Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn

(TBTCO) - Gần đây, việc lãi suất liên ngân hàng tăng vọt đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Lãi suất huy động tăng mạnh ở cả thị trường 1 và 2 cho thấy, thanh khoản của ngành ngân hàng đang chịu áp lực lớn.
aa

Bài toán cân đối vốn

Trong năm 2025, tốc độ mở rộng tín dụng vượt lên trên khả năng gia tăng tiền gửi của hệ thống, khiến bài toán cân đối nguồn vốn ngày càng trở nên thách thức đối với các ngân hàng. Trước áp lực đáp ứng nhu cầu cho vay trong khi vẫn phải tuân thủ các yêu cầu về thanh khoản, việc điều chỉnh lãi suất huy động để củng cố nguồn vốn đầu vào đang trở thành xu hướng phổ biến trong hệ thống ngân hàng.

Sự thay đổi bắt đầu thể hiện rõ hơn từ giai đoạn chuyển giao giữa quý III/2025 và quý IV/2025, khi động thái tăng lãi suất không còn diễn ra đơn lẻ, mà lan tỏa trên phạm vi toàn ngành.

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của các ngân hàng.

Khép lại năm 2025, tăng trưởng tín dụng đạt 19,01%, vượt xa mục tiêu 16% được đặt ra từ đầu năm, đánh dấu một năm mở rộng tín dụng mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, song hành với đà tăng trưởng ấn tượng của tín dụng là áp lực ngày càng lớn lên nguồn vốn, khiến bài toán cân đối vốn trở thành yếu tố then chốt, nhằm đảm bảo khả năng cho vay đi kèm với việc tuân thủ các quy định an toàn của hệ thống.

Lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng bình quân toàn ngành tăng từ 2,9%/năm trong quý I/2025 lên 3,07%/năm tại quý IV/2025. Đáng chú ý, nếu chỉ xét riêng nhóm ngân hàng tư nhân, biên độ điều chỉnh mạnh hơn, với mức tăng phổ biến trong khoảng 0,2 - 0,3%.

Độ trễ truyền dẫn lãi suất khiến chi phí vốn chịu sức ép trong các quý tới

Dù mức tăng hiện tại của chi phí vốn (COF) chưa lớn, cần lưu ý rằng, cơ cấu tiền gửi của hệ thống vẫn tập trung chủ yếu ở các kỳ hạn 3 - 6 tháng, khiến độ trễ trong quá trình truyền dẫn từ lãi suất huy động sang COF đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định. Theo đó, tác động của mặt bằng lãi suất huy động lên chi phí lãi của các ngân hàng nhiều khả năng sẽ được thể hiện rõ hơn trong giai đoạn quý I/2026 - quý II/2026.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất huy động bình quân toàn ngành tăng từ 4,06%/năm lên 4,22%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng ghi nhận mức tăng khiêm tốn hơn, từ 4,93%/năm lên 5,04%/năm, cho thấy áp lực điều chỉnh tập trung nhiều hơn ở các kỳ ngắn hạn.

So với quý III/2025, đà tăng lãi suất trong quý IV/2025 diễn ra trên phạm vi rộng hơn đáng kể. Thống kê từ các ngân hàng cho thấy, nếu trong quý III/2025 chỉ có khoảng 8/34 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động, thì sang quý IV/2025, con số này đã lên tới 28/34 ngân hàng. Diễn biến này cho thấy xu hướng nhích lên của mặt bằng lãi suất đã trở nên rõ nét và mang tính lan tỏa ra toàn ngành.

Chi phí vốn của ngành ngân hàng tăng rõ nét trong quý IV/2025

Báo cáo tài chính quý IV/2025 cũng cho thấy những chuyển động mới trong chi phí vốn (COF) của toàn ngành ngân hàng. Cụ thể, COF bình quân toàn ngành tăng lên mức 3,68% trong quý IV/2025, cao hơn rõ rệt so với mức 3,6% của cùng kỳ năm trước, phản ánh tác động của áp lực gia tăng lãi suất huy động lên chi phí vốn.

Trong bối cảnh chung, nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì mức COF ổn định nhất toàn ngành. Tại cuối quý IV/2025, COF của nhóm này ở mức 2,94%, đi ngang so với quý III/2025 cũng như so với cùng kỳ năm 2024.

Kết quả này chủ yếu đến từ việc các ngân hàng quốc doanh giữ mặt bằng lãi suất huy động tương đối ổn định trong suốt năm qua; dù có điều chỉnh, mức tăng nhìn chung chỉ dao động dưới 0,1%. Tuy nhiên, sự ổn định về chi phí vốn cũng đi kèm với những đánh đổi nhất định, khi tăng trưởng tiền gửi của nhóm có xu hướng chậm lại so với các ngân hàng tư nhân trong các quý gần đây.

Trái lại, khối ngân hàng tư nhân ghi nhận diễn biến COF phân hóa rõ nét giữa các phân khúc. Nhóm ngân hàng bán lẻ ghi nhận COF đạt 4,21% trong quý IV/2025, đồng thời là nhóm có biên độ tăng mạnh nhất, tăng từ mức 3,93% tại cuối năm 2024 và cao hơn khoảng 0,15% so với quý III/2025.

