Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 2/2 - 6/2 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh vượt 16% kỳ hạn qua đêm trước khi hạ nhiệt về 10%, buộc Ngân hàng Nhà nước tăng cường can thiệp. Theo đó, nhà điều hành bơm ròng 159.151 tỷ đồng qua kênh OMO và mở lại kênh hoán đổi USD/VND quy mô khoảng 1 tỷ USD theo dữ liệu của nhiều đơn vị phân tích, nhằm giảm sức căng thanh khoản.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/1: Tỷ giá USD giảm sâu, bơm ròng 46.000 tỷ đồng giữ nhịp thanh khoản

"Bơm" kỷ lục hơn 120.000 tỷ đồng hai phiên qua OMO, lãi suất liên ngân hàng vẫn dựng đứng Lãi suất vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền”

Lãi suất liên ngân hàng “dậy sóng”, kích hoạt nhiều công cụ

Diễn biến trên thị trường mở (OMO) trong tuần qua từ ngày 2/2 - 6/2 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng thanh khoản khá mạnh vào hệ thống ngân hàng, nhằm hỗ trợ nhu cầu vốn ngắn hạn trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng và áp lực thanh khoản gia tăng.

Cụ thể, giá trị bơm ròng OMO ghi nhận tăng mạnh trong các phiên đầu tuần, đặc biệt ngày 2/2 và 3/2, với quy mô lần lượt khoảng 55.363,15 tỷ đồng và 65.051,8 tỷ đồng. Đây là hai phiên bơm ròng lớn nhất tuần, phản ánh nhu cầu thanh khoản cao. Sang các phiên giữa và cuối tuần, quy mô bơm ròng giảm đáng kể.

Khối lượng trúng thầu qua kênh OMO đạt mức kỷ lục 229.790,33 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7 ngày, 28 ngày và 56 ngày, với lãi suất 4,5%/năm. Ở chiều ngược lại, 70.639 tỷ đồng đã đáo hạn trên kênh cầm cố, qua đó đưa lượng vốn OMO đang lưu hành lên mức cao chưa từng có, khoảng 480.014 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng khoảng 159.151 tỷ đồng qua kênh OMO, cho thấy định hướng điều hành thiên về hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo hệ thống ngân hàng vận hành thông suốt.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất

Cũng trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận biến động rất mạnh, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn, phản ánh trạng thái thanh khoản căng thẳng cục bộ trong hệ thống ngân hàng.

Cụ thể, lãi suất qua đêm tăng vọt, có thời điểm lên tới 16,39%/năm vào ngày 3/2, cũng là phiên Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 80.000 tỷ đồng qua thị trường mở. Động thái này đã nhanh chóng phát huy hiệu quả, giúp lãi suất qua đêm hạ nhiệt mạnh, xuống còn 10,19%/năm trong phiên 4/2. Tính chung cả tuần, lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng mạnh 5,1 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn tăng mạnh.

Xu hướng tăng mạnh cũng diễn ra ở các kỳ hạn ngắn khác. Lãi suất 1 tuần tăng khoảng 4,06 điểm phần trăm, lên mức 13,44%/năm trong phiên cao điểm, trước khi giảm về 9,95%/năm. Kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng (1M) tăng lần lượt khoảng 1,01 và 0,99 điểm phần trăm, trong khi kỳ hạn 3 tháng (3M) chỉ tăng nhẹ 0,36 điểm phần trăm, đưa lãi suất liên ngân hàng lên 7,55%/năm ngày 4/2.

Theo nhóm phân tích SHS, sang ngày 4/2, căng thẳng hạ nhiệt phần nào khi Ngân hàng Nhà nước mở lại kênh hoán đổi USD/VND, với chi phí tham chiếu khoảng 1,31% và quy mô khoảng 1 tỷ USD. Về nguyên nhân, yếu tố nền vẫn là lệch cân đối kỳ hạn (nguồn vốn ngắn nhưng nhu cầu sử dụng dài hơn), khiến “đệm dự trữ" của hệ thống mỏng và dễ tổn thương khi gặp cú sốc ngắn hạn.

