Room tín dụng "kẹt" cuối năm, ngân hàng rầm rập tăng lãi suất

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tín dụng toàn hệ thống dự kiến tăng 16% đến cuối tháng 11/2025, mức cao nhất trong 10 năm, nhưng Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa nới hạn mức cho các ngân hàng như thông lệ. Thanh khoản căng kéo tỷ lệ dư tín dụng trên vốn huy động (LDR) của nhiều ngân hàng lớn áp sát trần, buộc các ngân hàng dừng ưu đãi tín dụng và rầm rập nâng lãi suất huy động lẫn cho vay, khiến áp lực vốn cuối năm gia tăng rõ rệt.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 11/2025 Thị trường tiền tệ tháng 11: Mở "van" bơm ròng hơn 106.000 tỷ đồng, lãi suất liên ngân hàng khó hạ Tăng trưởng tín dụng lập đỉnh, không thể nới lỏng "phanh an toàn"

Tín dụng tăng 16%, chưa thấy tín hiệu nới room

Hệ thống ngân hàng đang bước vào giai đoạn cao điểm giải ngân, với tín dụng toàn hệ thống đã tăng khoảng 16% lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 11/2025, mức cao nhất trong 10 năm. Dù vậy, Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa điều chỉnh nâng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng thương mại trong các tháng cao điểm cuối năm như thông lệ, thường diễn ra vào tháng 10 hoặc tháng 11, kể từ lần “nới” room vào cuối tháng 7/2025.

Trong báo cáo đánh giá cập nhật ngành ngân hàng quý IV/2025 vừa phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, tăng trưởng tín dụng cả năm có thể đạt trên 18%, dù Ngân hàng Nhà nước đang kiểm soát chặt hạn mức tăng trưởng tín dụng mới.

Room tín dụng

Điều hành "chặt tay" hơn để giữ ổn định

"Động thái điều hành này của Ngân hàng Nhà nước thể hiện quan điểm điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ hơn nhằm đảm bảo ổn định mặt bằng lãi suất cho hệ thống ngân hàng trong bối cảnh thanh khoản đang căng thẳng hơn, LDR của nhiều ngân hàng lớn đang tiến sát ngưỡng tối đa 85% vào cuối quý III/2025" - nhóm phân tích VDSC đánh giá.

Theo phản ánh của nhiều khách vay, khi mang hồ sơ đến ngân hàng để vay mua nhà trong những ngày gần đây, không ít nơi thông báo đã hết room tín dụng và việc xét duyệt trở nên rất khó khăn.

Nhiều người kỳ vọng cuối năm sẽ có ưu đãi vay nhiều hơn, nhưng thực tế thì ngược lại.

Một khách vay cho biết đã thử tra cứu thông tin qua HouseNow (nền tảng trong lĩnh vực bất động sản) và liên hệ tư vấn viên của BIDV. Dù ngân hàng này vẫn còn hạn mức, nhưng phía tư vấn cũng thẳng thắn chia sẻ, cuối năm, ngân hàng siết chặt kiểm soát dòng tiền.

Room tín dụng đang bị hạn chế và càng sát cuối năm càng khó giải ngân. Thông tin từ thị trường cho thấy, BIDV đang áp dụng lãi suất khoảng 9,5%/năm ưu đãi 18 tháng, sau đó thả nổi. Gói tín dụng “An cư vững bước” lãi suất chỉ từ 5%/năm với quy mô 40.000 tỷ đồng cho người trẻ mua nhà đã dừng triển khai từ lâu.

Agribank hết room, nhưng có tín hiệu nới trở lại, lãi suất giữ ở mức 8,5%/năm (ngắn hạn) và 9%/năm (dài hạn); Vietcombank tăng lên mức 8 - 8,5%/năm ưu đãi; VietinBank tăng khoảng 1%/năm.

Nhiều môi giới bất động sản cũng cảnh báo khách hàng không nên dùng đòn bẩy tài chính để mua bất động sản ở thời điểm này. Dự kiến sang năm, khi room tín dụng được mở và lãi suất bắt đầu hạ, thị trường sẽ "dễ thở" hơn. Còn thời điểm hiện tại, lãi suất “múa từng ngày”, đòi hỏi người vay phải đặc biệt thận trọng.

"Nhiều ngân hàng đã dừng các gói tín dụng ưu đãi lãi suất hoặc bắt đầu nâng lãi suất ưu đãi, nâng mức sàn lãi nhanh hơn so với tốc độ tăng của lãi suất đầu vào, để tối ưu hóa lợi suất tài sản sinh lời" - VDSC đánh giá.

