Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tuần qua (2/3 - 6/3), thị trường tiền tệ ghi nhận nhiều biến động khi diễn ra xung đột Trung Đông, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng, đảo chiều sau 5 tuần giảm và tỷ giá bán ra tại ngân hàng tiến sát trần do đồng USD phục hồi. Cùng lúc, áp lực thanh khoản hệ thống chưa nguôi, lãi suất liên ngân hàng có thời điểm vượt 11%/năm, khối lượng phát hành kênh OMO có phiên trên 80 nghìn tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/2: Lãi suất qua đêm mất mốc 3%, hút ròng hơn 78.000 tỷ đồng sau Tết Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động

Lãi suất liên ngân hàng có phiên vượt 11%, áp lực thanh khoản chưa nguôi

Trong tuần qua, từ ngày 2/3 đến ngày 6/3, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ qua kênh thị trường mở (OMO) để điều tiết thanh khoản hệ thống.

Phiên đầu tuần (ngày 2/3), khối lượng phát hành qua kênh OMO vọt lên 82,6 nghìn tỷ đồng, mức cao kỷ lục, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng dựng đứng. Sau đó, quy mô phát hành giảm nhanh qua các phiên, xuống còn khoảng 8 nghìn tỷ đồng vào ngày 6/3.

Tính chung khối lượng trúng thầu đạt mức cao 170.277 tỷ đồng, gồm 60.171 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày; 64.714 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày; còn lại là kỳ hạn 21 ngày và 56 ngày. Lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lớn, lên tới 166.094,94 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ khoảng 4.181,72 tỷ đồng trong tuần, trái ngược với tuần trước hút ròng mạnh 78 nghìn tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy, nhà điều hành vẫn duy trì trạng thái thắt chặt thanh khoản ở mức độ vừa phải, đồng thời giảm dần quy mô can thiệp khi áp lực thị trường có dấu hiệu hạ nhiệt.

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh và tăng so với cuối tuần trước, phản ánh áp lực thanh khoản trong hệ thống có thời điểm gia tăng. Kết thúc phiên 6/3, lãi suất qua đêm ở mức 5,74%/năm, tăng 1,04 điểm phần trăm so với mức 4,7% của cuối tuần trước, dù đã giảm mạnh so với các phiên đầu tuần khi có thời điểm vượt 11%/năm.

Ở các kỳ hạn dài hơn, lãi suất liên ngân hàng phân hóa mạnh. Kỳ hạn 1 tuần giảm 0,49 điểm phần trăm, xuống 6,07%/năm; trong khi kỳ hạn 2 tuần tăng 1,39 điểm phần trăm, lên 7,75%/năm; kỳ hạn 1 tháng giảm nhẹ 0,13 điểm phần trăm, xuống 7,06%/năm. Còn kỳ hạn 3 tháng tăng 0,64 điểm phần trăm, lên 7,93%/năm.

Về thanh khoản, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức lớn, nhưng có xu hướng giảm so với tuần trước. Cụ thể, doanh số kỳ hạn qua đêm đạt khoảng 816,9 nghìn tỷ đồng, thấp hơn mức 1,12 triệu tỷ đồng ghi nhận cuối tuần trước, song vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm
Nguồn: SHS.

Trong báo cáo Triển vọng ngành ngân hàng 2026 với nhan đề "Tái định hình tăng trưởng", Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho rằng, áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro cần theo dõi.

Theo S&I Ratings, thanh khoản hệ thống được hỗ trợ mạnh thông qua kênh thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước và tiền gửi Kho bạc nhà nước. Kể từ giữa năm 2025, quy mô hỗ trợ ở cả hai kênh này đều đạt mức cao kỷ lục, với số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng quốc doanh đạt mức 406 nghìn tỷ đồng tại cuối quý IV/2025, trong khi giá trị lưu hành OMO thường xuyên trên 200 nghìn tỷ đồng.

"Tuy vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn liên tục neo cao hơn đáng kể so với lãi suất OMO, cho thấy căng thẳng thanh khoản vẫn còn hiện hữu. Năm 2026, chúng tôi cho rằng, tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) của hệ thống vẫn chịu áp lực" - S&I Ratings đánh giá.

Còn theo phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), mặc dù kênh nghiệp vụ thị trường mở đang duy trì quy mô hỗ trợ lớn, tiền gửi Kho bạc Nhà nước trong hệ thống ở mức cao, nhưng tăng trưởng tín dụng chưa cao. Sự “lệch pha” này cho thấy, vai trò điều tiết thanh khoản giai đoạn này hướng tới ổn định thị trường tiền tệ nhiều hơn là "bệ phóng" cho việc mở rộng tín dụng.

