Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn

(TBTCO) - Gần đây, việc lãi suất liên ngân hàng tăng vọt đang thu hút sự quan tâm của thị trường. Lãi suất huy động tăng mạnh ở cả thị trường 1 và 2 cho thấy, thanh khoản của ngành ngân hàng đang chịu áp lực lớn.
aa

Bài toán cân đối vốn

Trong năm 2025, tốc độ mở rộng tín dụng vượt lên trên khả năng gia tăng tiền gửi của hệ thống, khiến bài toán cân đối nguồn vốn ngày càng trở nên thách thức đối với các ngân hàng. Trước áp lực đáp ứng nhu cầu cho vay trong khi vẫn phải tuân thủ các yêu cầu về thanh khoản, việc điều chỉnh lãi suất huy động để củng cố nguồn vốn đầu vào đang trở thành xu hướng phổ biến trong hệ thống ngân hàng.

Sự thay đổi bắt đầu thể hiện rõ hơn từ giai đoạn chuyển giao giữa quý III/2025 và quý IV/2025, khi động thái tăng lãi suất không còn diễn ra đơn lẻ, mà lan tỏa trên phạm vi toàn ngành.

Thanh khoản của hệ thống ngân hàng đối mặt áp lực lớn
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của các ngân hàng.

Khép lại năm 2025, tăng trưởng tín dụng đạt 19,01%, vượt xa mục tiêu 16% được đặt ra từ đầu năm, đánh dấu một năm mở rộng tín dụng mạnh mẽ của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, song hành với đà tăng trưởng ấn tượng của tín dụng là áp lực ngày càng lớn lên nguồn vốn, khiến bài toán cân đối vốn trở thành yếu tố then chốt, nhằm đảm bảo khả năng cho vay đi kèm với việc tuân thủ các quy định an toàn của hệ thống.

Lãi suất huy động kỳ hạn 3 tháng bình quân toàn ngành tăng từ 2,9%/năm trong quý I/2025 lên 3,07%/năm tại quý IV/2025. Đáng chú ý, nếu chỉ xét riêng nhóm ngân hàng tư nhân, biên độ điều chỉnh mạnh hơn, với mức tăng phổ biến trong khoảng 0,2 - 0,3%.

Độ trễ truyền dẫn lãi suất khiến chi phí vốn chịu sức ép trong các quý tới

Dù mức tăng hiện tại của chi phí vốn (COF) chưa lớn, cần lưu ý rằng, cơ cấu tiền gửi của hệ thống vẫn tập trung chủ yếu ở các kỳ hạn 3 - 6 tháng, khiến độ trễ trong quá trình truyền dẫn từ lãi suất huy động sang COF đòi hỏi một khoảng thời gian nhất định. Theo đó, tác động của mặt bằng lãi suất huy động lên chi phí lãi của các ngân hàng nhiều khả năng sẽ được thể hiện rõ hơn trong giai đoạn quý I/2026 - quý II/2026.

Ở kỳ hạn 6 tháng, lãi suất huy động bình quân toàn ngành tăng từ 4,06%/năm lên 4,22%/năm, trong khi kỳ hạn 12 tháng ghi nhận mức tăng khiêm tốn hơn, từ 4,93%/năm lên 5,04%/năm, cho thấy áp lực điều chỉnh tập trung nhiều hơn ở các kỳ ngắn hạn.

So với quý III/2025, đà tăng lãi suất trong quý IV/2025 diễn ra trên phạm vi rộng hơn đáng kể. Thống kê từ các ngân hàng cho thấy, nếu trong quý III/2025 chỉ có khoảng 8/34 ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động, thì sang quý IV/2025, con số này đã lên tới 28/34 ngân hàng. Diễn biến này cho thấy xu hướng nhích lên của mặt bằng lãi suất đã trở nên rõ nét và mang tính lan tỏa ra toàn ngành.

Chi phí vốn của ngành ngân hàng tăng rõ nét trong quý IV/2025

Báo cáo tài chính quý IV/2025 cũng cho thấy những chuyển động mới trong chi phí vốn (COF) của toàn ngành ngân hàng. Cụ thể, COF bình quân toàn ngành tăng lên mức 3,68% trong quý IV/2025, cao hơn rõ rệt so với mức 3,6% của cùng kỳ năm trước, phản ánh tác động của áp lực gia tăng lãi suất huy động lên chi phí vốn.

