Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm

(TBTCO) - Tuần qua (2/3 - 6/3), thị trường tiền tệ ghi nhận nhiều biến động khi diễn ra xung đột Trung Đông, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng, đảo chiều sau 5 tuần giảm và tỷ giá bán ra tại ngân hàng tiến sát trần do đồng USD phục hồi. Cùng lúc, áp lực thanh khoản hệ thống chưa nguôi, lãi suất liên ngân hàng có thời điểm vượt 11%/năm, khối lượng phát hành kênh OMO có phiên trên 80 nghìn tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/2: Lãi suất qua đêm mất mốc 3%, hút ròng hơn 78.000 tỷ đồng sau Tết Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động

Lãi suất liên ngân hàng có phiên vượt 11%, áp lực thanh khoản chưa nguôi

Trong tuần qua, từ ngày 2/3 đến ngày 6/3, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ qua kênh thị trường mở (OMO) để điều tiết thanh khoản hệ thống.

Phiên đầu tuần (ngày 2/3), khối lượng phát hành qua kênh OMO vọt lên 82,6 nghìn tỷ đồng, mức cao kỷ lục, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng dựng đứng. Sau đó, quy mô phát hành giảm nhanh qua các phiên, xuống còn khoảng 8 nghìn tỷ đồng vào ngày 6/3.

Tính chung khối lượng trúng thầu đạt mức cao 170.277 tỷ đồng, gồm 60.171 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày; 64.714 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày; còn lại là kỳ hạn 21 ngày và 56 ngày. Lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lớn, lên tới 166.094,94 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ khoảng 4.181,72 tỷ đồng trong tuần, trái ngược với tuần trước hút ròng mạnh 78 nghìn tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy, nhà điều hành vẫn duy trì trạng thái thắt chặt thanh khoản ở mức độ vừa phải, đồng thời giảm dần quy mô can thiệp khi áp lực thị trường có dấu hiệu hạ nhiệt.

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh và tăng so với cuối tuần trước, phản ánh áp lực thanh khoản trong hệ thống có thời điểm gia tăng. Kết thúc phiên 6/3, lãi suất qua đêm ở mức 5,74%/năm, tăng 1,04 điểm phần trăm so với mức 4,7% của cuối tuần trước, dù đã giảm mạnh so với các phiên đầu tuần khi có thời điểm vượt 11%/năm.

Ở các kỳ hạn dài hơn, lãi suất liên ngân hàng phân hóa mạnh. Kỳ hạn 1 tuần giảm 0,49 điểm phần trăm, xuống 6,07%/năm; trong khi kỳ hạn 2 tuần tăng 1,39 điểm phần trăm, lên 7,75%/năm; kỳ hạn 1 tháng giảm nhẹ 0,13 điểm phần trăm, xuống 7,06%/năm. Còn kỳ hạn 3 tháng tăng 0,64 điểm phần trăm, lên 7,93%/năm.

Về thanh khoản, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức lớn, nhưng có xu hướng giảm so với tuần trước. Cụ thể, doanh số kỳ hạn qua đêm đạt khoảng 816,9 nghìn tỷ đồng, thấp hơn mức 1,12 triệu tỷ đồng ghi nhận cuối tuần trước, song vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm
Nguồn: SHS.

Trong báo cáo Triển vọng ngành ngân hàng 2026 với nhan đề "Tái định hình tăng trưởng", Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho rằng, áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro cần theo dõi.

Theo S&I Ratings, thanh khoản hệ thống được hỗ trợ mạnh thông qua kênh thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước và tiền gửi Kho bạc nhà nước. Kể từ giữa năm 2025, quy mô hỗ trợ ở cả hai kênh này đều đạt mức cao kỷ lục, với số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng quốc doanh đạt mức 406 nghìn tỷ đồng tại cuối quý IV/2025, trong khi giá trị lưu hành OMO thường xuyên trên 200 nghìn tỷ đồng.

"Tuy vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn liên tục neo cao hơn đáng kể so với lãi suất OMO, cho thấy căng thẳng thanh khoản vẫn còn hiện hữu. Năm 2026, chúng tôi cho rằng, tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) của hệ thống vẫn chịu áp lực" - S&I Ratings đánh giá.

Còn theo phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), mặc dù kênh nghiệp vụ thị trường mở đang duy trì quy mô hỗ trợ lớn, tiền gửi Kho bạc Nhà nước trong hệ thống ở mức cao, nhưng tăng trưởng tín dụng chưa cao. Sự “lệch pha” này cho thấy, vai trò điều tiết thanh khoản giai đoạn này hướng tới ổn định thị trường tiền tệ nhiều hơn là "bệ phóng" cho việc mở rộng tín dụng.

Về cơ chế, nguồn vốn từ thị trường mở chủ yếu mang tính kỳ hạn ngắn và có thể thay đổi nhanh theo điều tiết, còn tiền gửi Kho bạc phụ thuộc vào cấu trúc kỳ hạn, nên không đồng nghĩa với nền vốn ổn định đủ dài, để hệ thống tự tin đẩy mạnh tín dụng.

"Tại những giai đoạn mà lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, thị trường cần một “neo kỳ vọng” đủ rõ để hạn chế phản ứng phòng thủ thái quá, qua đó, giảm biến động cả về mặt tâm lý trên các thị trường lãi suất và tỷ giá" - nhóm phân tích của SHS đặt vấn đề.

