Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 2/2 - 6/2 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng biến động mạnh vượt 16% kỳ hạn qua đêm trước khi hạ nhiệt về 10%, buộc Ngân hàng Nhà nước tăng cường can thiệp. Theo đó, nhà điều hành bơm ròng 159.151 tỷ đồng qua kênh OMO và mở lại kênh hoán đổi USD/VND quy mô khoảng 1 tỷ USD theo dữ liệu của nhiều đơn vị phân tích, nhằm giảm sức căng thanh khoản.
aa

Thị trường tiền tệ tuần 26 - 30/1: Tỷ giá USD giảm sâu, bơm ròng 46.000 tỷ đồng giữ nhịp thanh khoản

"Bơm" kỷ lục hơn 120.000 tỷ đồng hai phiên qua OMO, lãi suất liên ngân hàng vẫn dựng đứng Lãi suất vay mua nhà cố định lên 14%/năm, thị trường bất động sản thử “sức bền”

Lãi suất liên ngân hàng “dậy sóng”, kích hoạt nhiều công cụ

Diễn biến trên thị trường mở (OMO) trong tuần qua từ ngày 2/2 - 6/2 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng thanh khoản khá mạnh vào hệ thống ngân hàng, nhằm hỗ trợ nhu cầu vốn ngắn hạn trong bối cảnh lãi suất liên ngân hàng và áp lực thanh khoản gia tăng.

Cụ thể, giá trị bơm ròng OMO ghi nhận tăng mạnh trong các phiên đầu tuần, đặc biệt ngày 2/2 và 3/2, với quy mô lần lượt khoảng 55.363,15 tỷ đồng và 65.051,8 tỷ đồng. Đây là hai phiên bơm ròng lớn nhất tuần, phản ánh nhu cầu thanh khoản cao. Sang các phiên giữa và cuối tuần, quy mô bơm ròng giảm đáng kể.

Khối lượng trúng thầu qua kênh OMO đạt mức kỷ lục 229.790,33 tỷ đồng ở các kỳ hạn 7 ngày, 28 ngày và 56 ngày, với lãi suất 4,5%/năm. Ở chiều ngược lại, 70.639 tỷ đồng đã đáo hạn trên kênh cầm cố, qua đó đưa lượng vốn OMO đang lưu hành lên mức cao chưa từng có, khoảng 480.014 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng khoảng 159.151 tỷ đồng qua kênh OMO, cho thấy định hướng điều hành thiên về hỗ trợ thanh khoản, đảm bảo hệ thống ngân hàng vận hành thông suốt.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất

Cũng trong tuần qua, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận biến động rất mạnh, đặc biệt ở các kỳ hạn ngắn, phản ánh trạng thái thanh khoản căng thẳng cục bộ trong hệ thống ngân hàng.

Cụ thể, lãi suất qua đêm tăng vọt, có thời điểm lên tới 16,39%/năm vào ngày 3/2, cũng là phiên Ngân hàng Nhà nước bơm ròng hơn 80.000 tỷ đồng qua thị trường mở. Động thái này đã nhanh chóng phát huy hiệu quả, giúp lãi suất qua đêm hạ nhiệt mạnh, xuống còn 10,19%/năm trong phiên 4/2. Tính chung cả tuần, lãi suất liên ngân hàng qua đêm tăng mạnh 5,1 điểm phần trăm so với cuối tuần trước, cho thấy áp lực thanh khoản ngắn hạn tăng mạnh.

Xu hướng tăng mạnh cũng diễn ra ở các kỳ hạn ngắn khác. Lãi suất 1 tuần tăng khoảng 4,06 điểm phần trăm, lên mức 13,44%/năm trong phiên cao điểm, trước khi giảm về 9,95%/năm. Kỳ hạn 2 tuần và 1 tháng (1M) tăng lần lượt khoảng 1,01 và 0,99 điểm phần trăm, trong khi kỳ hạn 3 tháng (3M) chỉ tăng nhẹ 0,36 điểm phần trăm, đưa lãi suất liên ngân hàng lên 7,55%/năm ngày 4/2.

Theo nhóm phân tích SHS, sang ngày 4/2, căng thẳng hạ nhiệt phần nào khi Ngân hàng Nhà nước mở lại kênh hoán đổi USD/VND, với chi phí tham chiếu khoảng 1,31% và quy mô khoảng 1 tỷ USD. Về nguyên nhân, yếu tố nền vẫn là lệch cân đối kỳ hạn (nguồn vốn ngắn nhưng nhu cầu sử dụng dài hơn), khiến “đệm dự trữ" của hệ thống mỏng và dễ tổn thương khi gặp cú sốc ngắn hạn.

