Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn

(TBTCO) - Gần đây, việc lãi suất liên ngân hàng tăng vọt đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Lãi suất huy động tăng mạnh ở cả thị trường 1 và 2 cho thấy, thanh khoản của ngành ngân hàng đang chịu áp lực lớn.
aa

Bài toán cân đối vốn

Trong năm 2025, tốc độ mở rộng tín dụng vượt lên trên khả năng gia tăng tiền gửi của hệ thống, khiến bài toán cân đối nguồn vốn ngày càng trở nên thách thức đối với các ngân hàng. Trước áp lực đáp ứng nhu cầu cho vay trong khi vẫn phải tuân thủ các yêu cầu về thanh khoản, việc điều chỉnh lãi suất huy động để củng cố nguồn vốn đầu vào đang trở thành xu hướng phổ biến trong hệ thống ngân hàng.

Sự thay đổi bắt đầu thể hiện rõ hơn từ giai đoạn chuyển giao giữa quý III/2025 và quý IV/2025, khi động thái tăng lãi suất không còn diễn ra đơn lẻ, mà lan tỏa trên phạm vi toàn ngành.

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của các ngân hàng.

Khép lại năm 2025, tăng trưởng tín dụng đạt 19,01%, vượt xa mục tiêu 16% được đặt ra từ đầu năm, đánh dấu một năm mở rộng tín dụng mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, song hành với đà tăng trưởng ấn tượng của tín dụng là áp lực ngày càng lớn lên nguồn vốn, khiến bài toán cân đối vốn trở thành yếu tố then chốt, nhằm đảm bảo khả năng cho vay đi kèm với việc tuân thủ các quy định an toàn của hệ thống.

Lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng bình quân toàn ngành tăng từ 2,9%/năm trong quý I/2025 lên 3,07%/năm tại quý IV/2025. Đáng chú ý, nếu chỉ xét riêng nhóm ngân hàng tư nhân, biên độ điều chỉnh mạnh hơn, với mức tăng phổ biến trong khoảng 0,2 - 0,3%.

Độ trễ truyền dẫn lãi suất khiến chi phí vốn chịu sức ép trong các quý tới

Dù mức tăng hiện tại của chi phí vốn (COF) chưa lớn, cần lưu ý rằng, cơ cấu tiền gửi của hệ thống vẫn tập trung chủ yếu ở các kỳ hạn 3 - 6 tháng, khiến độ trễ trong quá trình truyền dẫn từ lãi suất huy động sang COF đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định. Theo đó, tác động của mặt bằng lãi suất huy động lên chi phí lãi của các ngân hàng nhiều khả năng sẽ được thể hiện rõ hơn trong giai đoạn quý I/2026 - quý II/2026.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất huy động bình quân toàn ngành tăng từ 4,06%/năm lên 4,22%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng ghi nhận mức tăng khiêm tốn hơn, từ 4,93%/năm lên 5,04%/năm, cho thấy áp lực điều chỉnh tập trung nhiều hơn ở các kỳ ngắn hạn.

So với quý III/2025, đà tăng lãi suất trong quý IV/2025 diễn ra trên phạm vi rộng hơn đáng kể. Thống kê từ các ngân hàng cho thấy, nếu trong quý III/2025 chỉ có khoảng 8/34 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động, thì sang quý IV/2025, con số này đã lên tới 28/34 ngân hàng. Diễn biến này cho thấy xu hướng nhích lên của mặt bằng lãi suất đã trở nên rõ nét và mang tính lan tỏa ra toàn ngành.

Chi phí vốn của ngành ngân hàng tăng rõ nét trong quý IV/2025

Báo cáo tài chính quý IV/2025 cũng cho thấy những chuyển động mới trong chi phí vốn (COF) của toàn ngành ngân hàng. Cụ thể, COF bình quân toàn ngành tăng lên mức 3,68% trong quý IV/2025, cao hơn rõ rệt so với mức 3,6% của cùng kỳ năm trước, phản ánh tác động của áp lực gia tăng lãi suất huy động lên chi phí vốn.

Trong bối cảnh chung, nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì mức COF ổn định nhất toàn ngành. Tại cuối quý IV/2025, COF của nhóm này ở mức 2,94%, đi ngang so với quý III/2025 cũng như so với cùng kỳ năm 2024.

