Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 2/2 - 6/2 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh vượt 16% kỳ hạn qua đêm trước khi hạ nhiệt về 10%, buộc Ngân hàng Nhà nước tăng cường can thiệp. Theo đó, nhà điều hành bơm ròng 159.151 tỷ đồng qua kênh OMO và mở lại kênh hoán đổi USD/VND quy mô khoảng 1 tỷ USD theo dữ liệu của nhiều đơn vị phân tích, nhằm giảm sức căng thanh khoản.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/1: Tỷ giá USD giảm sâu, bơm ròng 46.000 tỷ đồng giữ nhịp thanh khoản

"Bơm" kỷ lục hơn 120.000 tỷ đồng hai phiên qua OMO, lãi suất liên ngân hàng vẫn dựng đứng Lãi suất vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền”

Lãi suất liên ngân hàng “dậy sóng”, kích hoạt nhiều công cụ

Diễn biến trên thị trường mở (OMO) trong tuần qua từ ngày 2/2 - 6/2 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng thanh khoản khá mạnh vào hệ thống ngân hàng, nhằm hỗ trợ nhu cầu vốn ngắn hạn trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng và áp lực thanh khoản gia tăng.

Cụ thể, giá trị bơm ròng OMO ghi nhận tăng mạnh trong các phiên đầu tuần, đặc biệt ngày 2/2 và 3/2, với quy mô lần lượt khoảng 55.363,15 tỷ đồng và 65.051,8 tỷ đồng. Đây là hai phiên bơm ròng lớn nhất tuần, phản ánh nhu cầu thanh khoản cao. Sang các phiên giữa và cuối tuần, quy mô bơm ròng giảm đáng kể.

Khối lượng trúng thầu qua kênh OMO đạt mức kỷ lục 229.790,33 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7 ngày, 28 ngày và 56 ngày, với lãi suất 4,5%/năm. Ở chiều ngược lại, 70.639 tỷ đồng đã đáo hạn trên kênh cầm cố, qua đó đưa lượng vốn OMO đang lưu hành lên mức cao chưa từng có, khoảng 480.014 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng khoảng 159.151 tỷ đồng qua kênh OMO, cho thấy định hướng điều hành thiên về hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo hệ thống ngân hàng vận hành thông suốt.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất

Cũng trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận biến động rất mạnh, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn, phản ánh trạng thái thanh khoản căng thẳng cục bộ trong hệ thống ngân hàng.

Cụ thể, lãi suất qua đêm tăng vọt, có thời điểm lên tới 16,39%/năm vào ngày 3/2, cũng là phiên Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 80.000 tỷ đồng qua thị trường mở. Động thái này đã nhanh chóng phát huy hiệu quả, giúp lãi suất qua đêm hạ nhiệt mạnh, xuống còn 10,19%/năm trong phiên 4/2. Tính chung cả tuần, lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng mạnh 5,1 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn tăng mạnh.

Xu hướng tăng mạnh cũng diễn ra ở các kỳ hạn ngắn khác. Lãi suất 1 tuần tăng khoảng 4,06 điểm phần trăm, lên mức 13,44%/năm trong phiên cao điểm, trước khi giảm về 9,95%/năm. Kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng (1M) tăng lần lượt khoảng 1,01 và 0,99 điểm phần trăm, trong khi kỳ hạn 3 tháng (3M) chỉ tăng nhẹ 0,36 điểm phần trăm, đưa lãi suất liên ngân hàng lên 7,55%/năm ngày 4/2.

Theo nhóm phân tích SHS, sang ngày 4/2, căng thẳng hạ nhiệt phần nào khi Ngân hàng Nhà nước mở lại kênh hoán đổi USD/VND, với chi phí tham chiếu khoảng 1,31% và quy mô khoảng 1 tỷ USD. Về nguyên nhân, yếu tố nền vẫn là lệch cân đối kỳ hạn (nguồn vốn ngắn nhưng nhu cầu sử dụng dài hơn), khiến “đệm dự trữ" của hệ thống mỏng và dễ tổn thương khi gặp cú sốc ngắn hạn.

Việc lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt nhanh sau các phiên tăng sốc cũng phản ánh tác động kịp thời của các biện pháp điều tiết thanh khoản, đặc biệt là hoạt động bơm ròng qua kênh OMO của Ngân hàng Nhà nước.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), diễn biến này không cho thấy dấu hiệu bất ổn hệ thống, nhưng là lời nhắc về tầm quan trọng của quản trị thanh khoản chủ động.

Cùng lúc, mùa vụ trước Tết quay lại khi người dân rút tiền mặt tăng, trong khi một số ngân hàng duy trì dự trữ bắt buộc ở mức thấp nên phải "chạy" bổ sung dự trữ do kỳ nghỉ kéo dài vẫn được tính vào kỳ dự trữ bắt buộc.

Với OMO, quan điểm của nhóm phân tích SHS là hệ thống đã tiến sát giới hạn, nhưng hai phiên đầu tháng 2 vẫn bơm OMO được là vì lượng OMO lưu hành đã giảm từ khoảng 404 nghìn tỷ VND cuối năm 2025 về khoảng 316 nghìn tỷ đồng cuối tháng 1/2026, tạo "dư địa” kỹ thuật.

Đồng thời, lực tham gia chủ yếu đến từ nhóm các ngân hàng lớn do còn đủ giấy tờ có giá để vay OMO, qua đó, hỗ trợ lan tỏa thanh khoản sang các ngân hàng nhỏ hơn. Tuy nhiên, đà cầm cự này không kéo dài, nên Ngân hàng Nhà nước vẫn phải mở lại kênh hoán đổi USD/VND sau gần 01 tháng tạm dừng.

