Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tuần qua (2/3 - 6/3), thị trường tiền tệ ghi nhận nhiều biến động khi diễn ra xung đột Trung Đông, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng, đảo chiều sau 5 tuần giảm và tỷ giá bán ra tại ngân hàng tiến sát trần do đồng USD phục hồi. Cùng lúc, áp lực thanh khoản hệ thống chưa nguôi, lãi suất liên ngân hàng có thời điểm vượt 11%/năm, khối lượng phát hành kênh OMO có phiên trên 80 nghìn tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/2: Lãi suất qua đêm mất mốc 3%, hút ròng hơn 78.000 tỷ đồng sau Tết Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động

Lãi suất liên ngân hàng có phiên vượt 11%, áp lực thanh khoản chưa nguôi

Trong tuần qua, từ ngày 2/3 đến ngày 6/3, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ qua kênh thị trường mở (OMO) để điều tiết thanh khoản hệ thống.

Phiên đầu tuần (ngày 2/3), khối lượng phát hành qua kênh OMO vọt lên 82,6 nghìn tỷ đồng, mức cao kỷ lục, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng dựng đứng. Sau đó, quy mô phát hành giảm nhanh qua các phiên, xuống còn khoảng 8 nghìn tỷ đồng vào ngày 6/3.

Tính chung khối lượng trúng thầu đạt mức cao 170.277 tỷ đồng, gồm 60.171 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày; 64.714 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày; còn lại là kỳ hạn 21 ngày và 56 ngày. Lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lớn, lên tới 166.094,94 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ khoảng 4.181,72 tỷ đồng trong tuần, trái ngược với tuần trước hút ròng mạnh 78 nghìn tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy, nhà điều hành vẫn duy trì trạng thái thắt chặt thanh khoản ở mức độ vừa phải, đồng thời giảm dần quy mô can thiệp khi áp lực thị trường có dấu hiệu hạ nhiệt.

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh và tăng so với cuối tuần trước, phản ánh áp lực thanh khoản trong hệ thống có thời điểm gia tăng. Kết thúc phiên 6/3, lãi suất qua đêm ở mức 5,74%/năm, tăng 1,04 điểm phần trăm so với mức 4,7% của cuối tuần trước, dù đã giảm mạnh so với các phiên đầu tuần khi có thời điểm vượt 11%/năm.

Ở các kỳ hạn dài hơn, lãi suất liên ngân hàng phân hóa mạnh. Kỳ hạn 1 tuần giảm 0,49 điểm phần trăm, xuống 6,07%/năm; trong khi kỳ hạn 2 tuần tăng 1,39 điểm phần trăm, lên 7,75%/năm; kỳ hạn 1 tháng giảm nhẹ 0,13 điểm phần trăm, xuống 7,06%/năm. Còn kỳ hạn 3 tháng tăng 0,64 điểm phần trăm, lên 7,93%/năm.

Về thanh khoản, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức lớn, nhưng có xu hướng giảm so với tuần trước. Cụ thể, doanh số kỳ hạn qua đêm đạt khoảng 816,9 nghìn tỷ đồng, thấp hơn mức 1,12 triệu tỷ đồng ghi nhận cuối tuần trước, song vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm
Nguồn: SHS.

Trong báo cáo Triển vọng ngành ngân hàng 2026 với nhan đề "Tái định hình tăng trưởng", Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho rằng, áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro cần theo dõi.

Theo S&I Ratings, thanh khoản hệ thống được hỗ trợ mạnh thông qua kênh thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước và tiền gửi Kho bạc nhà nước. Kể từ giữa năm 2025, quy mô hỗ trợ ở cả hai kênh này đều đạt mức cao kỷ lục, với số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng quốc doanh đạt mức 406 nghìn tỷ đồng tại cuối quý IV/2025, trong khi giá trị lưu hành OMO thường xuyên trên 200 nghìn tỷ đồng.

"Tuy vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn liên tục neo cao hơn đáng kể so với lãi suất OMO, cho thấy căng thẳng thanh khoản vẫn còn hiện hữu. Năm 2026, chúng tôi cho rằng, tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) của hệ thống vẫn chịu áp lực" - S&I Ratings đánh giá.