Việc lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt nhanh sau các phiên tăng sốc cũng phản ánh tác động kịp thời của các biện pháp điều tiết thanh khoản, đặc biệt là hoạt động bơm ròng qua kênh OMO của Ngân hàng Nhà nước.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), diễn biến này không cho thấy dấu hiệu bất ổn hệ thống, nhưng là lời nhắc về tầm quan trọng của quản trị thanh khoản chủ động.

Cùng lúc, mùa vụ trước Tết quay lại khi người dân rút tiền mặt tăng, trong khi một số ngân hàng duy trì dự trữ bắt buộc ở mức thấp nên phải "chạy" bổ sung dự trữ do kỳ nghỉ kéo dài vẫn được tính vào kỳ dự trữ bắt buộc.

Với OMO, quan điểm của nhóm phân tích SHS là hệ thống đã tiến sát giới hạn, nhưng hai phiên đầu tháng 2 vẫn bơm OMO được là vì lượng OMO lưu hành đã giảm từ khoảng 404 nghìn tỷ VND cuối năm 2025 về khoảng 316 nghìn tỷ đồng cuối tháng 1/2026, tạo "dư địa” kỹ thuật.

Đồng thời, lực tham gia chủ yếu đến từ nhóm các ngân hàng lớn do còn đủ giấy tờ có giá để vay OMO, qua đó, hỗ trợ lan tỏa thanh khoản sang các ngân hàng nhỏ hơn. Tuy nhiên, đà cầm cự này không kéo dài, nên Ngân hàng Nhà nước vẫn phải mở lại kênh hoán đổi USD/VND sau gần 01 tháng tạm dừng.

Tỷ giá kênh chính thức dịu nhiệt, tự do bật tăng

Cũng theo nhóm phân tích SHS, việc duy trì kênh Swap (chênh lệch lãi suất USD/VND) theo hướng dương lớn cũng giữ cho dòng ngoại tệ không bị thất thoát ra ngoài và thêm điều kiện đủ để tận dụng dòng ngoại tệ chủ động vào. Qua đó, giúp cho trạng thái ngoại tệ ròng của các ngân hàng có thể nhanh chóng quay về mức cân bằng trong ngắn hạn.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất
Thị trường tiền tệ tuần 2-6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất. Ảnh minh họa.

Phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, đồng VND cũng được hỗ trợ từ các yếu tố nội tại như: chênh lệch lãi suất VND-USD duy trì trạng thái dương khi trung bình lãi suất qua đêm liên ngân hàng neo ở mức cao; nguồn cung USD trong nước dồi dào hơn khi đây là mùa cao điểm xuất khẩu và lượng kiều hối gửi về Việt Nam thường tăng mạnh vào dịp này.

Về diễn biến tỷ giá tuần qua, ngày 6/2, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm 25.065 VND/USD, giảm 1 đồng so với phiên liền trước. Đây là phiên giảm thứ ba liên tiếp trong tuần. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá trần được phép giao dịch là 26.318 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn ở mức 23.812 VND/USD. Cùng ngày, tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối được niêm yết ở mức 23.862 - 26.268 VND/USD (mua vào - bán ra).

Trong tuần giao dịch từ 2/2 đến 6/2, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng, tiếp đà giảm 3 tuần.

Đối với USD, tại BIDV, tỷ giá USD mua vào ở mức 25.746 VND/USD, giảm 22 đồng, trong khi giá bán ra đạt 26.126 VND/USD, chỉ giảm nhẹ 2 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt, hiện dao động quanh 97,68 điểm, gần mức cao nhất kể từ ngày 23/1. Đồng USD mạnh lên sau khi Tổng thống Donald Trump đề cử Kevin Warsh làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp theo.

Bên cạnh đó, làn sóng bán tháo cổ phiếu công nghệ trong tuần qua đã thúc đẩy tâm lý né tránh rủi ro. Diễn biến này hỗ trợ đồng USD tăng giá, bất chấp lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ suy giảm.