Việc lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt nhanh sau các phiên tăng sốc cũng phản ánh tác động kịp thời của các biện pháp điều tiết thanh khoản, đặc biệt là hoạt động bơm ròng qua kênh OMO của Ngân hàng Nhà nước.

Theo đánh giá của nhóm phân tích Công ty cổ phần chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS), diễn biến này không cho thấy dấu hiệu bất ổn hệ thống, nhưng là lời nhắc về tầm quan trọng của quản trị thanh khoản chủ động.

Cùng lúc, mùa vụ trước Tết quay lại khi người dân rút tiền mặt tăng, trong khi một số ngân hàng duy trì dự trữ bắt buộc ở mức thấp nên phải "chạy" bổ sung dự trữ do kỳ nghỉ kéo dài vẫn được tính vào kỳ dự trữ bắt buộc.

Với OMO, quan điểm của nhóm phân tích SHS là hệ thống đã tiến sát giới hạn, nhưng hai phiên đầu tháng 2 vẫn bơm OMO được là vì lượng OMO lưu hành đã giảm từ khoảng 404 nghìn tỷ VND cuối năm 2025 về khoảng 316 nghìn tỷ đồng cuối tháng 1/2026, tạo "dư địa” kỹ thuật.

Đồng thời, lực tham gia chủ yếu đến từ nhóm các ngân hàng lớn do còn đủ giấy tờ có giá để vay OMO, qua đó, hỗ trợ lan tỏa thanh khoản sang các ngân hàng nhỏ hơn. Tuy nhiên, đà cầm cự này không kéo dài, nên Ngân hàng Nhà nước vẫn phải mở lại kênh hoán đổi USD/VND sau gần 01 tháng tạm dừng.

Tỷ giá kênh chính thức dịu nhiệt, tự do bật tăng

Cũng theo nhóm phân tích SHS, việc duy trì kênh Swap (chênh lệch lãi suất USD/VND) theo hướng dương lớn cũng giữ cho dòng ngoại tệ không bị thất thoát ra ngoài và thêm điều kiện đủ để tận dụng dòng ngoại tệ chủ động vào. Qua đó, giúp cho trạng thái ngoại tệ ròng của các ngân hàng có thể nhanh chóng quay về mức cân bằng trong ngắn hạn.

Thị trường tiền tệ tuần 2 - 6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất
Thị trường tiền tệ tuần 2-6/2: Kích hoạt bơm ròng 160.000 tỷ đồng và hoán đổi USD/VND hạ lãi suất. Ảnh minh họa.

Phân tích của Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng cho thấy, đồng VND cũng được hỗ trợ từ các yếu tố nội tại như: chênh lệch lãi suất VND-USD duy trì trạng thái dương khi trung bình lãi suất qua đêm liên ngân hàng neo ở mức cao; nguồn cung USD trong nước dồi dào hơn khi đây là mùa cao điểm xuất khẩu và lượng kiều hối gửi về Việt Nam thường tăng mạnh vào dịp này.

Về diễn biến tỷ giá tuần qua, ngày 6/2, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm 25.065 VND/USD, giảm 1 đồng so với phiên liền trước. Đây là phiên giảm thứ ba liên tiếp trong tuần. Với biên độ dao động 5%, tỷ giá trần được phép giao dịch là 26.318 VND/USD, trong khi tỷ giá sàn ở mức 23.812 VND/USD. Cùng ngày, tỷ giá tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối được niêm yết ở mức 23.862 - 26.268 VND/USD (mua vào - bán ra).

Trong tuần giao dịch từ 2/2 đến 6/2, tỷ giá trung tâm giảm 9 đồng, tiếp đà giảm 3 tuần.

Đối với USD, tại BIDV, tỷ giá USD mua vào ở mức 25.746 VND/USD, giảm 22 đồng, trong khi giá bán ra đạt 26.126 VND/USD, chỉ giảm nhẹ 2 đồng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số USD Index (DXY), thước đo sức mạnh của đồng bạc xanh so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt, hiện dao động quanh 97,68 điểm, gần mức cao nhất kể từ ngày 23/1. Đồng USD mạnh lên sau khi Tổng thống Donald Trump đề cử Kevin Warsh làm Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp theo.