Kết quả này chủ yếu đến từ việc các ngân hàng quốc doanh giữ mặt bằng lãi suất huy động tương đối ổn định trong suốt năm qua; dù có điều chỉnh, mức tăng nhìn chung chỉ dao động dưới 0,1%. Tuy nhiên, sự ổn định về chi phí vốn cũng đi kèm với những đánh đổi nhất định, khi tăng trưởng tiền gửi của nhóm có xu hướng chậm lại so với các ngân hàng tư nhân trong các quý gần đây.

Trái lại, khối ngân hàng tư nhân ghi nhận diễn biến COF phân hóa rõ nét giữa các phân khúc. Nhóm ngân hàng bán lẻ ghi nhận COF đạt 4,21% trong quý IV/2025, đồng thời là nhóm có biên độ tăng mạnh nhất, tăng từ mức 3,93% tại cuối năm 2024 và cao hơn khoảng 0,15% so với quý III/2025.

Trong khi đó, nhóm ngân hàng bán buôn ghi nhận mức tăng nhẹ, với COF đạt 4,06%, nhích thêm 0,07% so với cuối năm 2024. Ngoài ra, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ tiếp tục là nhóm có COF ở mức cao nhất ngành với biên điều chỉnh tương đối mạnh, tăng từ 4,63% cuối năm 2024 lên 4,76% tại cuối quý IV/2025.

Một điểm cần lưu ý là sự gia tăng mạnh trong chi phí vốn của các ngân hàng chuyên bán lẻ so với các ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp. Chi phí huy động vốn của 2 nhóm ngân hàng này khá tương đồng vào đầu năm 2025, nhưng mức chênh lệch đã nới ra dần qua các quý và hiện tại, mức chênh lệch trung bình là 0,15%.

Tại sao chi phí vốn tăng mạnh nhất ở các ngân hàng bán lẻ?

Các chỉ số thanh khoản, đặc biệt là tỷ lệ cho vay/tiền gửi (LDR), cũng ghi nhận xu hướng gia tăng rõ rệt trong năm 2025. Trong bối cảnh đó, áp lực cạnh tranh nhằm thu hút nguồn vốn tiền gửi đã khiến lãi suất huy động nhích lên trong những tháng cuối năm.

Diễn biến này ngày càng thể hiện rõ trong các số liệu gần đây, tập trung chủ yếu ở các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng - nhóm kỳ hạn phản ứng nhanh nhất trước những thay đổi của điều kiện thị trường. So với đầu năm, mặt bằng lãi suất tiền gửi tại nhiều ngân hàng đã ghi nhận xu hướng tăng lên một cách rõ ràng.

Ngoài nhóm các ngân hàng quốc doanh, thì các ngân hàng chuyên cho vay bán lẻ thuộc nhóm có tỷ lệ LDR cao nhất của hệ thống. Trong bối cảnh việc huy động không thể tăng kịp đã khiến tỷ lệ LDR tiếp tục chịu áp lực lớn. Để duy trì tỷ lệ huy động phục vụ việc đẩy mạnh cho vay cuối năm, các ngân hàng bán lẻ đã thực hiện điều chỉnh lãi suất trước tiên.

Một điểm nữa cần chú ý là cơ cấu huy động của các ngân hàng bán lẻ cũng có sự khác biệt lớn so với nhóm các ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp.

Trong khi nhóm các ngân hàng quốc doanh và nhóm ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp đẩy mạnh việc cho vay các tập đoàn kinh tế lớn và các hệ sinh thái doanh nghiệp, dòng tiền cho vay ra về cơ bản vẫn duy trì trong hệ thống của từng ngân hàng, thì các ngân hàng chuyên cho vay bán lẻ sẽ chủ yếu huy động từ khu vực cá nhân có tiền nhàn rỗi. Điều này khiến áp lực lên chi phí vốn của nhóm này cũng cao hơn.

Việc lãi suất tăng ở các thị trường là áp lực tất yếu của việc tín dụng gia tăng vượt quá khả năng huy động tiền gửi của hệ thống ngân hàng trong suốt nhiều năm qua. Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua đã liên tục bơm ròng qua kênh thị trường mở (OMO) để hỗ trợ thanh khoản, cũng như kéo lãi suất liên ngân hàng trở lại.

Các ngân hàng giờ đây không chỉ phải sàng lọc tăng trưởng tín dụng tốt, mà còn phải thận trọng trong kế hoạch nguồn vốn để đảm bảo hỗ trợ khả năng tăng trưởng, nhưng không bị bào mòn biên lãi ròng (NIM) từ chi phí đầu vào.

