Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tuần qua (2/3 - 6/3), thị trường tiền tệ ghi nhận nhiều biến động khi diễn ra xung đột Trung Đông, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng, đảo chiều sau 5 tuần giảm và tỷ giá bán ra tại ngân hàng tiến sát trần do đồng USD phục hồi. Cùng lúc, áp lực thanh khoản hệ thống chưa nguôi, lãi suất liên ngân hàng có thời điểm vượt 11%/năm, khối lượng phát hành kênh OMO có phiên trên 80 nghìn tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/2: Lãi suất qua đêm mất mốc 3%, hút ròng hơn 78.000 tỷ đồng sau Tết Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động

Lãi suất liên ngân hàng có phiên vượt 11%, áp lực thanh khoản chưa nguôi

Trong tuần qua, từ ngày 2/3 đến ngày 6/3, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ qua kênh thị trường mở (OMO) để điều tiết thanh khoản hệ thống.

Phiên đầu tuần (ngày 2/3), khối lượng phát hành qua kênh OMO vọt lên 82,6 nghìn tỷ đồng, mức cao kỷ lục, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng dựng đứng. Sau đó, quy mô phát hành giảm nhanh qua các phiên, xuống còn khoảng 8 nghìn tỷ đồng vào ngày 6/3.

Tính chung khối lượng trúng thầu đạt mức cao 170.277 tỷ đồng, gồm 60.171 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày; 64.714 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày; còn lại là kỳ hạn 21 ngày và 56 ngày. Lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lớn, lên tới 166.094,94 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ khoảng 4.181,72 tỷ đồng trong tuần, trái ngược với tuần trước hút ròng mạnh 78 nghìn tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy, nhà điều hành vẫn duy trì trạng thái thắt chặt thanh khoản ở mức độ vừa phải, đồng thời giảm dần quy mô can thiệp khi áp lực thị trường có dấu hiệu hạ nhiệt.

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh và tăng so với cuối tuần trước, phản ánh áp lực thanh khoản trong hệ thống có thời điểm gia tăng. Kết thúc phiên 6/3, lãi suất qua đêm ở mức 5,74%/năm, tăng 1,04 điểm phần trăm so với mức 4,7% của cuối tuần trước, dù đã giảm mạnh so với các phiên đầu tuần khi có thời điểm vượt 11%/năm.

Ở các kỳ hạn dài hơn, lãi suất liên ngân hàng phân hóa mạnh. Kỳ hạn 1 tuần giảm 0,49 điểm phần trăm, xuống 6,07%/năm; trong khi kỳ hạn 2 tuần tăng 1,39 điểm phần trăm, lên 7,75%/năm; kỳ hạn 1 tháng giảm nhẹ 0,13 điểm phần trăm, xuống 7,06%/năm. Còn kỳ hạn 3 tháng tăng 0,64 điểm phần trăm, lên 7,93%/năm.

Về thanh khoản, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức lớn, nhưng có xu hướng giảm so với tuần trước. Cụ thể, doanh số kỳ hạn qua đêm đạt khoảng 816,9 nghìn tỷ đồng, thấp hơn mức 1,12 triệu tỷ đồng ghi nhận cuối tuần trước, song vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm
Nguồn: SHS.

Trong báo cáo Triển vọng ngành ngân hàng 2026 với nhan đề "Tái định hình tăng trưởng", Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho rằng, áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro cần theo dõi.

Theo S&I Ratings, thanh khoản hệ thống được hỗ trợ mạnh thông qua kênh thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước và tiền gửi Kho bạc nhà nước. Kể từ giữa năm 2025, quy mô hỗ trợ ở cả hai kênh này đều đạt mức cao kỷ lục, với số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng quốc doanh đạt mức 406 nghìn tỷ đồng tại cuối quý IV/2025, trong khi giá trị lưu hành OMO thường xuyên trên 200 nghìn tỷ đồng.

"Tuy vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn liên tục neo cao hơn đáng kể so với lãi suất OMO, cho thấy căng thẳng thanh khoản vẫn còn hiện hữu. Năm 2026, chúng tôi cho rằng, tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) của hệ thống vẫn chịu áp lực" - S&I Ratings đánh giá.

Còn theo phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), mặc dù kênh nghiệp vụ thị trường mở đang duy trì quy mô hỗ trợ lớn, tiền gửi Kho bạc Nhà nước trong hệ thống ở mức cao, nhưng tăng trưởng tín dụng chưa cao. Sự “lệch pha” này cho thấy, vai trò điều tiết thanh khoản giai đoạn này hướng tới ổn định thị trường tiền tệ nhiều hơn là "bệ phóng" cho việc mở rộng tín dụng.