Về cơ chế, nguồn vốn từ thị trường mở chủ yếu mang tính kỳ hạn ngắn và có thể thay đổi nhanh theo điều tiết, còn tiền gửi Kho bạc phụ thuộc vào cấu trúc kỳ hạn, nên không đồng nghĩa với nền vốn ổn định đủ dài, để hệ thống tự tin đẩy mạnh tín dụng.

"Tại những giai đoạn mà lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, thị trường cần một “neo kỳ vọng” đủ rõ để hạn chế phản ứng phòng thủ thái quá, qua đó, giảm biến động cả về mặt tâm lý trên các thị trường lãi suất và tỷ giá" - nhóm phân tích của SHS đặt vấn đề.

USD phục hồi, tỷ giá bán ra tiến sát trần

Về diễn biến trên thị trường ngoại hối, ngày 6/3, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.057 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá trần và sàn trong ngày lần lượt là 26.310 VND/USD và 23.804 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 2-6/3: Lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%, đảo chiều bơm ròng thanh khoản
Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3 ghi nhận nhiều biến động. Ảnh minh họa.

Trong tuần, tỷ giá USD/VND tiếp tục xu hướng tăng trên các kênh. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 13 đồng, đảo chiều so với 5 tuần giảm ròng rã trước đó.

Ở thị trường tự do, đà tăng mạnh hơn, giao dịch quanh 26.850 - 26.900 VND/USD, tương đương tăng 220 đồng trong tuần, sau khi đã tăng mạnh 430 đồng trong tuần trước.

Tỷ giá USD tại Vietcombank và BIDV cùng bán ra ở mức sát trần 26.309 VND/USD, niêm yết lần lượt là 25.999 - 26.309 VND/USD; 26.029 - 26.309 VND/USD, cùng tăng 179 đồng chiều mua và 79 đồng chiều bán.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - tăng 0,31%, lên 99,36 điểm. Đồng USD ghi nhận đà phục hồi, diễn biến này chủ yếu xuất phát xung đột Trung Đông. Trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu biến động, khi cổ phiếu, trái phiếu và thậm chí có thời điểm cả kim loại quý cùng suy giảm, USD nổi lên như một trong số ít tài sản giữ giá tốt.

Bên cạnh đó, giá năng lượng tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông cũng làm gia tăng lo ngại về nguy cơ lạm phát quay trở lại. Diễn biến này có thể tác động đến kỳ vọng chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn.

Các ngoại tệ khác ghi nhận diễn biến trái chiều. Tỷ giá EUR, GBP giảm tại cả Vietcombank và BIDV; ngược lại, tỷ giá CNY tăng nhẹ./.

Theo đánh giá của nhóm phân tích SHS, sau giai đoạn cận Tết ghi nhận mức hạ nhiệt tương đối, tỷ giá USD/VND có xu hướng nhích lên trở lại sau kỳ nghỉ. Dòng cung ngoại tệ vốn thường mạnh hơn trước Tết dần trở về nhịp bình thường sau kỳ nghỉ. Tỷ giá từ sau Tết ghi nhận áp lực ngắn hạn đã quay lại trong bối cảnh thị trường nhạy cảm hơn với biến động bên ngoài.

Đáng chú ý, cú sốc địa chính trị tại Trung Đông là một sự kiện rủi ro khó định lượng trước và đã khiến USD phục hồi vai trò trú ẩn, qua đó kéo DXY tăng và có thể phục hồi vai trò của petrodolla (cơ chế giao dịch dầu mỏ được định giá và thanh toán bằng USD) trong tương lai.

Cơ chế truyền dẫn chủ đạo là trạng thái né tránh rủi ro toàn cầu, trong đó Euro và đồng Yên chịu bất lợi tương đối do nhạy cảm hơn với chi phí năng lượng; đồng thời, kỳ vọng nới lỏng chính sách tiền tệ của Mỹ có xu hướng bị điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn khi rủi ro lạm phát từ giá năng lượng gia tăng.

