Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 2/2 - 6/2 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh vượt 16% kỳ hạn qua đêm trước khi hạ nhiệt về 10%, buộc Ngân hàng Nhà nước tăng cường can thiệp. Theo đó, nhà điều hành bơm ròng 159.151 tỷ đồng qua kênh OMO và mở lại kênh hoán đổi USD/VND quy mô khoảng 1 tỷ USD theo dữ liệu của nhiều đơn vị phân tích, nhằm giảm sức căng thanh khoản.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/1: Tỷ giá USD giảm sâu, bơm ròng 46.000 tỷ đồng giữ nhịp thanh khoản

"Bơm" kỷ lục hơn 120.000 tỷ đồng hai phiên qua OMO, lãi suất liên ngân hàng vẫn dựng đứng Lãi suất vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền”

Lãi suất liên ngân hàng “dậy sóng”, kích hoạt nhiều công cụ

Diễn biến trên thị trường mở (OMO) trong tuần qua từ ngày 2/2 - 6/2 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng thanh khoản khá mạnh vào hệ thống ngân hàng, nhằm hỗ trợ nhu cầu vốn ngắn hạn trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng và áp lực thanh khoản gia tăng.

Cụ thể, giá trị bơm ròng OMO ghi nhận tăng mạnh trong các phiên đầu tuần, đặc biệt ngày 2/2 và 3/2, với quy mô lần lượt khoảng 55.363,15 tỷ đồng và 65.051,8 tỷ đồng. Đây là hai phiên bơm ròng lớn nhất tuần, phản ánh nhu cầu thanh khoản cao. Sang các phiên giữa và cuối tuần, quy mô bơm ròng giảm đáng kể.

Khối lượng trúng thầu qua kênh OMO đạt mức kỷ lục 229.790,33 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7 ngày, 28 ngày và 56 ngày, với lãi suất 4,5%/năm. Ở chiều ngược lại, 70.639 tỷ đồng đã đáo hạn trên kênh cầm cố, qua đó đưa lượng vốn OMO đang lưu hành lên mức cao chưa từng có, khoảng 480.014 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng khoảng 159.151 tỷ đồng qua kênh OMO, cho thấy định hướng điều hành thiên về hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo hệ thống ngân hàng vận hành thông suốt.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất

Cũng trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận biến động rất mạnh, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn, phản ánh trạng thái thanh khoản căng thẳng cục bộ trong hệ thống ngân hàng.

Cụ thể, lãi suất qua đêm tăng vọt, có thời điểm lên tới 16,39%/năm vào ngày 3/2, cũng là phiên Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 80.000 tỷ đồng qua thị trường mở. Động thái này đã nhanh chóng phát huy hiệu quả, giúp lãi suất qua đêm hạ nhiệt mạnh, xuống còn 10,19%/năm trong phiên 4/2. Tính chung cả tuần, lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng mạnh 5,1 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn tăng mạnh.

Xu hướng tăng mạnh cũng diễn ra ở các kỳ hạn ngắn khác. Lãi suất 1 tuần tăng khoảng 4,06 điểm phần trăm, lên mức 13,44%/năm trong phiên cao điểm, trước khi giảm về 9,95%/năm. Kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng (1M) tăng lần lượt khoảng 1,01 và 0,99 điểm phần trăm, trong khi kỳ hạn 3 tháng (3M) chỉ tăng nhẹ 0,36 điểm phần trăm, đưa lãi suất liên ngân hàng lên 7,55%/năm ngày 4/2.

Theo nhóm phân tích SHS, sang ngày 4/2, căng thẳng hạ nhiệt phần nào khi Ngân hàng Nhà nước mở lại kênh hoán đổi USD/VND, với chi phí tham chiếu khoảng 1,31% và quy mô khoảng 1 tỷ USD. Về nguyên nhân, yếu tố nền vẫn là lệch cân đối kỳ hạn (nguồn vốn ngắn nhưng nhu cầu sử dụng dài hơn), khiến “đệm dự trữ" của hệ thống mỏng và dễ tổn thương khi gặp cú sốc ngắn hạn.