Với đồng EUR, tỷ giá biến động giảm khá mạnh tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết EUR ở mức 29.804 - 31.376 VND/EUR, giảm khoảng 262 đồng ở chiều mua vào và 276 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. BIDV cũng ghi nhận mức giảm sâu hơn.

Đồng GBP tiếp tục là ngoại tệ biến động mạnh nhất trong tuần. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP mua vào - bán ra giảm; BIDV ghi nhận mức giảm còn sâu hơn, khoảng 511 đồng ở chiều mua vào và 501 đồng ở chiều bán ra, đưa tỷ giá về 34.702 - 35.830 VND/GBP.

Đồng CNY có xu hướng tăng. Tại Vietcombank, tỷ giá CNY đạt 3.648 - 3.803 VND/CNY, tăng lần lượt 13,6 đồng và 14,2 đồng hai chiều.

Ngược lại, thị trường tự do ghi nhận biến động mạnh hơn. Tỷ giá USD tự do bán ra tăng rất mạnh trong phiên cuối tuần, lên tới 27.250 - 27.320 VND/USD, cao hơn đầu tuần tới 820 đồng. Diễn biến này phản ánh tâm lý đầu cơ và nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do vẫn khá nhạy cảm với các yếu tố kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

Tỷ giá USD hôm nay (31/7): Tỷ giá trái chiều, dõi theo quyết định lãi suất và khả năng can thiệp đồng Yên

(TBTCO) - Sáng 31/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 18 đồng lên 25.338 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt giảm và thị trường tự do lùi về 26.250 - 26.280 VND/USD. Diễn biến trái chiều xuất hiện khi Fed giữ nguyên lãi suất, chỉ số DXY có thời điểm mất mốc 100 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc họp của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) và khả năng can thiệp tỷ giá.
Tỷ giá USD hôm nay (30/7): Tỷ giá trung tâm lập vùng cao 25.320 đồng, thị trường vẫn đặt cược Fed tăng lãi suất vào cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (30/7): Tỷ giá trung tâm lập vùng cao 25.320 đồng, thị trường vẫn đặt cược Fed tăng lãi suất vào cuối năm

(TBTCO) - Sáng 30/7, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 14 đồng lên 25.320 đồng/USD, tiếp tục lập vùng cao nhất từ trước đến nay, trong khi tỷ giá USD tại các ngân hàng lại giảm nhẹ. Chỉ số DXY phục hồi lên 100,87 điểm sau quyết định giữ nguyên lãi suất của Fed, song thị trường vẫn kỳ vọng Fed có thể tăng lãi suất một lần trước cuối năm.
Fed giữ nguyên lãi suất 3,5% - 3,75% lần thứ 5 liên tiếp, ba phiếu phản đối phát tín hiệu "diều hâu"

Fed giữ nguyên lãi suất 3,5% - 3,75% lần thứ 5 liên tiếp, ba phiếu phản đối phát tín hiệu "diều hâu"

(TBTCO) - Fed giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 3,5% - 3,75% trong kỳ họp thứ 5 liên tiếp, nhưng kết quả biểu quyết 9 - 3 với ba thành viên ủng hộ tăng thêm 0,25 điểm phần trăm phát đi tín hiệu chính sách vẫn nghiêng về hướng "diều hâu". Lạm phát còn cao hơn mục tiêu 2%, để ngỏ khả năng tiếp tục thắt chặt nếu áp lực giá cả chưa giảm như kỳ vọng.
Tỷ giá USD hôm nay (29/7): Tỷ giá trung tâm neo ở đỉnh lịch sử, thị trường chờ tín hiệu từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/7): Tỷ giá trung tâm neo ở đỉnh lịch sử, thị trường chờ tín hiệu từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/7, tỷ giá trung tâm giữ nguyên mức 25.306 đồng, neo ở vùng đỉnh lịch sử. Trong khi đó, tỷ giá USD trên thị trường tự do giảm mạnh, nới rộng khoảng cách với các ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY giảm nhẹ xuống 101,39 điểm trước thềm cuộc họp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), thị trường vẫn thận trọng và nghiêng về kịch bản giữ nguyên lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (28/7): Tỷ giá trung tâm vượt đỉnh lịch sử, DXY duy trì vùng cao trước cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay (28/7): Tỷ giá trung tâm vượt đỉnh lịch sử, DXY duy trì vùng cao trước cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 28/7, tỷ giá trung tâm được niêm yết ở mức 25.306 đồng, tăng 13 đồng so với cuối tuần trước và chính thức vượt đỉnh lịch sử 25.298 đồng thiết lập ngày 25/8/2025. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,05% lên 101,51 điểm, duy trì vùng cao. Thị trường hiện tập trung vào cuộc họp của Fed, đặc biệt là phát biểu của Chủ tịch Fed trong bối cảnh giá năng lượng giảm đang hỗ trợ hạ nhiệt lạm phát.
Tỷ giá USD hôm nay (27/7): USD tăng đầu tuần, kỳ vọng nhiều ngân hàng trung ương giữ nguyên lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (27/7): USD tăng đầu tuần, kỳ vọng nhiều ngân hàng trung ương giữ nguyên lãi suất