"Tỷ giá có diễn biến căng thẳng giai đoạn vừa qua và có thể vẫn tiếp tục trong thời gian tới, nhưng nhiều khả năng không biến động vượt quá 26.550 đồng" - nhóm phân tích của SHS đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (15/4): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ còn 25.103 đồng, DXY lùi về vùng 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 15/4, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 3 đồng về 25.103 VND/USD, trong khi thị trường tự do giữ ổn định quanh 26.860 - 26.910 VND/USD. Đồng USD suy yếu trên thị trường quốc tế khi chỉ số DXY lùi về vùng 98 điểm, trong bối cảnh kỳ vọng nối lại đàm phán Mỹ - Iran và bất định chính sách Fed, qua đó hỗ trợ EUR, GBP phục hồi nhẹ.
Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

Đồng loạt 26 ngân hàng giảm lãi suất, tín dụng tăng 3,18% sau quý I/2026

(TBTCO) - Thông tin từ họp báo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, ngay sau cuộc họp với tân Thống đốc, khoảng 26 ngân hàng thương mại đã đồng loạt giảm lãi suất niêm yết trên cả kênh trực tiếp và trực tuyến. Tín dụng toàn hệ thống tiếp tục tăng tốc, dư nợ đến cuối tháng 3/2026 vượt 19,18 triệu tỷ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025.
Tỷ giá USD hôm nay (13/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ đầu tuần, DXY suy yếu nhẹ

Tỷ giá USD hôm nay (13/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ đầu tuần, DXY suy yếu nhẹ

(TBTCO) - Sáng 13/4, tỷ giá trung tâm tăng nhẹ 1 đồng lên 25.106 VND/USD trong phiên đầu tuần. Với biên độ 5%, tỷ giá USD tại các ngân hàng được phép dao động trong khoảng 23.850,7 - 26.361,3 VND/USD. Trên thị trường quốc tế, áp lực tỷ giá phần nào hạ nhiệt khi chỉ số DXY giảm 0,17% xuống 98,65 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (11/4): Tỷ giá USD tự do rớt xa mốc 27.000 đồng, cùng đà giảm của DXY

Tỷ giá USD hôm nay (11/4): Tỷ giá USD tự do rớt xa mốc 27.000 đồng, cùng đà giảm của DXY

(TBTCO) - Sáng 11/4, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng phiên cuối tuần lên 25.105 VND/USD, trong tuần biến động nhẹ 2 - 4 đồng/phiên. Tuần qua, tỷ giá USD tự do gây bất ngờ khi lao dốc gần 700 đồng và lùi sâu về vùng 26.800 - 26.830 VND/USD. Áp lực hạ nhiệt này cộng hưởng từ việc chỉ số DXY vừa ghi nhận tuần giảm điểm mạnh 1,54%, chốt tuần tại 98,68 điểm.
Thị trường tiền tệ tuần  6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

Thị trường tiền tệ tuần 6 - 10/4: Hút ròng hơn 66 nghìn tỷ đồng, tỷ giá USD tự do lao dốc tới 700 đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 6 - 10/4 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước chuyển sang hút ròng khoảng 66.258 tỷ đồng trên kênh thị trường mở, đảo chiều so với tuần trước. Lãi suất liên ngân hàng lùi về vùng 6 - 8%, thanh khoản hạ nhiệt nhưng áp lực vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá ổn định, USD tự do giảm sâu 700 đồng về quanh 26.800 - 26.830 VND/USD, còn chỉ số DXY suy yếu nhẹ.
Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

(TBTCO) - Sau cuộc họp điều hành chiều 9/4 của Ngân hàng Nhà nước, lãi suất huy động hạ nhiệt nhẹ, phổ biến giảm khoảng 0,5 điểm phần trăm tại một số ngân hàng, song mặt bằng tại nhiều nhà băng vẫn cao hơn tới gần 3 điểm phần trăm so với đầu đợt tăng lãi suất. Đáng chú ý, khi cộng ưu đãi "ngầm", lãi suất thực có thể tiệm cận 9%/năm, cho thấy áp lực thanh khoản và cạnh tranh huy động vẫn hiện hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (10/4): USD tự do mất mốc 27.000 đồng, DXY hưởng lợi từ lo ngại ngừng bắn mong manh

Tỷ giá USD hôm nay (10/4): USD tự do mất mốc 27.000 đồng, DXY hưởng lợi từ lo ngại ngừng bắn mong manh