Nhóm phân tích VDSC không loại trừ khả năng Ngân hàng Nhà nước có thể nới hạn mức tín dụng sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cắt giảm lãi suất tại cuộc họp tháng 12.

Tuy nhiên, kịch bản khả dĩ hơn vẫn là giữ nguyên quan điểm điều hành thận trọng cho tới hết năm, tức không nới thêm hạn mức tín dụng. "Với kịch bản này, chúng tôi kỳ vọng các ngân hàng thuộc danh mục theo dõi sẽ tối ưu hạn mức tăng trưởng tín dụng đã được cấp và điều chỉnh hồi giữa năm, đưa tăng trưởng tín dụng của danh mục này đạt 18,2% cho cả năm 2025" - VDSC nhận định.

Rầm rập tăng lãi suất, “big 4” nhập cuộc

Áp lực thanh khoản cuối năm đang đẩy lãi suất huy động tăng trở lại. Theo ghi nhận, từ tháng 10, các ngân hàng đã nâng dần lãi suất huy động và tiếp tục tăng mạnh hơn trong tháng 11. Ngoại trừ ACB chưa điều chỉnh lãi suất so với cuối quý trước, các ngân hàng MBBank, Techcombank và VPBank đã tăng lãi suất 40 - 100 điểm cơ bản ở kỳ hạn 3 tháng; 30 - 90 điểm cơ bản ở kỳ hạn 6 và 9 tháng; 20 - 60 điểm cơ bản ở kỳ hạn 12 tháng.

VPBank là ngân hàng tăng mạnh nhất, với mức tăng 90 - 100 điểm cơ bản đối với gửi tiết kiệm trực tuyến kỳ hạn 3 - 9 tháng. Các ngân hàng quy mô nhỏ hơn như VIB hoặc OCB cũng tăng trung bình 30 điểm cơ bản.

Room tín dụng

VietinBank vừa điều chỉnh tăng lãi suất và là ngân hàng đầu tiên trong nhóm "big 4" nhập cuộc. Theo biểu lãi suất tiết kiệm trực tuyến mới, VietinBank nâng lãi suất kỳ hạn 1 - 2 tháng thêm 40 điểm cơ bản lên 2,4%/năm; kỳ hạn 3 - 5 tháng tăng 50 điểm cơ bản lên 2,8%/năm. Các kỳ hạn 6 - 11 tháng tăng 60 điểm cơ bản lên 3,9%/năm. Các ngân hàng khác trong nhóm "big 4" chưa tăng lãi suất, nhưng đẩy mạnh chương trình khuyến mãi để hút vốn.

Theo VDSC, với nhu cầu thanh khoản tăng nhanh trong những tuần gần đây, sau khi BIDV và Vietcombank đẩy mạnh giải ngân trong tháng 11 và chỉ còn dưới 1% hạn mức tín dụng cho cả năm, trong khi VietinBank gần như đã sử dụng hết hạn mức từ cuối quý III/2025, khả năng cao nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ phải sớm nâng lãi suất huy động.

Nợ xấu dự báo giảm

Về diễn biến nợ xấu, theo VDSC, các ngân hàng thường kiểm soát nợ xấu chặt trong quý IV hằng năm nhằm đảm bảo các chỉ số chất lượng tài sản tại ngày 31/12 đạt mức tốt theo tiêu chí xếp hạng của Ngân hàng Nhà nước. Xếp hạng cao giúp ngân hàng có hạn mức tín dụng lớn hơn trong năm tiếp theo.

Vì vậy, nợ xấu hình thành ròng thường giảm trong quý IV, trừ trường hợp biến cố vĩ mô bất khả kháng. Chi phí dự phòng dự kiến đi ngang, đồng thời tập trung củng cố bộ đệm dự phòng rủi ro.

Với xu hướng trên, cùng bối cảnh tăng trưởng kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý đã trở nên khả quan hơn trong năm nay, đặc biệt là tín hiệu khả quan đối với các dự án bất động sản và năng lượng tái tạo gặp vướng mắc, nhóm phân tích VDSC cho rằng, nợ xấu hình thành ròng trong quý IV/2025 sẽ tiếp tục giảm so với quý III/2025 (28.000 tỷ đồng).

Từ đó, giúp tỷ lệ nợ xấu toàn ngành cuối năm đạt khoảng 1,8 - 1,9%, tức giảm thêm 10 - 20 điểm cơ bản so với mức 2,01% của cuối quý III/2025.

