Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tuần qua (2/3 - 6/3), thị trường tiền tệ ghi nhận nhiều biến động khi diễn ra xung đột Trung Đông, tỷ giá trung tâm tăng 13 đồng, đảo chiều sau 5 tuần giảm và tỷ giá bán ra tại ngân hàng tiến sát trần do đồng USD phục hồi. Cùng lúc, áp lực thanh khoản hệ thống chưa nguôi, lãi suất liên ngân hàng có thời điểm vượt 11%/năm, khối lượng phát hành kênh OMO có phiên trên 80 nghìn tỷ đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 23 - 27/2: Lãi suất qua đêm mất mốc 3%, hút ròng hơn 78.000 tỷ đồng sau Tết Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn USD mạnh lên giữa căng thẳng Trung Đông, điều hành tỷ giá linh hoạt để vượt biến động

Lãi suất liên ngân hàng có phiên vượt 11%, áp lực thanh khoản chưa nguôi

Trong tuần qua, từ ngày 2/3 đến ngày 6/3, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ qua kênh thị trường mở (OMO) để điều tiết thanh khoản hệ thống.

Phiên đầu tuần (ngày 2/3), khối lượng phát hành qua kênh OMO vọt lên 82,6 nghìn tỷ đồng, mức cao kỷ lục, trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng tăng dựng đứng. Sau đó, quy mô phát hành giảm nhanh qua các phiên, xuống còn khoảng 8 nghìn tỷ đồng vào ngày 6/3.

Tính chung khối lượng trúng thầu đạt mức cao 170.277 tỷ đồng, gồm 60.171 tỷ đồng kỳ hạn 7 ngày; 64.714 tỷ đồng kỳ hạn 14 ngày; còn lại là kỳ hạn 21 ngày và 56 ngày. Lãi suất duy trì ở mức 4,5%/năm.

Trong khi đó, khối lượng đáo hạn lớn, lên tới 166.094,94 tỷ đồng, khiến Ngân hàng Nhà nước bơm ròng nhẹ khoảng 4.181,72 tỷ đồng trong tuần, trái ngược với tuần trước hút ròng mạnh 78 nghìn tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy, nhà điều hành vẫn duy trì trạng thái thắt chặt thanh khoản ở mức độ vừa phải, đồng thời giảm dần quy mô can thiệp khi áp lực thị trường có dấu hiệu hạ nhiệt.

Tuần qua, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh và tăng so với cuối tuần trước, phản ánh áp lực thanh khoản trong hệ thống có thời điểm gia tăng. Kết thúc phiên 6/3, lãi suất qua đêm ở mức 5,74%/năm, tăng 1,04 điểm phần trăm so với mức 4,7% của cuối tuần trước, dù đã giảm mạnh so với các phiên đầu tuần khi có thời điểm vượt 11%/năm.

Ở các kỳ hạn dài hơn, lãi suất liên ngân hàng phân hóa mạnh. Kỳ hạn 1 tuần giảm 0,49 điểm phần trăm, xuống 6,07%/năm; trong khi kỳ hạn 2 tuần tăng 1,39 điểm phần trăm, lên 7,75%/năm; kỳ hạn 1 tháng giảm nhẹ 0,13 điểm phần trăm, xuống 7,06%/năm. Còn kỳ hạn 3 tháng tăng 0,64 điểm phần trăm, lên 7,93%/năm.

Về thanh khoản, doanh số giao dịch trên thị trường liên ngân hàng vẫn duy trì ở mức lớn, nhưng có xu hướng giảm so với tuần trước. Cụ thể, doanh số kỳ hạn qua đêm đạt khoảng 816,9 nghìn tỷ đồng, thấp hơn mức 1,12 triệu tỷ đồng ghi nhận cuối tuần trước, song vẫn chiếm tỷ trọng áp đảo.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3: Giá bán USD sát trần, lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%/năm
Nguồn: SHS.