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng xuống 25.105 VND/USD phiên cuối tuần. Trên thị trường tự do, tỷ giá VND/USD giao dịch phổ biến quanh 26.910 - 26.960 VND/USD, tiếp đà suy yếu khi mất mốc 27.000 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY ở mức 98,93 điểm, tăng 0,11%; USD thu hẹp đà giảm, phục hồi từ đáy 98,5 điểm trước lo ngại thỏa thuận ngừng bắn Mỹ - Iran mong manh.
Tỷ giá USD hôm nay (9/4): Tỷ giá trung tâm lùi về sát 25.000 đồng, DXY giằng co vì rủi ro xung đột Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (9/4): Tỷ giá trung tâm lùi về sát 25.000 đồng, DXY giằng co vì rủi ro xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Sáng ngày 9/4, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.102 VND/USD. Trong biên độ 5%, tỷ giá ngân hàng dao động 23.847 - 26.357 VND/USD, trong khi thị trường tự do rớt mất mốc 27.000 đồng. Chỉ số DXY quanh 99,07 điểm, biến động trước rủi ro địa chính trị, tình trạng gián đoạn tại eo biển Hormuz vẫn chưa được giải quyết triệt để, bất chấp lệnh ngừng bắn tạm thời.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
Kim TT/AVPL 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,770 ▼210K 17,120 ▼160K
Nguyên Liệu 99.99 15,500 ▼30K 15,700 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 15,450 ▼30K 15,650 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,360 ▼80K 16,760 ▼80K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,310 ▼80K 16,710 ▼80K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,240 ▼80K 16,690 ▼80K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Hà Nội - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Đà Nẵng - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Miền Tây - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Tây Nguyên - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
Đông Nam Bộ - PNJ 167,700 ▼2300K 170,700 ▼2300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,770 ▼230K 17,120 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 ▼280K 17,070 ▼230K
NL 99.90 15,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,260 ▼230K 16,960 ▼230K
Trang sức 99.99 16,270 ▼230K 16,970 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,677 ▲1507K 17,122 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,677 ▲1507K 17,123 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,672 ▼25K 1,707 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,672 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,652 ▼25K 1,692 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,025 ▲159390K 167,525 ▲167355K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,163 ▼1875K 127,063 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,318 ▼1700K 115,218 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,472 ▼1525K 103,372 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,903 ▼1458K 98,803 ▼1458K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,813 ▼1043K 70,713 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,677 ▲1507K 1,712 ▼23K
Cập nhật: 16/04/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18341 18616 19191
CAD 18642 18920 19536
CHF 32939 33324 33963
CNY 0 3800 3870
EUR 30381 30655 31680
GBP 34839 35232 36162
HKD 0 3233 3435
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15201 15783
SGD 20156 20439 20966
THB 738 801 855
USD (1,2) 26068 0 0
USD (5,10,20) 26109 0 0
USD (50,100) 26137 26157 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,357
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 30,621 30,646 31,925
JPY 161.7 161.99 170.77
GBP 35,192 35,287 36,293
AUD 18,622 18,689 19,284
CAD 18,883 18,944 19,528
CHF 33,384 33,488 34,273
SGD 20,350 20,413 21,100
CNY - 3,798 3,921
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.52 17.23 18.63
THB 787.87 797.6 849.56
NZD 15,260 15,402 15,766
SEK - 2,835 2,919
DKK - 4,097 4,218
NOK - 2,766 2,847
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,239.76 - 7,001.87
TWD 755.7 - 910.2
SAR - 6,916.81 7,244
KWD - 83,892 88,745
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 30,517 30,640 31,826
GBP 35,109 35,250 36,261
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,120 33,253 34,197
JPY 162.01 162.66 170
AUD 18,536 18,610 19,205
SGD 20,371 20,453 21,039
THB 803 806 842
CAD 18,830 18,906 19,479
NZD 15,318 15,852
KRW 17.11 18.80
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26227 26227 26357
AUD 18527 18627 19550
CAD 18827 18927 19941
CHF 33204 33234 34812
CNY 3800.7 3825.7 3961
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30566 30596 32322
GBP 35148 35198 36956
HKD 0 3355 0
JPY 162.04 162.54 173.05
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2850 0
SGD 20323 20453 21175
THB 0 767.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16720000 16720000 17120000
SBJ 15000000 15000000 17120000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,357
USD20 26,155 26,205 26,357
USD1 26,150 26,205 26,357
AUD 18,578 18,678 19,794
EUR 30,777 30,777 32,202
CAD 18,772 18,872 20,188
SGD 20,422 20,572 21,780
JPY 162.85 164.35 168.99
GBP 35,128 35,478 36,560
XAU 17,048,000 0 17,402,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 805 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/04/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80