Việc lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt nhanh sau các phiên tăng sốc cũng phản ánh tác động kịp thời của các biện pháp điều tiết thanh khoản, đặc biệt là hoạt động bơm ròng qua kênh OMO của Ngân hàng Nhà nước.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), diễn biến này không cho thấy dấu hiệu bất ổn hệ thống, nhưng là lời nhắc về tầm quan trọng của quản trị thanh khoản chủ động.

Cùng lúc, mùa vụ trước Tết quay lại khi người dân rút tiền mặt tăng, trong khi một số ngân hàng duy trì dự trữ bắt buộc ở mức thấp nên phải "chạy" bổ sung dự trữ do kỳ nghỉ kéo dài vẫn được tính vào kỳ dự trữ bắt buộc.

Với OMO, quan điểm của nhóm phân tích SHS là hệ thống đã tiến sát giới hạn, nhưng hai phiên đầu tháng 2 vẫn bơm OMO được là vì lượng OMO lưu hành đã giảm từ khoảng 404 nghìn tỷ VND cuối năm 2025 về khoảng 316 nghìn tỷ đồng cuối tháng 1/2026, tạo "dư địa” kỹ thuật.

Đồng thời, lực tham gia chủ yếu đến từ nhóm các ngân hàng lớn do còn đủ giấy tờ có giá để vay OMO, qua đó, hỗ trợ lan tỏa thanh khoản sang các ngân hàng nhỏ hơn. Tuy nhiên, đà cầm cự này không kéo dài, nên Ngân hàng Nhà nước vẫn phải mở lại kênh hoán đổi USD/VND sau gần 01 tháng tạm dừng.

Tỷ giá kênh chính thức dịu nhiệt, tự do bật tăng

Cũng theo nhóm phân tích SHS, việc duy trì kênh Swap (chênh lệch lãi suất USD/VND) theo hướng dương lớn cũng giữ cho dòng ngoại tệ không bị thất thoát ra ngoài và thêm điều kiện đủ để tận dụng dòng ngoại tệ chủ động vào. Qua đó, giúp cho trạng thái ngoại tệ ròng của các ngân hàng có thể nhanh chóng quay về mức cân bằng trong ngắn hạn.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất
Thị trường tiền tệ tuần 2-6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất. Ảnh minh họa.

Phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, đồng VND cũng được hỗ trợ từ các yếu tố nội tại như: chênh lệch lãi suất VND-USD duy trì trạng thái dương khi trung bình lãi suất qua đêm liên ngân hàng neo ở mức cao; nguồn cung USD trong nước dồi dào hơn khi đây là mùa cao điểm xuất khẩu và lượng kiều hối gửi về Việt Nam thường tăng mạnh vào dịp này.

Về diễn biến tỷ giá tuần qua, ngày 6/2, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm 25.065 VND/USD, giảm 1 đồng so với phiên liền trước. Đây là phiên giảm thứ ba liên tiếp trong tuần. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá trần được phép giao dịch là 26.318 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn ở mức 23.812 VND/USD. Cùng ngày, tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối được niêm yết ở mức 23.862 - 26.268 VND/USD (mua vào - bán ra).

Trong tuần giao dịch từ 2/2 đến 6/2, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng, tiếp đà giảm 3 tuần.

Đối với USD, tại BIDV, tỷ giá USD mua vào ở mức 25.746 VND/USD, giảm 22 đồng, trong khi giá bán ra đạt 26.126 VND/USD, chỉ giảm nhẹ 2 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt, hiện dao động quanh 97,68 điểm, gần mức cao nhất kể từ ngày 23/1. Đồng USD mạnh lên sau khi Tổng thống Donald Trump đề cử Kevin Warsh làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp theo.

Bên cạnh đó, làn sóng bán tháo cổ phiếu công nghệ trong tuần qua đã thúc đẩy tâm lý né tránh rủi ro. Diễn biến này hỗ trợ đồng USD tăng giá, bất chấp lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ suy giảm.

Với đồng EUR, tỷ giá biến động giảm khá mạnh tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết EUR ở mức 29.804 - 31.376 VND/EUR, giảm khoảng 262 đồng ở chiều mua vào và 276 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. BIDV cũng ghi nhận mức giảm sâu hơn.