USD phục hồi, tỷ giá bán ra tiến sát trần

Về diễn biến trên thị trường ngoại hối, ngày 6/3, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.057 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá trần và sàn trong ngày lần lượt là 26.310 VND/USD và 23.804 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 2-6/3: Lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%, đảo chiều bơm ròng thanh khoản
Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3 ghi nhận nhiều biến động. Ảnh minh họa.

Trong tuần, tỷ giá USD/VND tiếp tục xu hướng tăng trên các kênh. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 13 đồng, đảo chiều so với 5 tuần giảm ròng rã trước đó.

Ở thị trường tự do, đà tăng mạnh hơn, giao dịch quanh 26.850 - 26.900 VND/USD, tương đương tăng 220 đồng trong tuần, sau khi đã tăng mạnh 430 đồng trong tuần trước.

Tỷ giá USD tại Vietcombank và BIDV cùng bán ra ở mức sát trần 26.309 VND/USD, niêm yết lần lượt là 25.999 - 26.309 VND/USD; 26.029 - 26.309 VND/USD, cùng tăng 179 đồng chiều mua và 79 đồng chiều bán.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - tăng 0,31%, lên 99,36 điểm. Đồng USD ghi nhận đà phục hồi, diễn biến này chủ yếu xuất phát xung đột Trung Đông. Trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu biến động, khi cổ phiếu, trái phiếu và thậm chí có thời điểm cả kim loại quý cùng suy giảm, USD nổi lên như một trong số ít tài sản giữ giá tốt.

Bên cạnh đó, giá năng lượng tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông cũng làm gia tăng lo ngại về nguy cơ lạm phát quay trở lại. Diễn biến này có thể tác động đến kỳ vọng chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn.

Các ngoại tệ khác ghi nhận diễn biến trái chiều. Tỷ giá EUR, GBP giảm tại cả Vietcombank và BIDV; ngược lại, tỷ giá CNY tăng nhẹ./.

Theo đánh giá của nhóm phân tích SHS, sau giai đoạn cận Tết ghi nhận mức hạ nhiệt tương đối, tỷ giá USD/VND có xu hướng nhích lên trở lại sau kỳ nghỉ. Dòng cung ngoại tệ vốn thường mạnh hơn trước Tết dần trở về nhịp bình thường sau kỳ nghỉ. Tỷ giá từ sau Tết ghi nhận áp lực ngắn hạn đã quay lại trong bối cảnh thị trường nhạy cảm hơn với biến động bên ngoài.

Đáng chú ý, cú sốc địa chính trị tại Trung Đông là một sự kiện rủi ro khó định lượng trước và đã khiến USD phục hồi vai trò trú ẩn, qua đó kéo DXY tăng và có thể phục hồi vai trò của petrodolla (cơ chế giao dịch dầu mỏ được định giá và thanh toán bằng USD) trong tương lai.

Cơ chế truyền dẫn chủ đạo là trạng thái né tránh rủi ro toàn cầu, trong đó Euro và đồng Yên chịu bất lợi tương đối do nhạy cảm hơn với chi phí năng lượng; đồng thời, kỳ vọng nới lỏng chính sách tiền tệ của Mỹ có xu hướng bị điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn khi rủi ro lạm phát từ giá năng lượng gia tăng.

"Tỷ giá có diễn biến căng thẳng giai đoạn vừa qua và có thể vẫn tiếp tục trong thời gian tới, nhưng nhiều khả năng không biến động vượt quá 26.550 đồng" - nhóm phân tích của SHS đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

(TBTCO) - Sáng 22/9, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng, lên 25.640 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY dao động rất hẹp quanh 100,43 điểm. Diễn biến thị trường được chú ý khi chính quyền Tổng thống Donald Trump đề xuất rót 5 tỷ USD vào quỹ hỗ trợ tái thiết hạ tầng Trung Đông, nhà đầu tư cũng chờ thêm tín hiệu từ các quan chức Fed để xác định hướng đi tiếp theo.
Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 21/9, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.637 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,23 điểm, duy trì vùng cao nhất khoảng 7 tuần. Tuần này, thị trường tập trung vào loạt dữ liệu kinh tế Mỹ, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Trung và các cuộc họp chính sách của nhiều ngân hàng trung ương lớn.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

(TBTCO) - Sáng 17/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.632 đồng, tỷ giá USD tại ngân hàng tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY cũng tăng mạnh 0,73%, lên 100,34 điểm. Fed nâng lãi suất 25 điểm cơ bản lên 3,75% - 4% với tỷ lệ nhất trí 12-0, đánh dấu lần tăng đầu tiên kể từ tháng 7/2023, đồng thời để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17693 17966 18540
CAD 17833 18107 18726
CHF 30694 31070 31704
CNY 0 3828 3924
EUR 28913 29132 30213
GBP 33525 33913 34858
HKD 0 3182 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14377 14965
SGD 19767 20049 20627
THB 692 755 809
USD (1,2) 25722 0 0
USD (5,10,20) 25761 0 0
USD (50,100) 25789 25803 26169
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 17871 17971 18896
CAD 18010 18110 19124
CHF 30921 30951 32537
CNY 3809.4 3834.4 3969.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29084 29114 30837
GBP 33814 33864 35635
HKD 0 3315 0
JPY 160.54 161.04 171.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14483 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19925 20055 20778
THB 0 721.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30