Trong bối cảnh chung, nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì mức COF ổn định nhất toàn ngành. Tại cuối quý IV/2025, COF của nhóm này ở mức 2,94%, đi ngang so với quý III/2025 cũng như so với cùng kỳ năm 2024.

Kết quả này chủ yếu đến từ việc các ngân hàng quốc doanh giữ mặt bằng lãi suất huy động tương đối ổn định trong suốt năm qua; dù có điều chỉnh, mức tăng nhìn chung chỉ dao động dưới 0,1%. Tuy nhiên, sự ổn định về chi phí vốn cũng đi kèm với những đánh đổi nhất định, khi tăng trưởng tiền gửi của nhóm có xu hướng chậm lại so với các ngân hàng tư nhân trong các quý gần đây.

Trái lại, khối ngân hàng tư nhân ghi nhận diễn biến COF phân hóa rõ nét giữa các phân khúc. Nhóm ngân hàng bán lẻ ghi nhận COF đạt 4,21% trong quý IV/2025, đồng thời là nhóm có biên độ tăng mạnh nhất, tăng từ mức 3,93% tại cuối năm 2024 và cao hơn khoảng 0,15% so với quý III/2025.

Trong khi đó, nhóm ngân hàng bán buôn ghi nhận mức tăng nhẹ, với COF đạt 4,06%, nhích thêm 0,07% so với cuối năm 2024. Ngoài ra, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ tiếp tục là nhóm có COF ở mức cao nhất ngành với biên điều chỉnh tương đối mạnh, tăng từ 4,63% cuối năm 2024 lên 4,76% tại cuối quý IV/2025.

Một điểm cần lưu ý là sự gia tăng mạnh trong chi phí vốn của các ngân hàng chuyên bán lẻ so với các ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp. Chi phí huy động vốn của 2 nhóm ngân hàng này khá tương đồng vào đầu năm 2025, nhưng mức chênh lệch đã nới ra dần qua các quý và hiện tại, mức chênh lệch trung bình là 0,15%.

Tại sao chi phí vốn tăng mạnh nhất ở các ngân hàng bán lẻ?

Các chỉ số thanh khoản, đặc biệt là tỷ lệ cho vay/tiền gửi (LDR), cũng ghi nhận xu hướng gia tăng rõ rệt trong năm 2025. Trong bối cảnh đó, áp lực cạnh tranh nhằm thu hút nguồn vốn tiền gửi đã khiến lãi suất huy động nhích lên trong những tháng cuối năm.

Diễn biến này ngày càng thể hiện rõ trong các số liệu gần đây, tập trung chủ yếu ở các kỳ hạn ngắn dưới 6 tháng - nhóm kỳ hạn phản ứng nhanh nhất trước những thay đổi của điều kiện thị trường. So với đầu năm, mặt bằng lãi suất tiền gửi tại nhiều ngân hàng đã ghi nhận xu hướng tăng lên một cách rõ ràng.

Ngoài nhóm các ngân hàng quốc doanh, thì các ngân hàng chuyên cho vay bán lẻ thuộc nhóm có tỷ lệ LDR cao nhất của hệ thống. Trong bối cảnh việc huy động không thể tăng kịp đã khiến tỷ lệ LDR tiếp tục chịu áp lực lớn. Để duy trì tỷ lệ huy động phục vụ việc đẩy mạnh cho vay cuối năm, các ngân hàng bán lẻ đã thực hiện điều chỉnh lãi suất trước tiên.

Một điểm nữa cần chú ý là cơ cấu huy động của các ngân hàng bán lẻ cũng có sự khác biệt lớn so với nhóm các ngân hàng quốc doanh và các ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp.

Trong khi nhóm các ngân hàng quốc doanh và nhóm ngân hàng chuyên cho vay doanh nghiệp đẩy mạnh việc cho vay các tập đoàn kinh tế lớn và các hệ sinh thái doanh nghiệp, dòng tiền cho vay ra về cơ bản vẫn duy trì trong hệ thống của từng ngân hàng, thì các ngân hàng chuyên cho vay bán lẻ sẽ chủ yếu huy động từ khu vực cá nhân có tiền nhàn rỗi. Điều này khiến áp lực lên chi phí vốn của nhóm này cũng cao hơn.

