàng như thông lệ. Thanh khoản căng kéo tỷ lệ dư tín dụng trên vốn huy động (LDR) của nhiều ngân hàng lớn áp sát trần, buộc các ngân hàng dừng ưu đãi tín dụng và rầm rập nâng lãi suất huy động lẫn cho vay, khiến áp lực vốn cuối năm gia tăng rõ rệt.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 11/2025 Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn"

Tín dụng tăng 16%, chưa thấy tín hiệu nới room

Hệ thống ngân hàng đang bước vào giai đoạn cao điểm giải ngân, với tín dụng toàn hệ thống đã tăng khoảng 16% lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 11/2025, mức cao nhất trong 10 năm. Dù vậy, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa điều chỉnh nâng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại trong các tháng cao điểm cuối năm như thông lệ, thường diễn ra vào tháng 10 hoặc tháng 11, kể từ lần “nới” room vào cuối tháng 7/2025.

Trong báo cáo đánh giá cập nhật ngành ngân hàng quý IV/2025 vừa phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, tăng trưởng tín dụng cả năm có thể đạt trên 18%, dù Ngân hàng Nhà nước đang kiểm soát chặt hạn mức tăng trưởng tín dụng mới.

Room tín dụng

Điều hành "chặt tay" hơn để giữ ổn định

"Động thái điều hành này của Ngân hàng Nhà nước thể hiện quan điểm điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo ổn định mặt bằng lãi suất cho hệ thống ngân hàng trong bối cảnh thanh khoản đang căng thẳng hơn, LDR của nhiều ngân hàng lớn đang tiến sát ngưỡng tối đa 85% vào cuối quý III/2025" - nhóm phân tích VDSC đánh giá.

Theo phản ánh của nhiều khách vay, khi mang hồ sơ đến ngân hàng để vay mua nhà trong những ngày gần đây, không ít nơi thông báo đã hết room tín dụng và việc xét duyệt trở nên rất khó khăn.

Nhiều người kỳ vọng cuối năm sẽ có ưu đãi vay nhiều hơn, nhưng thực tế thì ngược lại.

Một khách vay cho biết đã thử tra cứu thông tin qua HouseNow (nền tảng trong lĩnh vực bất động sản) và liên hệ tư vấn viên của BIDV. Dù ngân hàng này vẫn còn hạn mức, nhưng phía tư vấn cũng thẳng thắn chia sẻ, cuối năm, ngân hàng siết chặt kiểm soát dòng tiền.

Room tín dụng đang bị hạn chế và càng sát cuối năm càng khó giải ngân. Thông tin từ thị trường cho thấy, BIDV đang áp dụng lãi suất khoảng 9,5%/năm ưu đãi 18 tháng, sau đó thả nổi. Gói tín dụng “An cư vững bước” lãi suất chỉ từ 5%/năm với quy mô 40.000 tỷ đồng cho người trẻ mua nhà đã dừng triển khai từ lâu.

Agribank hết room, nhưng có tín hiệu nới trở lại, lãi suất giữ ở mức 8,5%/năm (ngắn hạn) và 9%/năm (dài hạn); Vietcombank tăng lên mức 8 - 8,5%/năm ưu đãi; VietinBank tăng khoảng 1%/năm.

Nhiều môi giới bất động sản cũng cảnh báo khách hàng không nên dùng đòn bẩy tài chính để mua bất động sản ở thời điểm này. Dự kiến sang năm, khi room tín dụng được mở và lãi suất bắt đầu hạ, thị trường sẽ "dễ thở" hơn. Còn thời điểm hiện tại, lãi suất “múa từng ngày”, đòi hỏi người vay phải đặc biệt thận trọng.

"Nhiều ngân hàng đã dừng các gói tín dụng ưu đãi lãi suất hoặc bắt đầu nâng lãi suất ưu đãi, nâng mức sàn lãi nhanh hơn so với tốc độ tăng của lãi suất đầu vào, để tối ưu hóa lợi suất tài sản sinh lời" - VDSC đánh giá.

Nhóm phân tích VDSC không loại trừ khả năng Ngân hàng Nhà nước có thể nới hạn mức tín dụng sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất tại cuộc họp tháng 12.

Tuy nhiên, kịch bản khả dĩ hơn vẫn là giữ nguyên quan điểm điều hành thận trọng cho tới hết năm, tức không nới thêm hạn mức tín dụng. "Với kịch bản này, chúng tôi kỳ vọng các ngân hàng thuộc danh mục theo dõi sẽ tối ưu hạn mức tăng trưởng tín dụng đã được cấp và điều chỉnh hồi giữa năm, đưa tăng trưởng tín dụng của danh mục này đạt 18,2% cho cả năm 2025" - VDSC nhận định.