Tỷ giá kênh chính thức dịu nhiệt, tự do bật tăng

Cũng theo nhóm phân tích SHS, việc duy trì kênh Swap (chênh lệch lãi suất USD/VND) theo hướng dương lớn cũng giữ cho dòng ngoại tệ không bị thất thoát ra ngoài và thêm điều kiện đủ để tận dụng dòng ngoại tệ chủ động vào. Qua đó, giúp cho trạng thái ngoại tệ ròng của các ngân hàng có thể nhanh chóng quay về mức cân bằng trong ngắn hạn.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất
Thị trường tiền tệ tuần 2-6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất. Ảnh minh họa.

Phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, đồng VND cũng được hỗ trợ từ các yếu tố nội tại như: chênh lệch lãi suất VND-USD duy trì trạng thái dương khi trung bình lãi suất qua đêm liên ngân hàng neo ở mức cao; nguồn cung USD trong nước dồi dào hơn khi đây là mùa cao điểm xuất khẩu và lượng kiều hối gửi về Việt Nam thường tăng mạnh vào dịp này.

Về diễn biến tỷ giá tuần qua, ngày 6/2, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm 25.065 VND/USD, giảm 1 đồng so với phiên liền trước. Đây là phiên giảm thứ ba liên tiếp trong tuần. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá trần được phép giao dịch là 26.318 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn ở mức 23.812 VND/USD. Cùng ngày, tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối được niêm yết ở mức 23.862 - 26.268 VND/USD (mua vào - bán ra).

Trong tuần giao dịch từ 2/2 đến 6/2, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng, tiếp đà giảm 3 tuần.

Đối với USD, tại BIDV, tỷ giá USD mua vào ở mức 25.746 VND/USD, giảm 22 đồng, trong khi giá bán ra đạt 26.126 VND/USD, chỉ giảm nhẹ 2 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt, hiện dao động quanh 97,68 điểm, gần mức cao nhất kể từ ngày 23/1. Đồng USD mạnh lên sau khi Tổng thống Donald Trump đề cử Kevin Warsh làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp theo.

Bên cạnh đó, làn sóng bán tháo cổ phiếu công nghệ trong tuần qua đã thúc đẩy tâm lý né tránh rủi ro. Diễn biến này hỗ trợ đồng USD tăng giá, bất chấp lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ suy giảm.

Với đồng EUR, tỷ giá biến động giảm khá mạnh tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết EUR ở mức 29.804 - 31.376 VND/EUR, giảm khoảng 262 đồng ở chiều mua vào và 276 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. BIDV cũng ghi nhận mức giảm sâu hơn.

Đồng GBP tiếp tục là ngoại tệ biến động mạnh nhất trong tuần. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP mua vào - bán ra giảm; BIDV ghi nhận mức giảm còn sâu hơn, khoảng 511 đồng ở chiều mua vào và 501 đồng ở chiều bán ra, đưa tỷ giá về 34.702 - 35.830 VND/GBP.

Đồng CNY có xu hướng tăng. Tại Vietcombank, tỷ giá CNY đạt 3.648 - 3.803 VND/CNY, tăng lần lượt 13,6 đồng và 14,2 đồng hai chiều.

Ngược lại, thị trường tự do ghi nhận biến động mạnh hơn. Tỷ giá USD tự do bán ra tăng rất mạnh trong phiên cuối tuần, lên tới 27.250 - 27.320 VND/USD, cao hơn đầu tuần tới 820 đồng. Diễn biến này phản ánh tâm lý đầu cơ và nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do vẫn khá nhạy cảm với các yếu tố kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

(TBTCO) - Sáng 22/9, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng, lên 25.640 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY dao động rất hẹp quanh 100,43 điểm. Diễn biến thị trường được chú ý khi chính quyền Tổng thống Donald Trump đề xuất rót 5 tỷ USD vào quỹ hỗ trợ tái thiết hạ tầng Trung Đông, nhà đầu tư cũng chờ thêm tín hiệu từ các quan chức Fed để xác định hướng đi tiếp theo.
Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 21/9, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.637 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,23 điểm, duy trì vùng cao nhất khoảng 7 tuần. Tuần này, thị trường tập trung vào loạt dữ liệu kinh tế Mỹ, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Trung và các cuộc họp chính sách của nhiều ngân hàng trung ương lớn.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

Tỷ giá USD hôm nay (17/9): USD đồng loạt đi lên, Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm và để ngỏ tăng tiếp

(TBTCO) - Sáng 17/9, tỷ giá trung tâm tăng 6 đồng lên 25.632 đồng, tỷ giá USD tại ngân hàng tiếp tục đi lên. Chỉ số DXY cũng tăng mạnh 0,73%, lên 100,34 điểm. Fed nâng lãi suất 25 điểm cơ bản lên 3,75% - 4% với tỷ lệ nhất trí 12-0, đánh dấu lần tăng đầu tiên kể từ tháng 7/2023, đồng thời để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt chính sách.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17706 17980 18556
CAD 17829 18103 18719
CHF 30675 31051 31692
CNY 0 3827 3923
EUR 28946 29165 30243
GBP 33554 33942 34875
HKD 0 3182 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14407 14989
SGD 19781 20062 20629
THB 693 756 810
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25800 25800 26160
AUD 17871 17971 18896
CAD 18010 18110 19124
CHF 30921 30951 32537
CNY 3809.4 3834.4 3969.9
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29084 29114 30837
GBP 33814 33864 35635
HKD 0 3315 0
JPY 160.54 161.04 171.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14483 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19925 20055 20778
THB 0 721.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30