Về cơ chế, nguồn vốn từ thị trường mở chủ yếu mang tính kỳ hạn ngắn và có thể thay đổi nhanh theo điều tiết, còn tiền gửi Kho bạc phụ thuộc vào cấu trúc kỳ hạn, nên không đồng nghĩa với nền vốn ổn định đủ dài, để hệ thống tự tin đẩy mạnh tín dụng.

"Tại những giai đoạn mà lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, thị trường cần một “neo kỳ vọng” đủ rõ để hạn chế phản ứng phòng thủ thái quá, qua đó, giảm biến động cả về mặt tâm lý trên các thị trường lãi suất và tỷ giá" - nhóm phân tích của SHS đặt vấn đề.

USD phục hồi, tỷ giá bán ra tiến sát trần

Về diễn biến trên thị trường ngoại hối, ngày 6/3, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.057 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá trần và sàn trong ngày lần lượt là 26.310 VND/USD và 23.804 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 2-6/3: Lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%, đảo chiều bơm ròng thanh khoản
Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3 ghi nhận nhiều biến động. Ảnh minh họa.

Trong tuần, tỷ giá USD/VND tiếp tục xu hướng tăng trên các kênh. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 13 đồng, đảo chiều so với 5 tuần giảm ròng rã trước đó.

Ở thị trường tự do, đà tăng mạnh hơn, giao dịch quanh 26.850 - 26.900 VND/USD, tương đương tăng 220 đồng trong tuần, sau khi đã tăng mạnh 430 đồng trong tuần trước.

Tỷ giá USD tại Vietcombank và BIDV cùng bán ra ở mức sát trần 26.309 VND/USD, niêm yết lần lượt là 25.999 - 26.309 VND/USD; 26.029 - 26.309 VND/USD, cùng tăng 179 đồng chiều mua và 79 đồng chiều bán.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - tăng 0,31%, lên 99,36 điểm. Đồng USD ghi nhận đà phục hồi, diễn biến này chủ yếu xuất phát xung đột Trung Đông. Trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu biến động, khi cổ phiếu, trái phiếu và thậm chí có thời điểm cả kim loại quý cùng suy giảm, USD nổi lên như một trong số ít tài sản giữ giá tốt.

Bên cạnh đó, giá năng lượng tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông cũng làm gia tăng lo ngại về nguy cơ lạm phát quay trở lại. Diễn biến này có thể tác động đến kỳ vọng chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn.

Các ngoại tệ khác ghi nhận diễn biến trái chiều. Tỷ giá EUR, GBP giảm tại cả Vietcombank và BIDV; ngược lại, tỷ giá CNY tăng nhẹ./.

Theo đánh giá của nhóm phân tích SHS, sau giai đoạn cận Tết ghi nhận mức hạ nhiệt tương đối, tỷ giá USD/VND có xu hướng nhích lên trở lại sau kỳ nghỉ. Dòng cung ngoại tệ vốn thường mạnh hơn trước Tết dần trở về nhịp bình thường sau kỳ nghỉ. Tỷ giá từ sau Tết ghi nhận áp lực ngắn hạn đã quay lại trong bối cảnh thị trường nhạy cảm hơn với biến động bên ngoài.

Đáng chú ý, cú sốc địa chính trị tại Trung Đông là một sự kiện rủi ro khó định lượng trước và đã khiến USD phục hồi vai trò trú ẩn, qua đó kéo DXY tăng và có thể phục hồi vai trò của petrodolla (cơ chế giao dịch dầu mỏ được định giá và thanh toán bằng USD) trong tương lai.

Cơ chế truyền dẫn chủ đạo là trạng thái né tránh rủi ro toàn cầu, trong đó Euro và đồng Yên chịu bất lợi tương đối do nhạy cảm hơn với chi phí năng lượng; đồng thời, kỳ vọng nới lỏng chính sách tiền tệ của Mỹ có xu hướng bị điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn khi rủi ro lạm phát từ giá năng lượng gia tăng.

"Tỷ giá có diễn biến căng thẳng giai đoạn vừa qua và có thể vẫn tiếp tục trong thời gian tới, nhưng nhiều khả năng không biến động vượt quá 26.550 đồng" - nhóm phân tích của SHS đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 23/3 tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.090 VND, tăng 5 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, Chỉ số USD Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 99,5 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80