Rầm rập tăng lãi suất, “big 4” nhập cuộc

Áp lực thanh khoản cuối năm đang đẩy lãi suất huy động tăng trở lại. Theo ghi nhận, từ tháng 10, các ngân hàng đã nâng dần lãi suất huy động và tiếp tục tăng mạnh hơn trong tháng 11. Ngoại trừ ACB chưa điều chỉnh lãi suất so với cuối quý trước, các ngân hàng MBBank, Techcombank và VPBank đã tăng lãi suất 40 - 100 điểm cơ bản ở kỳ hạn 3 tháng; 30 - 90 điểm cơ bản ở kỳ hạn 6 và 9 tháng; 20 - 60 điểm cơ bản ở kỳ hạn 12 tháng.

VPBank là ngân hàng tăng mạnh nhất, với mức tăng 90 - 100 điểm cơ bản đối với gửi tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn 3 - 9 tháng. Các ngân hàng quy mô nhỏ hơn như VIB hoặc OCB cũng tăng trung bình 30 điểm cơ bản.

Room tín dụng

VietinBank vừa điều chỉnh tăng lãi suất và là ngân hàng đầu tiên trong nhóm "big 4" nhập cuộc. Theo biểu lãi suất tiết kiệm trực tuyến mới, VietinBank nâng lãi suất kỳ hạn 1 - 2 tháng thêm 40 điểm cơ bản lên 2,4%/năm; kỳ hạn 3 - 5 tháng tăng 50 điểm cơ bản lên 2,8%/năm. Các kỳ hạn 6 - 11 tháng tăng 60 điểm cơ bản lên 3,9%/năm. Các ngân hàng khác trong nhóm "big 4" chưa tăng lãi suất, nhưng đẩy mạnh chương trình khuyến mãi để hút vốn.

Theo VDSC, với nhu cầu thanh khoản tăng nhanh trong những tuần gần đây, sau khi BIDV và Vietcombank đẩy mạnh giải ngân trong tháng 11 và chỉ còn dưới 1% hạn mức tín dụng cho cả năm, trong khi VietinBank gần như đã sử dụng hết hạn mức từ cuối quý III/2025, khả năng cao nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ phải sớm nâng lãi suất huy động.

Nợ xấu dự báo giảm

Về diễn biến nợ xấu, theo VDSC, các ngân hàng thường kiểm soát nợ xấu chặt trong quý IV hằng năm nhằm đảm bảo các chỉ số chất lượng tài sản tại ngày 31/12 đạt mức tốt theo tiêu chí xếp hạng của Ngân hàng Nhà nước. Xếp hạng cao giúp ngân hàng có hạn mức tín dụng lớn hơn trong năm tiếp theo.

Vì vậy, nợ xấu hình thành ròng thường giảm trong quý IV, trừ trường hợp biến cố vĩ mô bất khả kháng. Chi phí dự phòng dự kiến đi ngang, đồng thời tập trung củng cố bộ đệm dự phòng rủi ro.

Với xu hướng trên, cùng bối cảnh tăng trưởng kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý đã trở nên khả quan hơn trong năm nay, đặc biệt là tín hiệu khả quan đối với các dự án bất động sản và năng lượng tái tạo gặp vướng mắc, nhóm phân tích VDSC cho rằng, nợ xấu hình thành ròng trong quý IV/2025 sẽ tiếp tục giảm so với quý III/2025 (28.000 tỷ đồng).

Từ đó, giúp tỷ lệ nợ xấu toàn ngành cuối năm đạt khoảng 1,8 - 1,9%, tức giảm thêm 10 - 20 điểm cơ bản so với mức 2,01% của cuối quý III/2025.

Mặc dù vậy, nhiều ngân hàng vẫn duy trì quan điểm thận trọng trong hoạt động trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhằm củng cố bộ đệm dự phòng vốn đã giảm liên tục trong 3 năm qua, qua đó tăng khả năng phòng vệ cho danh mục tín dụng trước những diễn biến bất ngờ của kinh tế vĩ mô trong năm tới. Do đó, kỳ vọng chi phí trích lập dự phòng sẽ đi ngang so với quý III/2025 (khoảng 35.000 tỷ đồng)./.