Khoảng cách giữa quy mô tín dụng và tiền gửi tiếp tục nới rộng

Thực tế cho thấy, khoảng cách giữa quy mô tín dụng và tiền gửi tiếp tục nới rộng và chưa có dấu hiệu được giải quyết triệt để kể từ khi tín dụng vượt tiền gửi vào giữa năm 2022. Tính đến tháng 9/2025, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 17,78 triệu tỷ đồng, trong khi tiền gửi chỉ đạt 16,18 triệu tỷ đồng, tương ứng mức chênh lệch khoảng 1,6 triệu tỷ đồng. Điều này cho thấy tốc độ mở rộng tín dụng vượt trội so với khả năng gia tăng nguồn vốn huy động, qua đó, làm gia tăng áp lực cân đối nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng.

Lê Hoài Ân - Nhà sáng lập Công ty cổ phần Giải pháp Tài chính Tích hợp (IFSS)

Đọc thêm

Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

(TBTCO) - Nghị định 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Những thay đổi mới về đối tượng phải mua bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu, nguyên tắc xác định phí và trách nhiệm của chủ đầu tư đang đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần chủ động hơn trong quản trị rủi ro công trình.
“VPBank tới rồi, mở “lời” ngay thôi” - chương trình nhiều điểm chạm trải nghiệm

“VPBank tới rồi, mở “lời” ngay thôi” - chương trình nhiều điểm chạm trải nghiệm

(TBTCO) - Một buổi mua sắm cuối tuần tại trung tâm thương mại vốn không phải thời điểm người ta nghĩ đến chuyện tìm hiểu sản phẩm ngân hàng. Tuy vậy, đây lại là lúc những nhu cầu tài chính quen thuộc nhất đang diễn ra: thanh toán một món đồ, lên kế hoạch cho khoản chi sắp tới, tìm cách sử dụng hiệu quả tiền trong tài khoản hay đơn giản là cân nhắc một phương thức thanh toán thuận tiện hơn.
Viettel chi gần 1.200 tỷ đồng mua cổ phiếu MBB, vốn điều lệ MB sắp vượt mốc 100.000 tỷ đồng

Viettel chi gần 1.200 tỷ đồng mua cổ phiếu MBB, vốn điều lệ MB sắp vượt mốc 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Viettel đăng ký chi hơn 1.184 tỷ đồng mua thêm hơn 118,4 triệu cổ phiếu MBB, với giá 10.000 đồng/cổ phiếu trong đợt chào bán cho cổ đông hiện hữu tỷ lệ 10:1, qua đó, dự kiến nâng sở hữu lên hơn 1,3 tỷ cổ phiếu. Nếu đợt chào bán hoàn tất, MB có thể huy động tổng cộng 8.055 tỷ đồng, đồng thời nâng vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng.
Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

Doanh thu cất cánh, lợi nhuận hãng hàng không chao đảo trước “bão” nhiên liệu

(TBTCO) - Sức ép chi phí đang phủ bóng ngành hàng không, khi khách tăng, doanh thu lập đỉnh nhưng lợi nhuận bị nhiên liệu “ăn mòn”. Giá nhiên liệu tăng mạnh khiến nhiều hãng từ lãi chuyển lỗ, buộc các hãng bay phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó, dù nhu cầu đi lại tiếp tục là lực đỡ cho thị trường.
“Tân binh” ACBI được cấp phép, ngân hàng ACB thêm “mảnh ghép” bảo hiểm phi nhân thọ

“Tân binh” ACBI được cấp phép, ngân hàng ACB thêm “mảnh ghép” bảo hiểm phi nhân thọ

(TBTCO) - ACB vừa công bố thành lập ACB Insurance (ACBI) với vốn điều lệ 500 tỷ đồng, hoạt động trong lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ; trong đó, ACBA nắm 91%, ACBS sở hữu 9%. ACBI đặt mục tiêu thị phần trên 1,5% sau 5 năm, doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 2.300 tỷ đồng vào năm 2030, qua đó, mở rộng hệ sinh thái và thúc đẩy nguồn thu ngoài lãi cho ngân hàng mẹ.
Phí bảo hiểm gốc tăng tốc mùa bán niên, lợi nhuận phân hóa mạnh

Phí bảo hiểm gốc tăng tốc mùa bán niên, lợi nhuận phân hóa mạnh

(TBTCO) - Nhóm bảo hiểm niêm yết ghi nhận kết quả bán niên tích cực, với phí bảo hiểm gốc tăng hai con số, chiếm 72,5% toàn thị trường. Các doanh nghiệp đẩy mạnh mở rộng kênh hợp tác, đa dạng mạng lưới phân phối để thúc đẩy doanh thu, song lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét.
Vì sao các ngân hàng đang theo đuổi mô hình tập đoàn tài chính?

