Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 11/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Khảo sát hơn 30 ngân hàng cho thấy từ đầu tháng 10 đến nay, lãi suất huy động bật tăng khi hàng chục nhà băng "rầm rập" nâng lãi suất, có nơi tăng gần 1%, đẩy lãi suất dưới 6 tháng chạm trần 4,75%/năm. Trong bối cảnh hệ số cho vay trên huy động vượt 110% và áp lực thanh khoản, tỷ giá dồn về cuối năm, cuộc đua hút vốn nóng lên rõ rệt, làm thay đổi mạnh thứ hạng lãi suất tháng 11/2025.
aa
Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2025
Khát thanh khoản, lãi suất tăng nhiệt cuối năm Dự báo áp lực thanh khoản cuối năm khi huy động "hụt hơi" so với tín dụng

Khảo sát của phóng viên từ hơn 30 ngân hàng lớn trên thị trường cho thấy, từ đầu tháng 10 đến nay, lãi suất huy động các kỳ hạn bật tăng mạnh, đặc biệt ở kỳ hạn 1 tháng khi 13 ngân hàng đồng loạt nâng lãi suất, có nơi tăng dồn dập 3 lần, đưa biên độ tăng tới 0,95 điểm phần trăm (đpt), đưa lãi suất lên kịch trần theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (4,75%/năm). Xu hướng tăng lan rộng sang các kỳ hạn 6 và 12 tháng.

Ngân hàng đua huy động, đẩy lãi suất kỳ hạn ngắn lên kịch trần

Trong bối cảnh các ngân hàng dồn dập tăng lãi suất đua hút tiền gửi huy động, thứ hạng các ngân hàng trả lãi suất cao tháng 11/2025 biến động rõ rệt.

Theo đó, ở kỳ hạn 1 tháng, CIMB giữ vị trí số 1 lên kịch trần 4,75%/năm, tăng mạnh 0,95 đpt so với kỳ khảo sát trước. Xếp sau là BacABank ở hạng 2 với 4,55%/năm và MBV đứng top 3 là 4,5%/năm. Đây là nhóm ngân hàng có chiến lược cạnh tranh rất rõ rệt ở kỳ hạn ngắn.

Tại kỳ hạn 3 tháng, vị trí dẫn đầu tiếp tục thuộc về CIMB Bank và MBV, lãi suất cũng được đưa lên kịch trần 4,75%/năm theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. BacABank duy trì mặt bằng cao và đứng hạng 2 với 4,55%/năm, trong khi VCBNeo cũng đua lãi suất với 4,35%/năm.

Đến kỳ hạn 6 tháng được nhiều người dân gửi tiền, trật tự thay đổi khi BacABank vươn lên dẫn đầu, đứng đầu bảng với lãi suất tiết kiệm 6,2%/năm và cách biệt đáng kể so với phần còn lại. VikkiBank xếp sau với 5,92% /năm, còn VCBNeo đứng thứ ba với 5,6%/năm.

Với kỳ hạn dài như 12 tháng, BacABank tiếp tục củng cố vị thế, dẫn đầu 6,3%/năm. Theo sau là VikkiBank với 5,92%/năm và MBV với lãi suất huy động 5,9%/năm.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân quy mô lớn, sau đợt tăng lãi suất liên tục từ cuối tháng 9/2025 đến nay, VPBank đứng top đầu, với lãi suất 1 tháng 4,2%/năm; 3 tháng 4,2 %/năm, vượt MB; 6 tháng là 5,1%/năm. Còn các ngân hàng "big 4" vẫn "bình chân như vại" trước làn sóng tăng lãi suất ồ ạt toàn thị trường.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 11/2025
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Theo nhận định từ Công ty Cổ phần Chứng khoán BIDV (BSC), mặt bằng lãi suất huy động của các ngân hàng đang gia tăng, thể hiện rõ nhất trên thị trường liên ngân hàng.

LDR vượt 110%, áp lực huy động vốn lên hệ thống ngân hàng tăng mạnh

Nhóm phân tích BSC cho rằng, hệ số cho vay trên huy động (LDR) trên thị trường 1 tiếp tục được kéo giãn lên mức cao nhất trong lịch sử. BSC ước tính tỷ lệ LDR đã vượt 110% tại cuối quý III/2025 và có thể tăng lên khoảng 111% vào cuối năm.

Chênh lệch giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tốc độ tăng trưởng tiền gửi duy trì trung bình khoảng 3 đpt từ đầu quý III đến nay, mặc dù Kho bạc Nhà nước đã nỗ lực đẩy mạnh giải ngân khi chi đầu tư phát triển từ Ngân sách Nhà nước trong 9 tháng năm 2025 tăng tới 41% so với cùng kỳ.

Thay vào đó, các ngân hàng tiếp tục cân đối LDR thông qua huy động giấy tờ có giá, gồm phát hành trái phiếu của tổ chức tín dụng và chứng chỉ tiền gửi.