(TBTCO) - Sáng 27/7, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng, lên 25.293 đồng trong phiên đầu tuần, trong bối cảnh chỉ số DXY vẫn duy trì trên mốc 110 điểm. Thị trường kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) cùng giữ nguyên lãi suất, khi giá dầu lao dốc hơn 5% nhờ kỳ vọng căng thẳng tại Trung Đông hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Hà Nội - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Miền Tây - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,100 ▲100K 140,900 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▲50K 14,150 ▲50K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800 ▼50K
Trang sức 99.9 13,390 ▲100K 13,990
Trang sức 99.99 13,400 ▲100K 14,000
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 ▲1238K 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 ▲1238K 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,335 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 ▲1238K 141
Cập nhật: 03/08/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18713
CAD 18179 18455 19072
CHF 31823 32204 32861
CNY 0 3850 3943
EUR 29644 29866 30949
GBP 34563 34955 35893
HKD 0 3220 3422
JPY 160 165 171
KRW 0 17 19
NZD 0 15094 15685
SGD 19947 20229 20808
THB 703 766 820
USD (1,2) 26011 0 0
USD (5,10,20) 26052 0 0
USD (50,100) 26081 26090 26460
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,100 26,100 26,480
USD(1-2-5) 25,056 - -
USD(10-20) 25,056 - -
EUR 29,707 29,731 31,134
JPY 163.16 163.45 173.29
GBP 34,747 34,841 36,046
AUD 18,133 18,199 18,884
CAD 18,375 18,434 19,112
CHF 32,090 32,190 33,129
SGD 20,074 20,136 20,933
CNY - 3,818 3,964
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.93 17.66 19.21
THB 752.08 761.37 814.6
NZD 15,112 15,252 15,707
SEK - 2,712 2,807
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,999.73 - 6,770.89
TWD 733.63 - 888.66
SAR - 6,881.18 7,247.23
KWD - 83,133 88,446
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,771 29,891 31,088
GBP 34,807 34,947 35,981
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,000 32,129 33,061
JPY 164.31 164.97 172.93
AUD 18,151 18,224 18,823
SGD 20,184 20,265 20,861
THB 769 772 808
CAD 18,415 18,489 19,073
NZD 15,248 15,795
KRW 17.57 19.53
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26075 26075 26475
AUD 18060 18160 19085
CAD 18366 18466 19480
CHF 32113 32143 33721
CNY 3830.5 3855.5 3990.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29836 29866 31589
GBP 34857 34907 36660
HKD 0 3355 0
JPY 163.92 164.42 174.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15220 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20108 20238 20965
THB 0 732.6 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,121 26,171 26,480
USD20 26,071 26,171 26,575
USD1 24,091 26,171 26,625
AUD 18,185 18,285 19,395
EUR 29,666 29,766 31,428
CAD 18,334 18,434 19,740
SGD 20,224 20,374 20,928
JPY 164.96 166.46 172.02
GBP 34,819 34,969 36,036
XAU 13,698,000 0 14,102,000
CNY 0 3,745 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 03/08/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80