Trong khi đó, nhóm ngân hàng bán buôn ghi nhận mức tăng nhẹ, với COF đạt 4,06%, nhích thêm 0,07% so với cuối năm 2024. Ngoài ra, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ tiếp tục là nhóm có COF ở mức cao nhất ngành với biên điều chỉnh tương đối mạnh, tăng từ 4,63% cuối năm 2024 lên 4,76% tại cuối quý IV/2025.

Một điểm cần lưu ý là sự gia tăng mạnh trong chi phí vốn của các ngân hàng chuyên bán lẻ so với các ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp. Chi phí huy động vốn của 2 nhóm ngân hàng này khá tương đồng vào đầu năm 2025, nhưng mức chênh lệch đã nới ra dần qua các quý và hiện tại, mức chênh lệch trung bình là 0,15%.

Tại sao chi phí vốn tăng mạnh nhất ở các ngân hàng bán lẻ?

Các chỉ số thanh khoản, đặc biệt là tỷ lệ cho vay/tiền gửi (LDR), cũng ghi nhận xu hướng gia tăng rõ rệt trong năm 2025. Trong bối cảnh đó, áp lực cạnh tranh nhằm thu hút nguồn vốn tiền gửi đã khiến lãi suất huy động nhích lên trong những tháng cuối năm.

Diễn biến này ngày càng thể hiện rõ trong các số liệu gần đây, tập trung chủ yếu ở các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng - nhóm kỳ hạn phản ứng nhanh nhất trước những thay đổi của điều kiện thị trường. So với đầu năm, mặt bằng lãi suất tiền gửi tại nhiều ngân hàng đã ghi nhận xu hướng tăng lên một cách rõ ràng.

Ngoài nhóm các ngân hàng quốc doanh, thì các ngân hàng chuyên cho vay bán lẻ thuộc nhóm có tỷ lệ LDR cao nhất của hệ thống. Trong bối cảnh việc huy động không thể tăng kịp đã khiến tỷ lệ LDR tiếp tục chịu áp lực lớn. Để duy trì tỷ lệ huy động phục vụ việc đẩy mạnh cho vay cuối năm, các ngân hàng bán lẻ đã thực hiện điều chỉnh lãi suất trước tiên.

Một điểm nữa cần chú ý là cơ cấu huy động của các ngân hàng bán lẻ cũng có sự khác biệt lớn so với nhóm các ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp.

Trong khi nhóm các ngân hàng quốc doanh và nhóm ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp đẩy mạnh việc cho vay các tập đoàn kinh tế lớn và các hệ sinh thái doanh nghiệp, dòng tiền cho vay ra về cơ bản vẫn duy trì trong hệ thống của từng ngân hàng, thì các ngân hàng chuyên cho vay bán lẻ sẽ chủ yếu huy động từ khu vực cá nhân có tiền nhàn rỗi. Điều này khiến áp lực lên chi phí vốn của nhóm này cũng cao hơn.

Việc lãi suất tăng ở các thị trường là áp lực tất yếu của việc tín dụng gia tăng vượt quá khả năng huy động tiền gửi của hệ thống ngân hàng trong suốt nhiều năm qua. Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua đã liên tục bơm ròng qua kênh thị trường mở (OMO) để hỗ trợ thanh khoản, cũng như kéo lãi suất liên ngân hàng trở lại.

Các ngân hàng giờ đây không chỉ phải sàng lọc tăng trưởng tín dụng tốt, mà còn phải thận trọng trong kế hoạch nguồn vốn để đảm bảo hỗ trợ khả năng tăng trưởng, nhưng không bị bào mòn biên lãi ròng (NIM) từ chi phí đầu vào.

Khoảng cách giữa quy mô tín dụng và tiền gửi tiếp tục nới rộng

Thực tế cho thấy, khoảng cách giữa quy mô tín dụng và tiền gửi tiếp tục nới rộng và chưa có dấu hiệu được giải quyết triệt để kể từ khi tín dụng vượt tiền gửi vào giữa năm 2022. Tính đến tháng 9/2025, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 17,78 triệu tỷ đồng, trong khi tiền gửi chỉ đạt 16,18 triệu tỷ đồng, tương ứng mức chênh lệch khoảng 1,6 triệu tỷ đồng. Điều này cho thấy tốc độ mở rộng tín dụng vượt trội so với khả năng gia tăng nguồn vốn huy động, qua đó, làm gia tăng áp lực cân đối nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng.