Còn theo phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), mặc dù kênh nghiệp vụ thị trường mở đang duy trì quy mô hỗ trợ lớn, tiền gửi Kho bạc Nhà nước trong hệ thống ở mức cao, nhưng tăng trưởng tín dụng chưa cao. Sự “lệch pha” này cho thấy, vai trò điều tiết thanh khoản giai đoạn này hướng tới ổn định thị trường tiền tệ nhiều hơn là "bệ phóng" cho việc mở rộng tín dụng.

Về cơ chế, nguồn vốn từ thị trường mở chủ yếu mang tính kỳ hạn ngắn và có thể thay đổi nhanh theo điều tiết, còn tiền gửi Kho bạc phụ thuộc vào cấu trúc kỳ hạn, nên không đồng nghĩa với nền vốn ổn định đủ dài, để hệ thống tự tin đẩy mạnh tín dụng.

"Tại những giai đoạn mà lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, thị trường cần một “neo kỳ vọng” đủ rõ để hạn chế phản ứng phòng thủ thái quá, qua đó, giảm biến động cả về mặt tâm lý trên các thị trường lãi suất và tỷ giá" - nhóm phân tích của SHS đặt vấn đề.

USD phục hồi, tỷ giá bán ra tiến sát trần

Về diễn biến trên thị trường ngoại hối, ngày 6/3, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.057 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá trần và sàn trong ngày lần lượt là 26.310 VND/USD và 23.804 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 2-6/3: Lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%, đảo chiều bơm ròng thanh khoản
Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3 ghi nhận nhiều biến động. Ảnh minh họa.

Trong tuần, tỷ giá USD/VND tiếp tục xu hướng tăng trên các kênh. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 13 đồng, đảo chiều so với 5 tuần giảm ròng rã trước đó.

Ở thị trường tự do, đà tăng mạnh hơn, giao dịch quanh 26.850 - 26.900 VND/USD, tương đương tăng 220 đồng trong tuần, sau khi đã tăng mạnh 430 đồng trong tuần trước.

Tỷ giá USD tại Vietcombank và BIDV cùng bán ra ở mức sát trần 26.309 VND/USD, niêm yết lần lượt là 25.999 - 26.309 VND/USD; 26.029 - 26.309 VND/USD, cùng tăng 179 đồng chiều mua và 79 đồng chiều bán.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - tăng 0,31%, lên 99,36 điểm. Đồng USD ghi nhận đà phục hồi, diễn biến này chủ yếu xuất phát xung đột Trung Đông. Trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu biến động, khi cổ phiếu, trái phiếu và thậm chí có thời điểm cả kim loại quý cùng suy giảm, USD nổi lên như một trong số ít tài sản giữ giá tốt.

Bên cạnh đó, giá năng lượng tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông cũng làm gia tăng lo ngại về nguy cơ lạm phát quay trở lại. Diễn biến này có thể tác động đến kỳ vọng chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn.

Các ngoại tệ khác ghi nhận diễn biến trái chiều. Tỷ giá EUR, GBP giảm tại cả Vietcombank và BIDV; ngược lại, tỷ giá CNY tăng nhẹ./.

Theo đánh giá của nhóm phân tích SHS, sau giai đoạn cận Tết ghi nhận mức hạ nhiệt tương đối, tỷ giá USD/VND có xu hướng nhích lên trở lại sau kỳ nghỉ. Dòng cung ngoại tệ vốn thường mạnh hơn trước Tết dần trở về nhịp bình thường sau kỳ nghỉ. Tỷ giá từ sau Tết ghi nhận áp lực ngắn hạn đã quay lại trong bối cảnh thị trường nhạy cảm hơn với biến động bên ngoài.

Đáng chú ý, cú sốc địa chính trị tại Trung Đông là một sự kiện rủi ro khó định lượng trước và đã khiến USD phục hồi vai trò trú ẩn, qua đó kéo DXY tăng và có thể phục hồi vai trò của petrodolla (cơ chế giao dịch dầu mỏ được định giá và thanh toán bằng USD) trong tương lai.

Cơ chế truyền dẫn chủ đạo là trạng thái né tránh rủi ro toàn cầu, trong đó Euro và đồng Yên chịu bất lợi tương đối do nhạy cảm hơn với chi phí năng lượng; đồng thời, kỳ vọng nới lỏng chính sách tiền tệ của Mỹ có xu hướng bị điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn khi rủi ro lạm phát từ giá năng lượng gia tăng.