Vì sao các ngân hàng đang theo đuổi mô hình tập đoàn tài chính?

(TBTCO) - Từ chỗ chỉ huy động vốn, cho vay và thanh toán, các ngân hàng ngày nay đang mở rộng sang chứng khoán, bảo hiểm, quản lý tài sản… để khai thác sâu hơn giá trị khách hàng và đa dạng hóa nguồn thu. Tại Việt Nam, VPBank là một trong những ngân hàng theo đuổi hướng đi này và đang từng bước gặt hái những kết quả rõ nét.
Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

Bảo hiểm nhúng: Từ siêu ứng dụng đến túi tiền người Việt

(TBTCO) - Không đại lý, không tư vấn, không giấy tờ - chỉ một cú chạm trên ứng dụng mua sắm, ông Phạm Trường Khánh - Tổng giám đốc Affina Việt Nam, trao đổi với Thời báo Tài chính Việt Nam về sự bứt tốc của bảo hiểm nhúng khi đang định hình lại cách người Việt tiếp cận bảo hiểm, và những điểm nghẽn doanh nghiệp cần vượt qua để biến "phí lẻ" thành lợi nhuận bền vững.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,000 147,500
Hà Nội - PNJ 144,000 147,500
Đà Nẵng - PNJ 144,000 147,500
Miền Tây - PNJ 144,000 147,500
Tây Nguyên - PNJ 144,000 147,500
Đông Nam Bộ - PNJ 144,000 147,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,460 14,810
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,460 14,810
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,460 14,810
NL 99.99 13,700
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,600
Trang sức 99.9 14,120 14,720
Trang sức 99.99 14,130 14,730
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 1,456
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,158 144,158
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,561 109,361
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,368 99,168
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,175 88,975
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,243 85,043
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,071 60,871
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 23/08/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18205 18480 19065
CAD 18439 18716 19342
CHF 31962 32343 32994
CNY 0 3840 3950
EUR 29877 30100 31187
GBP 34816 35209 36154
HKD 0 3201 3404
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15296 15889
SGD 20029 20312 20895
THB 714 777 831
USD (1,2) 25858 0 0
USD (5,10,20) 25898 0 0
USD (50,100) 25926 25940 26315
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,908 29,932 31,347
JPY 159.81 160.1 169.78
GBP 34,977 35,072 36,283
AUD 18,393 18,459 19,160
CAD 18,615 18,675 19,367
CHF 32,203 32,303 33,253
SGD 20,140 20,203 21,003
CNY - 3,811 3,957
HKD 3,264 3,274 3,411
KRW 17.37 18.11 19.71
THB 761.57 770.98 825.72
NZD 15,263 15,405 15,864
SEK - 2,711 2,808
DKK - 4,012 4,153
NOK - 2,763 2,861
LAK - 0.88 1.23
MYR 6,041.76 - 6,824.12
TWD 740.54 - 897.13
SAR - 6,837.63 7,202.05
KWD - 82,860 88,165
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,930 26,310
EUR 29,947 30,067 31,266
GBP 34,993 35,134 36,172
HKD 3,264 3,277 3,394
CHF 32,054 32,183 33,124
JPY 160.29 160.93 168.89
AUD 18,395 18,469 19,068
SGD 20,217 20,298 20,897
THB 779 782 819
CAD 18,630 18,705 19,303
NZD 15,360 15,909
KRW 18.03 20.01
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25920 25920 26320
AUD 18388 18488 19416
CAD 18620 18720 19737
CHF 32205 32235 33813
CNY 3826 3851 3986.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30058 30088 31811
GBP 35117 35167 36925
HKD 0 3330 0
JPY 160.81 161.31 171.84
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15404 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20187 20317 21048
THB 0 743.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14400000 14400000 14800000
SBJ 12500000 12500000 14800000
Cập nhật: 23/08/2026 05:00
Ngân hàng