Lê Hoài Ân - Nhà sáng lập Công ty cổ phần Giải pháp Tài chính Tích hợp (IFSS)

Đọc thêm

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

Ngân hàng Phát triển Việt Nam: 20 năm kiến tạo động lực tăng trưởng kinh tế - xã hội đất nước

(TBTCO) - “Mỗi giai đoạn hình thành và phát triển của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đều mang dấu ấn riêng, phản ánh những nỗ lực không ngừng trong việc thực hiện sứ mệnh đồng hành cùng đất nước” - đó là chia sẻ của Tổng Giám đốc VDB Đào Quang Trường với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư về chặng đường 20 năm hình thành và phát triển.
VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

VDB và hành trình làm “đòn bẩy” cho các dự án trọng điểm quốc gia

(TBTCO) - Trong suốt 20 năm qua, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã phát huy hiệu quả vai trò là công cụ điều tiết và dẫn dắt dòng vốn đầu tư vào các lĩnh vực ưu tiên, góp phần tạo lập nguồn lực cho nền kinh tế và thúc đẩy phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường vốn trung và dài hạn.
Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

Doanh nghiệp bảo hiểm tìm động lực tăng trưởng mới

(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp đà tăng tích cực 9,88%, với doanh thu phí gốc ước đạt 16.140 tỷ đồng hai tháng đầu năm và ghi nhận nhiều biến động đáng chú ý về tốc độ tăng trưởng, cũng như cục diện thị phần giữa các doanh nghiệp. Hiện nhiều doanh nghiệp đang chuyển dịch cơ cấu nghiệp vụ, tìm động lực tăng trưởng mới trong bảo hiểm kỹ thuật, dự án.
Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

Fubon Life Việt Nam lần thứ 11 được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam (Fubon Life Việt Nam) tiếp tục khẳng định vị thế và uy tín trên thị trường bảo hiểm nhân thọ khi lần thứ 11 liên tiếp được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2025 - 2026 do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và bình chọn.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt

Theo đánh giá của SSI Research, bức tranh huy động vốn ngành ngân hàng kém tích cực trong quý I/2026, tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) tại các ngân hàng trong phạm vi theo dõi tiệm cận 100%, cạnh tranh huy động gay gắt khiến biên lãi ròng (NIM) co hẹp. Hạn mức tín dụng không còn là yếu tố quyết định duy nhất, mà khả năng huy động vốn trở thành yếu tố phân hóa then chốt.
Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Kim TT/AVPL 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Nguyên Liệu 99.99 15,200 ▼100K 15,400 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 15,150 ▼100K 15,350 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▼200K 16,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▼200K 16,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▼200K 16,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▼1000K 164,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 ▼150K 16,350 ▼150K
NL 99.90 14,800 ▼250K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,850 ▼250K
Trang sức 99.9 15,540 ▼150K 16,240 ▼150K
Trang sức 99.99 15,550 ▼150K 16,250 ▼150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1K 16,402 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1K 16,403 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,608 ▼10K 1,638 ▼10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,608 ▼10K 1,639 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,588 ▼10K 1,623 ▼10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 154,193 ▼990K 160,693 ▼990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,987 ▼750K 121,887 ▼750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,625 ▼680K 110,525 ▼680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,263 ▼610K 99,163 ▼610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,588 ▼77875K 9,478 ▼85885K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,936 ▼417K 67,836 ▼417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1K 164 ▼1K
Cập nhật: 15/05/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18299 18575 19156
CAD 18626 18903 19519
CHF 32873 33258 33895
CNY 0 3828 3920
EUR 30009 30283 31308
GBP 34381 34773 35704
HKD 0 3235 3437
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15094 15681
SGD 20045 20328 20854
THB 722 786 839
USD (1,2) 26086 0 0
USD (5,10,20) 26128 0 0
USD (50,100) 26156 26176 26387
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,387
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 30,226 30,250 31,536
JPY 162.13 162.42 171.38
GBP 34,641 34,735 35,763
AUD 18,582 18,649 19,254
CAD 18,864 18,925 19,525
CHF 33,206 33,309 34,128
SGD 20,231 20,294 20,992
CNY - 3,810 3,936
HKD 3,306 3,316 3,438
KRW 16.23 16.93 18.32
THB 773.31 782.86 833.96
NZD 15,150 15,291 15,666
SEK - 2,756 2,839
DKK - 4,045 4,166
NOK - 2,788 2,875
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,251.56 - 7,023.92
TWD 755.84 - 911.05
SAR - 6,921.22 7,253.27
KWD - 83,938 88,860
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,127 26,147 26,387
EUR 30,132 30,253 31,433
GBP 34,618 34,757 35,761
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 32,980 33,112 34,046
JPY 162.31 162.96 170.32
AUD 18,625 18,700 19,292
SGD 20,269 20,350 20,932
THB 791 794 829
CAD 18,826 18,902 19,474
NZD 15,270 15,803
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26207 26207 26387
AUD 18486 18586 19514
CAD 18814 18914 19929
CHF 33126 33156 34735
CNY 3809.5 3834.5 3969.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30198 30228 31954
GBP 34689 34739 36497
HKD 0 3355 0
JPY 162.76 163.26 173.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15204 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20208 20338 21066
THB 0 752 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16400000
SBJ 14000000 14000000 16400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,181 26,231 26,387
USD20 26,181 26,231 26,387
USD1 23,875 26,231 26,387
AUD 18,520 18,620 19,725
EUR 30,333 30,333 31,742
CAD 18,756 18,856 20,162
SGD 20,279 20,429 20,989
JPY 163.22 164.72 169.26
GBP 34,542 34,892 35,748
XAU 16,098,000 0 16,402,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80