Bên cạnh đó, làn sóng bán tháo cổ phiếu công nghệ trong tuần qua đã thúc đẩy tâm lý né tránh rủi ro. Diễn biến này hỗ trợ đồng USD tăng giá, bất chấp lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ suy giảm.

Với đồng EUR, tỷ giá biến động giảm khá mạnh tại cả hai ngân hàng. Vietcombank niêm yết EUR ở mức 29.804 - 31.376 VND/EUR, giảm khoảng 262 đồng ở chiều mua vào và 276 đồng ở chiều bán ra so với cuối tuần trước. BIDV cũng ghi nhận mức giảm sâu hơn.

Đồng GBP tiếp tục là ngoại tệ biến động mạnh nhất trong tuần. Tại Vietcombank, tỷ giá GBP mua vào - bán ra giảm; BIDV ghi nhận mức giảm còn sâu hơn, khoảng 511 đồng ở chiều mua vào và 501 đồng ở chiều bán ra, đưa tỷ giá về 34.702 - 35.830 VND/GBP.

Đồng CNY có xu hướng tăng. Tại Vietcombank, tỷ giá CNY đạt 3.648 - 3.803 VND/CNY, tăng lần lượt 13,6 đồng và 14,2 đồng hai chiều.

Ngược lại, thị trường tự do ghi nhận biến động mạnh hơn. Tỷ giá USD tự do bán ra tăng rất mạnh trong phiên cuối tuần, lên tới 27.250 - 27.320 VND/USD, cao hơn đầu tuần tới 820 đồng. Diễn biến này phản ánh tâm lý đầu cơ và nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do vẫn khá nhạy cảm với các yếu tố kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

Tỷ giá USD hôm nay (15/5): Tỷ giá trung tâm nhích tăng, DXY vượt 99 điểm neo đỉnh hai tuần

(TBTCO) - Sáng ngày 15/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.131 đồng, tăng 5 đồng. Chỉ số DXY tăng 0,2% lên 99,02 điểm, neo vùng cao nhất khoảng hai tuần gần đây khi giới đầu tư theo dõi sát cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung Quốc; đồng thời, lo ngại nguy cơ sai lầm chính sách tiền tệ toàn cầu và khả năng đảo chiều các giao dịch “carry trade” khi Nhật Bản tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,700 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,750 ▲150K
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,613 1,638
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18217 18492 19068
CAD 18617 18894 19511
CHF 32834 33219 33855
CNY 0 3832 3924
EUR 29993 30266 31291
GBP 34523 34915 35860
HKD 0 3234 3436
JPY 158 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15084 15666
SGD 20033 20315 20838
THB 723 786 839
USD (1,2) 26092 0 0
USD (5,10,20) 26134 0 0
USD (50,100) 26162 26182 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,149 26,149 26,389
USD(1-2-5) 25,104 - -
USD(10-20) 25,104 - -
EUR 30,236 30,260 31,531
JPY 161.58 161.87 170.75
GBP 34,787 34,881 35,889
AUD 18,505 18,572 19,173
CAD 18,866 18,927 19,518
CHF 33,217 33,320 34,117
SGD 20,213 20,276 20,966
CNY - 3,812 3,936
HKD 3,306 3,316 3,436
KRW 16.16 16.85 18.23
THB 771.95 781.48 832.43
NZD 15,143 15,284 15,654
SEK - 2,763 2,845
DKK - 4,046 4,166
NOK - 2,805 2,889
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,212.73 - 6,975.83
TWD 753.13 - 907.44
SAR - 6,921.2 7,250.88
KWD - 83,808 88,689
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26201 26201 26389
AUD 18396 18496 19421
CAD 18796 18896 19910
CHF 33070 33100 34687
CNY 3812.1 3837.1 3972.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30173 30203 31925
GBP 34830 34880 36633
HKD 0 3355 0
JPY 162.13 162.63 173.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20188 20318 21049
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16100000 16100000 16350000
SBJ 14000000 14000000 16350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,183 26,233 26,389
USD20 26,183 26,233 26,389
USD1 26,183 26,233 26,389
AUD 18,498 18,598 19,705
EUR 30,356 30,356 31,765
CAD 18,769 18,869 20,176
SGD 20,275 20,425 21,265
JPY 162.6 164.1 168.65
GBP 34,702 35,052 35,914
XAU 16,098,000 0 16,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80