"Tỷ giá có diễn biến căng thẳng giai đoạn vừa qua và có thể vẫn tiếp tục trong thời gian tới, nhưng nhiều khả năng không biến động vượt quá 26.550 đồng" - nhóm phân tích của SHS đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

Tỷ giá USD hôm nay (8/8): DXY xuống đáy 7 tuần khi Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm, tỷ giá trung tâm vẫn lập đỉnh

(TBTCO) - Sáng 8/8, tỷ giá trung tâm tiếp tục lập đỉnh lịch sử mới tại 25.463 đồng, tăng 125 đồng chỉ sau một tuần. Trái chiều, tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng đồng loạt giảm, còn chỉ số DXY lùi về mức thấp nhất 7 tuần còn 99,6 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực sau khi kinh tế Mỹ bất ngờ mất 23.000 việc làm trong tháng 7 và Nhật Bản can thiệp hỗ trợ đồng yên.
Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
Tỷ giá USD hôm nay (7/8): USD ngân hàng bán ra cách xa trần 300 đồng, DXY hồi nhẹ trước dữ liệu việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (7/8): USD ngân hàng bán ra cách xa trần 300 đồng, DXY hồi nhẹ trước dữ liệu việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 7/8, tỷ giá trung tâm tăng mạnh thêm 30 đồng lên 25.463 đồng, trong khi giá bán USD tại nhiều ngân hàng lớn thấp xa tỷ giá trần hơn 300 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,28% lên 99,65 điểm, nhà đầu tư đang chờ báo cáo bảng lương phi nông nghiệp tháng 7, yếu tố được kỳ vọng sẽ định hướng chính sách lãi suất của Fed trong thời gian tới.
Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

Tỷ giá USD hôm nay (6/8): Tỷ giá trung tâm lập đỉnh mới 25.433 đồng, DXY xuống mức thấp nhất 7 tuần

(TBTCO) - Sáng 6/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.433 đồng, tăng thêm 28 đồng và tiếp tục lập đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD tại các ngân hàng và thị trường tự do vẫn diễn biến trái chiều. Chỉ số DXY giảm 0,19% xuống 99,69 điểm, khi kỳ vọng Mỹ - Iran đạt tiến triển hòa bình và Iran - Oman đạt thỏa thuận về eo biển Hormuz gây áp lực lên đồng USD.
Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (5/8): Tỷ giá trung tâm lên 25.405 đồng, giới đầu tư dồn sự chú ý vào báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/8, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng thêm 25 đồng, lên 25.405 đồng/USD, tiếp tục lập mức cao mới, trong khi giá bán USD tại các ngân hàng vẫn thấp hơn tỷ giá trần trên 200 đồng. Chỉ số DXY nhích 0,03% lên 99,88 điểm khi nhà đầu tư theo dõi triển vọng đàm phán Mỹ - Iran và chờ báo cáo việc làm của Mỹ công bố vào thứ Sáu.
Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

Tỷ giá USD hôm nay (4/8): USD ngân hàng cách xa trần, đồng yên bật tăng sau đợt can thiệp thêm 34 tỷ USD

(TBTCO) - Sáng 4/8, tỷ giá trung tâm tăng mạnh thêm 22 đồng lên 25.380, trong khi tỷ giá USD thị trường tự do giảm mạnh, giá bán USD các ngân hàng thấp xa tỷ giá trần khoảng 180 đồng. Chỉ số DXY hồi nhẹ lên 99,97 điểm, đồng yên mạnh lên khi Nhật Bản được cho là chi thêm 34 tỷ USD can thiệp thị trường ngoại hối.
Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (3/8): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, USD xuống đáy 6 tuần khi chờ báo cáo việc làm Mỹ

(TBTCO) - Sáng 3/8, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.358 đồng, tăng 20 đồng so với phiên trước. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,24% xuống 99,66 điểm, khi đồng USD lùi về mức thấp nhất trong 6 tuần. Thị trường đang hướng sự chú ý tới báo cáo việc làm phi nông nghiệp (NFP) tháng 7.
Tỷ giá USD hôm nay (1/8): Tỷ giá trung tâm tăng dù DXY suy yếu, Nhật Bản được ước tính đã dùng 53 tỷ USD hỗ trợ đồng yên