Việc lãi suất tăng ở các thị trường là áp lực tất yếu của việc tín dụng gia tăng vượt quá khả năng huy động tiền gửi của hệ thống ngân hàng trong suốt nhiều năm qua. Ngân hàng Nhà nước trong thời gian qua đã liên tục bơm ròng qua kênh thị trường mở (OMO) để hỗ trợ thanh khoản, cũng như kéo lãi suất liên ngân hàng trở lại.

Các ngân hàng giờ đây không chỉ phải sàng lọc tăng trưởng tín dụng tốt, mà còn phải thận trọng trong kế hoạch nguồn vốn để đảm bảo hỗ trợ khả năng tăng trưởng, nhưng không bị bào mòn biên lãi ròng (NIM) từ chi phí đầu vào.

Khoảng cách giữa quy mô tín dụng và tiền gửi tiếp tục nới rộng

Thực tế cho thấy, khoảng cách giữa quy mô tín dụng và tiền gửi tiếp tục nới rộng và chưa có dấu hiệu được giải quyết triệt để kể từ khi tín dụng vượt tiền gửi vào giữa năm 2022. Tính đến tháng 9/2025, theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt 17,78 triệu tỷ đồng, trong khi tiền gửi chỉ đạt 16,18 triệu tỷ đồng, tương ứng mức chênh lệch khoảng 1,6 triệu tỷ đồng. Điều này cho thấy tốc độ mở rộng tín dụng vượt trội so với khả năng gia tăng nguồn vốn huy động, qua đó, làm gia tăng áp lực cân đối nguồn vốn trong hệ thống ngân hàng.

Lê Hoài Ân - Nhà sáng lập Công ty cổ phần Giải pháp Tài chính Tích hợp (IFSS)

Đọc thêm

Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

Mở thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK nhận hoàn tiền tới 1.000.000 VND

(TBTCO) - Tận hưởng ưu đãi hoàn tiền tới 1.000.000 VND khi mở mới và chi tiêu qua thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK MasterCard trong tháng 7/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

Tỷ giá USD hôm nay (2/7): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vẫn tăng dù PMI của Mỹ thấp hơn kỳ vọng

(TBTCO) - Sáng 2/7, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng, còn 25.205 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về khoảng 26.580 - 26.610 VND/USD. Trái chiều, chỉ số DXY tăng 0,24% lên 101,4 điểm, khi đồng USD vẫn được hỗ trợ dù PMI sản xuất Mỹ tháng 6 giảm xuống 53,3 điểm, thấp hơn kỳ vọng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

Giá vàng hôm nay ngày 2/7: Giá vàng thế giới phục hồi, vàng trong nước đảo chiều tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 5,93 USD/ounce lên mức 4.035,7 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục điều chỉnh giảm 500.000 - 1 triệu đồng/lượng.
MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB vừa phê duyệt kế hoạch tăng vốn thêm 6.240 tỷ đồng qua phát hành cổ phiếu với tỷ lệ 20%, đưa vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng, với mục tiêu củng cố bộ đệm vốn và tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng.
Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

Chính thức nâng trần khoản vay giá trị nhỏ gấp 4 lần, sau khi mức 100 triệu đồng trở nên “quá chật”

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chính thức nâng hạn mức khoản vay giá trị nhỏ tại các tổ chức tín dụng từ 100 triệu đồng lên 400 triệu đồng từ ngày 15/8 tới đây. Quy định mới được kỳ vọng giúp người dân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ tiếp cận vốn thuận lợi hơn nhờ thủ tục vay đơn giản hơn và thời gian xử lý hồ sơ được rút ngắn đáng kể.
Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

Techcombank rót thêm 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life sau khi bứt tốc thị phần phí bảo hiểm

(TBTCO) - Techcombank vừa thông qua kế hoạch rót thêm tối đa 2.400 tỷ đồng vào Techcom Life, nâng vốn điều lệ lên 4.300 tỷ đồng, qua đó đưa doanh nghiệp vào nhóm bảo hiểm nhân thọ có vốn lớn trên thị trường. Động thái này diễn ra trong bối cảnh Techcom Life đang tăng tốc mạnh ở mảng khai thác mới.
MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

MB chi hơn 8.000 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt 10%, chốt quyền ngày 10/7