Mặc dù vậy, nhiều ngân hàng vẫn duy trì quan điểm thận trọng trong hoạt động trích lập dự phòng rủi ro tín dụng nhằm củng cố bộ đệm dự phòng vốn đã giảm liên tục trong 3 năm qua, qua đó tăng khả năng phòng vệ cho danh mục tín dụng trước những diễn biến bất ngờ của kinh tế vĩ mô trong năm tới. Do đó, kỳ vọng chi phí trích lập dự phòng sẽ đi ngang so với quý III/2025 (khoảng 35.000 tỷ đồng)./.

Kỳ vọng tiếp đà tăng lợi nhuận quý IV/2025 nhờ tín dụng vượt 18% và NIM cải thiện

Tổng kết quý IV/2025, nhóm phân tích VDSC dự báo, ngành ngân hàng tiếp tục duy trì tăng trưởng lợi nhuận cao, với tăng trưởng tín dụng ở mức trên 18% kết hợp triển vọng biên lãi ròng (NIM) mở rộng, dự phóng tăng 10 điểm cơ bản theo quý sau nhiều quý suy giảm, dù áp lực thanh khoản và chi phí vốn vẫn hiện hữu. Dự phóng tổng thu nhập hoạt động và lợi nhuận trước thuế của danh mục theo dõi ghi nhận tăng trưởng lần lượt 7% so với cùng kỳ và 15% so với cùng kỳ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 10 - 14/8: Lãi suất qua đêm về quanh 4%, kênh hoán đổi từng "giải khát" thanh khoản 143.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến thị trường tiền tệ tuần qua (10 - 14/8) ghi nhận sự phân hóa khi tỷ giá trung tâm tăng 98 đồng, trong khi USD tự do dưới 26.000 đồng, giảm 7,4% từ đỉnh. Khi thanh khoản hạ nhiệt, lãi suất qua đêm giảm còn 4,38%/năm, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng. Đáng chú ý, nghiệp vụ hoán đổi USD - VND từng phát huy vai trò "giải nhiệt" thanh khoản, với số dư kỷ lục trên 143.000 tỷ đồng.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,100 142,600
Hà Nội - PNJ 139,100 142,600
Đà Nẵng - PNJ 139,100 142,600
Miền Tây - PNJ 139,100 142,600
Tây Nguyên - PNJ 139,100 142,600
Đông Nam Bộ - PNJ 139,100 142,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,970 14,270
Miếng SJC Nghệ An 13,970 14,270
Miếng SJC Thái Bình 13,970 14,270
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 14,320
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 14,320
NL 99.99 13,400
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,300
Trang sức 99.9 13,630 14,230
Trang sức 99.99 13,640 14,240
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,397 14,272
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,397 14,273
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,392 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,362 1,407
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,307 139,307
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,886 105,686
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 86,036 95,836
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,186 85,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,386 82,186
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,028 58,828
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,397 1,427
Cập nhật: 20/08/2026 07:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17987 18262 18846
CAD 18340 18616 19236
CHF 31659 32039 32684
CNY 0 3830 3940
EUR 29753 29975 31056
GBP 34677 35069 36021
HKD 0 3208 3411
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15084 15677
SGD 19971 20253 20823
THB 707 770 824
USD (1,2) 25914 0 0
USD (5,10,20) 25954 0 0
USD (50,100) 25983 25997 26367
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,990 25,990 26,370
USD(1-2-5) 24,951 - -
USD(10-20) 24,951 - -
EUR 29,759 29,783 31,198
JPY 159.97 160.26 169.94
GBP 34,837 34,931 36,147
AUD 18,170 18,236 18,926
CAD 18,516 18,575 19,259
CHF 31,892 31,991 32,930
SGD 20,082 20,144 20,931
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.25 17.99 19.57
THB 754.12 763.43 817.1
NZD 15,035 15,175 15,623
SEK - 2,701 2,797
DKK - 3,991 4,132
NOK - 2,734 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,018.52 - 6,795.06
TWD 741 - 897.09
SAR - 6,853.46 7,218.85
KWD - 82,944 88,251
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,960 25,990 26,370
EUR 29,738 29,857 31,053
GBP 34,792 34,932 35,966
HKD 3,269 3,282 3,399
CHF 31,679 31,806 32,728
JPY 160.13 160.77 168.73
AUD 18,177 18,250 18,847
SGD 20,117 20,198 20,794
THB 770 773 809
CAD 18,492 18,566 19,157
NZD 15,107 15,652
KRW 17.77 19.74
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18182 18282 19207
CAD 18520 18620 19636
CHF 31908 31938 33516
CNY 3825.2 3850.2 3985.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29933 29963 31686
GBP 34993 35043 36796
HKD 0 3330 0
JPY 161.03 161.53 172.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20130 20260 20982
THB 0 736.9 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14000000 14000000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Cập nhật: 20/08/2026 07:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80