Trong báo cáo Triển vọng ngành ngân hàng 2026 với nhan đề "Tái định hình tăng trưởng", Công ty cổ phần Xếp hạng tín nhiệm S&I (S&I Ratings) cho rằng, áp lực nhu cầu vốn kéo dài là rủi ro cần theo dõi.

Theo S&I Ratings, thanh khoản hệ thống được hỗ trợ mạnh thông qua kênh thị trường mở của Ngân hàng Nhà nước và tiền gửi Kho bạc nhà nước. Kể từ giữa năm 2025, quy mô hỗ trợ ở cả hai kênh này đều đạt mức cao kỷ lục, với số dư tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng quốc doanh đạt mức 406 nghìn tỷ đồng tại cuối quý IV/2025, trong khi giá trị lưu hành OMO thường xuyên trên 200 nghìn tỷ đồng.

"Tuy vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn liên tục neo cao hơn đáng kể so với lãi suất OMO, cho thấy căng thẳng thanh khoản vẫn còn hiện hữu. Năm 2026, chúng tôi cho rằng, tỷ lệ LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay/tổng tiền gửi) của hệ thống vẫn chịu áp lực" - S&I Ratings đánh giá.

Còn theo phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), mặc dù kênh nghiệp vụ thị trường mở đang duy trì quy mô hỗ trợ lớn, tiền gửi Kho bạc Nhà nước trong hệ thống ở mức cao, nhưng tăng trưởng tín dụng chưa cao. Sự “lệch pha” này cho thấy, vai trò điều tiết thanh khoản giai đoạn này hướng tới ổn định thị trường tiền tệ nhiều hơn là "bệ phóng" cho việc mở rộng tín dụng.

Về cơ chế, nguồn vốn từ thị trường mở chủ yếu mang tính kỳ hạn ngắn và có thể thay đổi nhanh theo điều tiết, còn tiền gửi Kho bạc phụ thuộc vào cấu trúc kỳ hạn, nên không đồng nghĩa với nền vốn ổn định đủ dài, để hệ thống tự tin đẩy mạnh tín dụng.

"Tại những giai đoạn mà lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh, thị trường cần một “neo kỳ vọng” đủ rõ để hạn chế phản ứng phòng thủ thái quá, qua đó, giảm biến động cả về mặt tâm lý trên các thị trường lãi suất và tỷ giá" - nhóm phân tích của SHS đặt vấn đề.

USD phục hồi, tỷ giá bán ra tiến sát trần

Về diễn biến trên thị trường ngoại hối, ngày 6/3, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.057 VND/USD, tăng 2 đồng so với phiên trước. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá trần và sàn trong ngày lần lượt là 26.310 VND/USD và 23.804 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 2-6/3: Lãi suất liên ngân hàng có lúc vượt 11%, đảo chiều bơm ròng thanh khoản
Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/3 ghi nhận nhiều biến động. Ảnh minh họa.

Trong tuần, tỷ giá USD/VND tiếp tục xu hướng tăng trên các kênh. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng 13 đồng, đảo chiều so với 5 tuần giảm ròng rã trước đó.

Ở thị trường tự do, đà tăng mạnh hơn, giao dịch quanh 26.850 - 26.900 VND/USD, tương đương tăng 220 đồng trong tuần, sau khi đã tăng mạnh 430 đồng trong tuần trước.

Tỷ giá USD tại Vietcombank và BIDV cùng bán ra ở mức sát trần 26.309 VND/USD, niêm yết lần lượt là 25.999 - 26.309 VND/USD; 26.029 - 26.309 VND/USD, cùng tăng 179 đồng chiều mua và 79 đồng chiều bán.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh của đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt - tăng 0,31%, lên 99,36 điểm. Đồng USD ghi nhận đà phục hồi, diễn biến này chủ yếu xuất phát xung đột Trung Đông. Trong bối cảnh thị trường tài chính toàn cầu biến động, khi cổ phiếu, trái phiếu và thậm chí có thời điểm cả kim loại quý cùng suy giảm, USD nổi lên như một trong số ít tài sản giữ giá tốt.