(TBTCO) - Ngân hàng MB chốt ngày 10/7 là ngày đăng ký cuối cùng nhận cổ tức tiền mặt 10%, với tổng giá trị chi trả khoảng 8.055 tỷ đồng. Song song, ngân hàng triển khai kế hoạch tăng vốn lớn, hướng tới vốn điều lệ hơn 102.687 tỷ đồng và bứt tốc nhiều chỉ tiêu năm nay.
Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Nhiều chính sách mới về bảo hiểm y tế chính thức có hiệu lực từ ngày 1/7/2026

Ngày Bảo hiểm y tế Việt Nam (1/7) năm nay đánh dấu thời điểm nhiều quy định mới về bảo hiểm y tế chính thức được triển khai trên cả nước. Đây không chỉ là việc điều chỉnh các mức đóng, mức hưởng theo mức lương cơ sở mới, mà còn là bước tiếp tục hoàn thiện chính sách an sinh xã hội theo hướng mở rộng quyền lợi, tạo thuận lợi hơn cho người dân khi tiếp cận dịch vụ y tế.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Kim TT/AVPL 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲210K 13,500 ▲210K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲210K 13,450 ▲210K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲210K 14,300 ▲210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲210K 14,250 ▲210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲210K 14,230 ▲210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Hà Nội - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đà Nẵng - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Miền Tây - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Tây Nguyên - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,400 ▲2400K 148,400 ▲2400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 14,540 ▲200K 14,840 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲250K 14,800 ▲200K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲200K 14,690 ▲200K
Trang sức 99.99 14,000 ▲200K 14,700 ▲200K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,454 ▲20K 14,842 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,454 ▲20K 14,843 ▲200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,453 ▲20K 1,483 ▲20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,453 ▲20K 1,484 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,433 ▲20K 1,468 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,347 ▲1981K 145,347 ▲1981K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 ▲1500K 110,261 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,484 ▲1360K 99,984 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,207 ▲1220K 89,707 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,243 ▲1166K 85,743 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,872 ▲834K 61,372 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,454 ▲20K 1,484 ▲20K
Cập nhật: 02/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17595 17868 18443
CAD 17982 18257 18870
CHF 31921 32302 32940
CNY 0 3832 3925
EUR 29351 29572 30649
GBP 34247 34637 35564
HKD 0 3221 3423
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14624 15211
SGD 19773 20055 20631
THB 705 768 822
USD (1,2) 26025 0 0
USD (5,10,20) 26066 0 0
USD (50,100) 26095 26109 26465
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,105 26,105 26,465
USD(1-2-5) 25,061 - -
USD(10-20) 25,061 - -
EUR 29,429 29,453 30,832
JPY 157.44 157.72 167.09
GBP 34,304 34,397 35,565
AUD 17,804 17,868 18,534
CAD 18,162 18,220 18,873
CHF 32,105 32,205 33,136
SGD 19,882 19,944 20,715
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,286 3,296 3,432
KRW 15.6 16.27 17.68
THB 752.86 762.16 815.3
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,658 2,750
DKK - 3,937 4,072
NOK - 2,606 2,697
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,011.44 - 6,783.89
TWD 744.16 - 900.75
SAR - 6,886.19 7,247.34
KWD - 83,139 88,385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,085 26,105 26,465
EUR 29,362 29,480 30,671
GBP 34,296 34,434 35,460
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,944 32,072 32,997
JPY 157.73 158.36 166.14
AUD 17,781 17,852 18,444
SGD 19,946 20,026 20,611
THB 769 772 808
CAD 18,166 18,239 18,806
NZD 14,676 15,212
KRW 16.22 17.82
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26090 26090 26465
AUD 17784 17884 18807
CAD 18146 18246 19260
CHF 32096 32126 33716
CNY 3814.4 3839.4 3974.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29480 29510 31233
GBP 34428 34478 36246
HKD 0 3355 0
JPY 158.24 158.74 169.29
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14730 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19924 20054 20775
THB 0 733.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14540000 14540000 14840000
SBJ 13000000 13000000 14840000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,122 26,172 26,465
USD20 26,122 26,172 26,465
USD1 26,122 26,172 26,465
AUD 17,823 17,923 19,030
EUR 29,641 29,641 31,050
CAD 18,101 18,201 19,507
SGD 19,998 20,148 20,702
JPY 159.08 160.58 165.1
GBP 34,353 34,703 35,550
XAU 14,538,000 0 14,842,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80