BSC ước tính tỷ trọng giấy tờ có giá trong tổng nguồn vốn huy động của thị trường 1 đã vượt 10,6% tại thời điểm đầu quý III, cao hơn 1 đpt so với đầu năm và là mức cao nhất trong lịch sử. Nhu cầu cân đối lớn được phản ánh rõ qua lãi suất huy động của trái phiếu của các tổ chức tín dụng tăng tương ứng ở các kỳ hạn 6 tháng, 1 năm và 3 năm với mức tăng lần lượt là 0,75 đpt, 0,53 đpt và 0,27 đpt từ đầu năm đến thời điểm báo cáo và duy trì xu hướng tăng.

Bên cạnh đó, theo khảo sát thị trường, lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn tại nhiều ngân hàng cũng đang tăng, chủ yếu thông qua việc áp dụng mức lãi suất phụ trội dành cho khách hàng gửi tiền vượt một ngưỡng nhất định, hoặc tặng "ngầm" lãi suất, nhằm thu hút nhóm khách hàng ưu tiên.

Trên thị trường tiền tệ, lãi suất liên ngân hàng VND chịu áp lực tăng; chênh lệch lãi suất hoán đổi ngoại tệ USD - VND kỳ hạn 1 năm duy trì quanh mức 1,7% từ đầu tháng 8, cao hơn hẳn so với giai đoạn đầu năm và suốt năm 2024.

Cũng theo nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS), lãi suất qua đêm liên ngân hàng duy trì đà tăng, qua đó, phát đi tín hiệu về áp lực thanh khoản gia tăng.

"Việc mặt bằng lãi suất tiền gửi rục rịch tăng vào đầu quý IV phản ánh nhu cầu huy động vốn gia tăng nhằm đáp ứng nhu cầu tín dụng có xu hướng tăng mạnh về cuối năm theo chu kỳ mùa vụ" - MBS nhận định.

Theo Ngân hàng Nhà nước, tính đến ngày 30/10, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã tăng khoảng 15% so với cuối năm 2024 và dự kiến sẽ tiếp tục tăng mạnh lên mức 19 - 20% vào cuối năm nay.

"Rầm rập" tăng lãi suất, có ngân hàng tăng gần 1%/năm

Nhìn lại biến động lãi suất từ đầu tháng 10 tới nay, tại kỳ hạn 1 tháng, số lượng ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất đã lên tới 13 nhà băng, mức cao nhất kể từ đầu quý IV. Biên độ tăng cũng mạnh hơn rõ rệt, với nhóm dẫn đầu như Sacombank, MBV, BacABank và PVCombank..., trong đó, có ngân hàng tăng lãi suất thêm tới 0,8 đpt. Diễn biến này tương phản hoàn toàn so với giai đoạn cách đây 2 tháng, khi thị trường gần như “đứng yên” và chỉ có GPBank tăng nhẹ 0,1 đpt.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 11/2025

Theo đó, Sacombank tăng từ mức rất thấp lên 3,6%/năm, tổng cộng tăng 0,8 đpt qua 2 lần điều chỉnh lần lượt 0,5 đpt; MBV chứng kiến "bước nhảy" từ 3,8%/năm lên 4,5%/năm (tăng 0,7 đpt), trở thành một trong những ngân hàng có lãi suất cao nhất bảng. BacABank tăng dồn dập ba đợt, từ 4%/năm lên 4,55%/năm (tăng 0,55 đpt). PVCombank tăng 0,5 đpt, từ 3%/năm lên 3,5%/năm chỉ với một lần điều chỉnh mạnh.

Nhóm tăng khá gồm VPBank, BVBank và NCB. Đơn cử, VPBank tăng 0,4 đpt qua hai đợt, từ 3,9%/năm lên 4,3%/năm; trước đó, cuối tháng 9/2025, ngân hàng này đã tăng lãi suất một đợt thêm 0,3 đpt. BVBank tăng 0,3 đpt lên 4,1%/năm. NCB ghi nhận hai lần tăng nhẹ, tổng cộng 0,3 đpt, lên mức 4%.

Với kỳ hạn 6 tháng được người dân ưa chuộng gửi tiền, lãi suất huy động cũng ghi nhận xu hướng tăng lan rộng trên toàn hệ thống. Nhóm tăng mạnh nhất gồm BacABank, VikkiBank và VPBank.

Theo đó, với kỳ hạn 6 tháng, BacABank dẫn đầu khi nâng lãi suất từ khoảng 5,4%/năm lên 6,2%/năm, tăng tổng cộng 0,8 đpt, qua ba lần điều chỉnh, đây cũng là nhà băng hiếm hoi trả lãi vượt 6%/năm trong hệ thống kỳ hạn này. VikkiBank cũng tăng gần 0,7 đpt từ vùng 5,23%/năm lên 5,92%/năm, với ba lần nhích dần. VPBank theo sát khi nâng từ 4,8%/năm lên 5,4%/năm, tương ứng tăng 0,6 đpt sau hai lần điều chỉnh liên tiếp.