Kỳ vọng tiếp đà tăng lợi nhuận quý IV/2025 nhờ tín dụng vượt 18% và NIM cải thiện

Tổng kết quý IV/2025, nhóm phân tích VDSC dự báo, ngành ngân hàng tiếp tục duy trì tăng trưởng lợi nhuận cao, với tăng trưởng tín dụng ở mức trên 18% kết hợp triển vọng biên lãi ròng (NIM) mở rộng, dự phóng tăng 10 điểm cơ bản theo quý sau nhiều quý suy giảm, dù áp lực thanh khoản và chi phí vốn vẫn hiện hữu. Dự phóng tổng thu nhập hoạt động và lợi nhuận trước thuế của danh mục theo dõi ghi nhận tăng trưởng lần lượt 7% so với cùng kỳ và 15% so với cùng kỳ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

Tỷ giá USD hôm nay (22/5): Tỷ giá trung tâm lùi nhẹ, USD giữ đà tăng khi Fed đối mặt áp lực từ lãi suất thực âm

(TBTCO) - Sáng ngày 22/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần ở mức 25.134 đồng, giảm 1 đồng so với phiên trước, trong khi chỉ số DXY tăng 0,04% lên 99,24 điểm. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ khi lãi suất thực tại Mỹ lần đầu rơi vào vùng âm sau 03 năm, gia tăng kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

Thị trường tiền tệ tuần 4 - 8/5: Tỷ giá USD tự do mất mốc 26.500 đồng, bơm tiền mạnh khi lãi suất qua đêm vượt 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 4 - 8/5 cho thấy, tỷ giá trung tâm chỉ giảm nhẹ 1 đồng, trong khi USD tự do lao dốc tới 290 đồng, mất mốc 26.500 VND/USD. Trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt nhờ DXY suy yếu, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 5.831 tỷ đồng qua kênh OMO, sau khi lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm vọt lên 7% đầu tuần.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Kim TT/AVPL 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼40K 15,050 ▼40K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼40K 15,000 ▼40K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,650 ▼40K 16,050 ▼40K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,600 ▼40K 16,000 ▼40K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,530 ▼40K 15,980 ▼40K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Hà Nội - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Miền Tây - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 159,000 ▼400K 162,000 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Miếng SJC Nghệ An 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
Miếng SJC Thái Bình 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,900 ▼40K 16,200 ▼40K
NL 99.90 14,350 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,400 ▼250K
Trang sức 99.9 15,390 ▼40K 16,090 ▼40K
Trang sức 99.99 15,400 ▼40K 16,100 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 159 ▼1435K 16,202 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 159 ▼1435K 16,203 ▼40K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,585 ▼4K 1,615 ▼4K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,585 ▼4K 1,616 ▲1454K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,565 ▼4K 160 ▼1444K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,916 ▼396K 158,416 ▼396K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 111,262 ▼300K 120,162 ▼300K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 100,061 ▼272K 108,961 ▼272K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,886 ▼80218K 9,776 ▼88228K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,539 ▼234K 93,439 ▼234K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,977 ▼166K 66,877 ▼166K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 159 ▼1435K 162 ▼1462K
Cập nhật: 22/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18257 18532 19108
CAD 18577 18854 19470
CHF 32874 33259 33899
CNY 0 3839 3931
EUR 29952 30225 31250
GBP 34588 34980 35911
HKD 0 3233 3436
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15124 15712
SGD 20054 20337 20859
THB 722 786 839
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26178 26390
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,150 26,150 26,390
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,142 30,166 31,436
JPY 161.5 161.79 170.65
GBP 34,819 34,913 35,922
AUD 18,496 18,563 19,164
CAD 18,794 18,854 19,444
CHF 33,155 33,258 34,050
SGD 20,221 20,284 20,967
CNY - 3,813 3,937
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.05 16.74 18.11
THB 770.86 780.38 831.51
NZD 15,161 15,302 15,669
SEK - 2,779 2,861
DKK - 4,033 4,153
NOK - 2,808 2,891
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,225.64 - 6,990.35
TWD 757.57 - 912.8
SAR - 6,919.88 7,249.51
KWD - 83,792 88,672
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,140 26,160 26,390
EUR 30,040 30,161 31,339
GBP 34,752 34,892 35,898
HKD 3,294 3,307 3,423
CHF 32,907 33,039 33,969
JPY 161.74 162.39 169.71
AUD 18,464 18,538 19,127
SGD 20,259 20,340 20,921
THB 788 791 825
CAD 18,770 18,845 19,414
NZD 15,228 15,761
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26208 26208 26390
AUD 18427 18527 19450
CAD 18748 18848 19863
CHF 33095 33125 34699
CNY 3818 3843 3978.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30107 30137 31863
GBP 34870 34920 36678
HKD 0 3355 0
JPY 162.09 162.59 173.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15225 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20203 20333 21059
THB 0 750.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15940000 15940000 16240000
SBJ 14000000 14000000 16240000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,390
USD20 26,184 26,234 26,390
USD1 26,184 26,234 26,390
AUD 18,498 18,598 19,706
EUR 30,292 30,292 31,700
CAD 18,708 18,808 20,115
SGD 20,292 20,442 21,420
JPY 162.61 164.11 168.64
GBP 34,783 35,133 36,005
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80