Đồng GBP tiếp tục là ngoại tệ biến động mạnh nhất trong tuần. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP mua vào - bán ra giảm; BIDV ghi nhận mức giảm còn sâu hơn, khoảng 511 đồng ở chiều mua vào và 501 đồng ở chiều bán ra, đưa tỷ giá về 34.702 - 35.830 VND/GBP.

Đồng CNY có xu hướng tăng. Tại Vietcombank, tỷ giá CNY đạt 3.648 - 3.803 VND/CNY, tăng lần lượt 13,6 đồng và 14,2 đồng hai chiều.

Ngược lại, thị trường tự do ghi nhận biến động mạnh hơn. Tỷ giá USD tự do bán ra tăng rất mạnh trong phiên cuối tuần, lên tới 27.250 - 27.320 VND/USD, cao hơn đầu tuần tới 820 đồng. Diễn biến này phản ánh tâm lý đầu cơ và nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do vẫn khá nhạy cảm với các yếu tố kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (23/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 23/3 tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.090 VND, tăng 5 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, Chỉ số USD Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) đứng ở mức 99,5 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm,  "chợ đen" biến động trái chiều

Tỷ giá USD hôm nay (22/3): Thế giới giảm, "chợ đen" biến động trái chiều

Sáng ngày 22/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số USD Index (DXY), đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm tuần 0,86%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Tỷ giá USD hôm nay (21/3): Thế giới và "chợ đen" đồng loạt tăng

Sáng ngày 21/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,27%, hiện ở mức 99,50 điểm.
Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

Hút ròng gần 240.000 tỷ đồng ổn định tỷ giá, lãi suất liên ngân hàng vẫn "lặng sóng"

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 16 - 20/3, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 84.335,95 tỷ đồng, nâng quy mô hút ròng 4 tuần lên gần 240.000 tỷ đồng, dù vậy, lãi suất liên ngân hàng vẫn ổn định, phản ánh thanh khoản hệ thống cải thiện. Đồng thời, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và lạm phát trong bối cảnh các ngân hàng trung ương lớn trì hoãn nới lỏng khiến tỷ giá USD tăng.
Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Tỷ giá USD hôm nay (20/3): Ngân hàng Nhà nước và "chợ đen" đồng loạt tăng mạnh

Sáng ngày 20/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.085 VND, tăng 13 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) giảm 0,88%, hiện ở mức 99,23 điểm.
MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

MBS dự báo đường đi tỷ giá, lạm phát trước áp lực từ bất ổn Trung Đông

Theo nhận định của Chứng khoán MB (MBS), bất ổn khu vực Trung Đông gia tăng rủi ro lạm phát và tỷ giá trong vài tháng tới. Tỷ giá được dự báo tăng 2,5 - 3%, trong khi lạm phát có thể lên 4 - 4,3%. Chi phí vận chuyển tăng mạnh, cộng hưởng xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh USD phục hồi, cũng gia tăng rủi ro nhập khẩu lạm phát.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 3/2026

(TBTCO) - Khảo sát ngày 18/3 tại gần 50 ngân hàng trong và ngoài nước cho thấy, cuộc đua lãi suất vô cùng sôi động, trong đó, kỳ hạn 6 tháng là “tâm điểm” cạnh tranh khi có ngân hàng đẩy lãi suất lên 7,2%/năm, biên độ tăng lên tới 2,1 điểm phần trăm. Đáng chú ý, lãi suất 24 tháng tại nhiều ngân hàng thấp hơn kỳ hạn 6 tháng, phản ánh áp lực thanh khoản ngắn hạn.
Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS chỉ rõ 2 yếu tố quyết định khả năng nới room tín dụng nửa cuối năm

Chứng khoán ACBS nhấn mạnh, cần đặc biệt theo dõi diễn biến tỷ giá và thanh khoản hệ thống ngân hàng để đánh giá xu hướng lãi suất. Bối cảnh tỷ giá thuận lợi và mặt bằng thanh khoản dồi dào sẽ là nền tảng phù hợp để Ngân hàng Nhà nước mở rộng mục tiêu tăng trưởng tín dụng ở giai đoạn nửa sau năm 2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80