Ở kỳ hạn dài như 12 tháng, mặt bằng lãi suất ghi nhận xu hướng đi lên khá rõ từ đầu tháng 10 đến nay khi tất cả ngân hàng trong bảng đều đã điều chỉnh tăng. Tăng mạnh nhất là BacABank, nâng lãi suất từ khoảng 5,5%/năm lên 6,3%/năm, tổng cộng tăng 0,8 đpt qua ba lần nhích dần; mỗi đợt tăng dao động 0,2 - 0,3 đpt, đưa ngân hàng này trở thành “quán quân” về lãi suất 12 tháng, cho thấy nhu cầu đẩy mạnh huy động vốn dài hạn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

Dư nợ cho thuê tài chính vượt 45 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng “thực” nhưng cần xung lực mới

(TBTCO) - Dư nợ các hội viên thuộc Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam cuối năm 2025 đạt 45,7 nghìn tỷ đồng, tăng 12,38%. Dù thấp hơn tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống, mức tăng này được đánh giá là “thực”, đi kèm kiểm soát rủi ro chặt chẽ. Nhiều đề xuất “cởi trói” pháp lý, đa dạng sản phẩm, tăng kết nối được các công ty cho thuê tài chính đưa ra, thúc đẩy ngành phát triển.
Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

Những ngân hàng nào được kỳ vọng là “đầu tàu” tăng trưởng khi thách thức gia tăng?

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đối mặt nhiều thách thức khi dư địa nới lỏng chính sách tiền tệ thu hẹp. Thanh khoản hệ thống chịu sức ép, lãi suất huy động tăng, kéo theo rủi ro nợ xấu và chi phí vốn gia tăng. Trong bối cảnh đó, một số ngân hàng có lợi thế được kỳ vọng là "đầu tàu" dẫn dắt tăng trưởng.
Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro trọng yếu, lãi suất cho vay có thể tăng thêm 1 - 3%

Theo S&I Ratings, áp lực nhu cầu vốn kéo dài vẫn là rủi ro trọng yếu hệ thống ngân hàng năm 2026. Dự báo lãi suất cho vay có thể sẽ tiếp tục tăng thêm khoảng 1 - 3%, việc lãi suất huy động điều chỉnh tăng ở mức hợp lý là cần thiết để đảm bảo an toàn hệ thống và vẫn tạo nền tảng cho tăng trưởng.
Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

Lãi suất thả nổi dâng cao, chu kỳ “tiền rẻ” rút khỏi bất động sản

(TBTCO) - Lãi suất thả nổi tăng nhanh đang tạo thêm áp lực tài chính đối với người vay mua nhà, doanh nghiệp bất động sản và đẩy dòng tiền đầu cơ rút khỏi thị trường. Trong bối cảnh lãi vay có thể lên 13 - 15%/năm, thậm chí cao hơn khi bước vào giai đoạn thả nổi, chu kỳ “tiền rẻ” dần khép lại khiến dòng vốn vào bất động sản chịu thêm nhiều “van” điều tiết.
Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

Đẩy lãi suất kỳ hạn 1 tháng tăng tới 60%, nhiều ngân hàng chạm trần cho phép

(TBTCO) - Khảo sát cuối tháng 2/2026 cho thấy lãi suất huy động kỳ hạn 1 tháng hầu như không biến động so với trước Tết. Tuy nhiên, khi so với đầu quý IV/2025, mặt bằng lãi suất tăng mạnh, có ngân hàng nâng tới 1,75 điểm phần trăm, tương đương tăng khoảng 60%; với hơn 10 nhà băng niêm yết mức cao nhất 4,75%/năm, tạo mặt bằng cạnh tranh gay gắt ở kỳ hạn ngắn.
Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

Nhiều ngân hàng đẩy ưu đãi hút tiền nhàn rỗi sau Tết

(TBTCO) - Sau Tết, mặt bằng lãi suất huy động tiếp tục nhích lên tại nhiều ngân hàng, đặc biệt ở kỳ hạn 6 tháng khi có tới 16 nhà băng điều chỉnh tăng so với đầu năm. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện vài nhà băng giảm lãi suất. Đặc biệt, thay vì chạy đua tăng lãi suất huy động để hút tiền nhàn rỗi, nhiều ngân hàng chuyển hướng sang đẩy mạnh khuyến mại để thu hút khách hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17770 18043 18619
CAD 18522 18799 19418
CHF 32625 33009 33645
CNY 0 3470 3830
EUR 29830 30102 31128
GBP 34387 34778 35712
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14972 15560
SGD 19995 20277 20804
THB 718 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:30