Tỷ giá USD hôm nay (1/8): Tỷ giá trung tâm tăng dù DXY suy yếu, Nhật Bản được ước tính đã dùng 53 tỷ USD hỗ trợ đồng yên

(TBTCO) - Sáng 1/8, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.338 đồng/USD, lập đỉnh lịch sử và đánh dấu tuần tăng thứ 12 liên tiếp; trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do đồng loạt giảm. Tuần qua, cả 3 ngân hàng trung ương cùng giữ nguyên lãi suất, trong khi Nhật Bản được ước tính đã can thiệp khoảng 53 tỷ USD để hỗ trợ đồng yên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,000 ▲1000K 144,900 ▲900K
Hà Nội - PNJ 141,000 ▲1000K 144,900 ▲900K
Đà Nẵng - PNJ 141,000 ▲1000K 144,900 ▲900K
Miền Tây - PNJ 141,000 ▲1000K 144,900 ▲900K
Tây Nguyên - PNJ 141,000 ▲1000K 144,900 ▲900K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,000 ▲1000K 144,900 ▲900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▲140K 14,550 ▲140K
NL 99.99 13,500 ▲200K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲200K
Trang sức 99.9 13,860 ▲140K 14,460 ▲140K
Trang sức 99.99 13,870 ▲140K 14,470 ▲140K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 142 ▼1269K 14,502 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 142 ▼1269K 14,503 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,415 ▲9K 1,445 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,415 ▲9K 1,446 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,385 ▲9K 143 ▼1278K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,584 ▲891K 141,584 ▲891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,611 ▲675K 107,411 ▲675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 876 ▼86112K 974 ▼95814K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,589 ▲69885K 87,389 ▲78705K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,727 ▲524K 83,527 ▲524K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,987 ▲375K 59,787 ▲375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 142 ▼1269K 145 ▼1296K
Cập nhật: 11/08/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17898 18172 18749
CAD 18225 18501 19123
CHF 31607 31987 32631
CNY 0 3840 3940
EUR 29533 29755 30835
GBP 34503 34895 35831
HKD 0 3200 3402
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15072 15658
SGD 19870 20152 20730
THB 706 769 823
USD (1,2) 25869 0 0
USD (5,10,20) 25909 0 0
USD (50,100) 25937 25951 26318
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,572 29,596 30,998
JPY 159.65 159.94 169.61
GBP 34,665 34,759 35,964
AUD 18,102 18,167 18,852
CAD 18,408 18,467 19,148
CHF 31,854 31,953 32,896
SGD 19,988 20,050 20,843
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,264 3,274 3,411
KRW 17.02 17.75 19.32
THB 754.32 763.64 817.59
NZD 15,040 15,180 15,634
SEK - 2,706 2,802
DKK - 3,967 4,106
NOK - 2,706 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,966.71 - 6,734.18
TWD 731.83 - 886.56
SAR - 6,842.36 7,206.95
KWD - 82,816 88,117
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,950 25,970 26,350
EUR 29,639 29,758 30,952
GBP 34,709 34,848 35,881
HKD 3,266 3,279 3,396
CHF 31,748 31,875 32,801
JPY 160.36 161 168.90
AUD 18,101 18,174 18,770
SGD 20,078 20,159 20,754
THB 773 776 813
CAD 18,431 18,505 19,094
NZD 15,139 15,685
KRW 17.68 19.67
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25940 25940 26310
AUD 18073 18173 19101
CAD 18392 18492 19505
CHF 31819 31849 33439
CNY 3812.1 3837.1 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29689 29719 31444
GBP 34774 34824 36581
HKD 0 3355 0
JPY 160.49 160.99 171.54
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20018 20148 20871
THB 0 735 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14200000 14200000 14550000
SBJ 12500000 12500000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,978 26,028 26,320
USD20 25,928 26,028 26,715
USD1 25,878 26,028 26,765
AUD 18,171 18,271 19,384
EUR 29,561 29,661 31,320
CAD 18,335 18,435 19,741
SGD 20,139 20,289 20,843
JPY 162.06 163.56 169.14
GBP 34,676 34,826 35,899
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,727 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/08/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80