Bên cạnh đó, giá năng lượng tăng mạnh do căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông cũng làm gia tăng lo ngại về nguy cơ lạm phát quay trở lại. Diễn biến này có thể tác động đến kỳ vọng chính sách tiền tệ của các ngân hàng trung ương lớn.

Các ngoại tệ khác ghi nhận diễn biến trái chiều. Tỷ giá EUR, GBP giảm tại cả Vietcombank và BIDV; ngược lại, tỷ giá CNY tăng nhẹ./.

Theo đánh giá của nhóm phân tích SHS, sau giai đoạn cận Tết ghi nhận mức hạ nhiệt tương đối, tỷ giá USD/VND có xu hướng nhích lên trở lại sau kỳ nghỉ. Dòng cung ngoại tệ vốn thường mạnh hơn trước Tết dần trở về nhịp bình thường sau kỳ nghỉ. Tỷ giá từ sau Tết ghi nhận áp lực ngắn hạn đã quay lại trong bối cảnh thị trường nhạy cảm hơn với biến động bên ngoài.

Đáng chú ý, cú sốc địa chính trị tại Trung Đông là một sự kiện rủi ro khó định lượng trước và đã khiến USD phục hồi vai trò trú ẩn, qua đó kéo DXY tăng và có thể phục hồi vai trò của petrodolla (cơ chế giao dịch dầu mỏ được định giá và thanh toán bằng USD) trong tương lai.

Cơ chế truyền dẫn chủ đạo là trạng thái né tránh rủi ro toàn cầu, trong đó Euro và đồng Yên chịu bất lợi tương đối do nhạy cảm hơn với chi phí năng lượng; đồng thời, kỳ vọng nới lỏng chính sách tiền tệ của Mỹ có xu hướng bị điều chỉnh theo hướng thận trọng hơn khi rủi ro lạm phát từ giá năng lượng gia tăng.

"Tỷ giá có diễn biến căng thẳng giai đoạn vừa qua và có thể vẫn tiếp tục trong thời gian tới, nhưng nhiều khả năng không biến động vượt quá 26.550 đồng" - nhóm phân tích của SHS đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,700 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,750 ▲150K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18217 18492 19068
CAD 18617 18894 19511
CHF 32834 33219 33855
CNY 0 3832 3924
EUR 29993 30266 31291
GBP 34523 34915 35860
HKD 0 3234 3436
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15084 15666
SGD 20033 20315 20838
THB 723 786 839
USD (1,2) 26092 0 0
USD (5,10,20) 26134 0 0
USD (50,100) 26162 26182 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,149 26,149 26,389
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,236 30,260 31,531
JPY 161.58 161.87 170.75
GBP 34,787 34,881 35,889
AUD 18,505 18,572 19,173
CAD 18,866 18,927 19,518
CHF 33,217 33,320 34,117
SGD 20,213 20,276 20,966
CNY - 3,812 3,936
HKD 3,306 3,316 3,436
KRW 16.16 16.85 18.23
THB 771.95 781.48 832.43
NZD 15,143 15,284 15,654
SEK - 2,763 2,845
DKK - 4,046 4,166
NOK - 2,805 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,212.73 - 6,975.83
TWD 753.13 - 907.44
SAR - 6,921.2 7,250.88
KWD - 83,808 88,689
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26389
AUD 18396 18496 19421
CAD 18796 18896 19910
CHF 33070 33100 34687
CNY 3812.1 3837.1 3972.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30173 30203 31925
GBP 34830 34880 36633
HKD 0 3355 0
JPY 162.13 162.63 173.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20188 20318 21049
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,183 26,233 26,389
USD20 26,183 26,233 26,389
USD1 26,183 26,233 26,389
AUD 18,498 18,598 19,705
EUR 30,356 30,356 31,765
CAD 18,769 18,869 20,176
SGD 20,275 20,425 21,265
JPY 162.6 164.1 168.65
GBP 34,702 35,052 35,914
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80