Nhiều ngân hàng chờ “giấy thông hành” nhập cuộc thị trường vàng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trong bối cảnh thị trường vàng từng bước “mở cửa” và đã có 9 nhà băng vượt ngưỡng khắt khe 50.000 tỷ đồng vốn điều lệ, nhiều nhà băng như VPBank, Techcombank... hoàn tất các bước chuẩn bị để sẵn sàng tham gia. Chờ Ngân hàng Nhà nước cấp phép, các ngân hàng kỳ vọng sớm triển khai “cuộc chơi” sản xuất vàng miếng và mở rộng sang các sản phẩm tài chính gắn với vàng trong thời gian tới.
aa

Nhiều "ông lớn" ngân hàng sẵn sàng nhập cuộc

Chia sẻ tại Hội nghị gặp gỡ nhà đầu tư thông tin về định hướng kinh doanh năm 2026 vừa qua, bà Lưu Thị Thảo - Phó Tổng Giám đốc Thường trực VPBank cho biết, để được cấp phép tham gia sản xuất vàng miếng, VPBank trình Ngân hàng Nhà nước xin cấp phép xuất nhập khẩu vàng, cũng như hạn ngạch (quota) nhập khẩu vàng.

Bên cạnh mảng kinh doanh vàng miếng, trong trường hợp thời gian tới Ngân hàng Nhà nước xem xét mở rộng các hoạt động liên quan đến vàng như: sàn giao dịch vàng, chứng chỉ vàng, tiền gửi gắn với vàng hay các giao dịch vàng phái sinh, đại diện VPBank khẳng định sẵn sàng tham gia, với sự chuẩn bị đầy đủ về công nghệ, nguồn vốn và nhân sự.

Nhiều ngân hàng chờ “giấy thông hành” nhập cuộc thị trường vàng
Đến cuối năm 2025 đã có 9 ngân hàng thương mại và doanh nghiệp đủ điều kiện đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng. Ảnh: Đức Thanh

"Chúng tôi định hướng rằng đây sẽ là những hướng đi và tạo ra động lực tăng trưởng mới trong tương lai và cũng là một "mảnh ghép" trong hệ sinh thái, giúp ngân hàng phục vụ tốt hơn các phân khúc khách hàng" - bà Thảo nhấn mạnh.

Đại diện Techcombank cũng cho biết, hiện ngân hàng đang ở những bước cuối cùng trong quá trình chờ cấp có thẩm quyền phê duyệt. Theo đó, Techcombank đã đề xuất và đang hoàn tất các thủ tục để xin giấy phép nhập khẩu, sản xuất và phân phối vàng mang thương hiệu Techcombank.

Ngân hàng nhiều lợi thế từ tệp khách hàng rộng và sản phẩm đa dạng

"Các ngân hàng thương mại cho thấy một số ưu điểm. Thứ nhất, ngân hàng có cơ sở khách hàng rất rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi những người đang mua vàng hiện nay, nên khả năng tiếp cận thêm khách hàng quan tâm đến vàng. Thứ hai, có thể đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy sự phát triển của thị trường vàng tại Việt Nam. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới cho thấy, ngân hàng có thể cung cấp những sản phẩm tài chính để khách hàng lựa chọn, như: tài khoản tiết kiệm vàng, hoặc kế hoạch tích lũy vàng qua ngân hàng giống tại Nhật Bản" - ông Shaokai Fan chia sẻ.

Ngân hàng cũng bày tỏ kỳ vọng lớn đối với lĩnh vực này, bởi đây là một trong những dòng sản phẩm, tài sản được đông đảo khách hàng lựa chọn, với nhu cầu thị trường ở mức cao.

"Hiện những bước chuẩn bị, từ việc lựa chọn các nhà nhập khẩu, nhà sản xuất, cách thức cung cấp bán hàng online thế nào, offline ra sao, hay cách thức tổ chức tại các đơn vị ở chi nhánh..., mọi thứ đã sẵn sàng và đang chờ phê duyệt của Ngân hàng Nhà nước" - lãnh đạo Techcombank nhấn mạnh.

Đây được xem là những bước khởi đầu cho mảng kinh doanh vàng của Techcombank, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tổng thể tài sản và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Đồng thời, thể hiện nỗ lực đồng hành cùng Ngân hàng Nhà nước trong việc bình ổn giá vàng, hướng tới xây dựng thị trường vàng minh bạch và phát triển lành mạnh hơn.

WGC gợi mở lộ trình "mở cửa" thị trường vàng

Theo nhìn nhận của ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại Hội đồng Vàng Thế giới (WGC), hiện Việt Nam đang trong quá trình "mở cửa" thị trường vàng, tuy nhiên, việc này được thực hiện theo lộ trình, từng bước một. Thực tế trên thế giới cho thấy, khi chuyển sang một thị trường vàng tự do, các quốc gia đều trải qua nhiều giai đoạn.

"Trước hết, các nước thực hiện dưới hình thức đầu tư bằng vàng vật chất, sau đó, thực hiện thông qua các sản phẩm vàng do các ngân hàng thương mại cung cấp. Các ngân hàng cũng có thể cung cấp các tài khoản tiết kiệm vàng cho người dân có thể lựa chọn. Ngoài ra, có thể sẽ tiếp tục có những hình thức đầu tư khác, chẳng hạn như thông qua quỹ ETF hoặc phát hành những chứng chỉ vàng" - ông Shaokai Fan gợi mở.

Có thể thấy, mỗi phương án đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Vì vậy, khi thị trường vàng Việt Nam ngày càng phát triển, sẽ có nhiều phương án được cân nhắc và xem xét. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc tiếp tục phân tích, nghiên cứu sâu hơn các mô hình và công cụ đầu tư vàng, nhằm mang lại cho người dân nhiều lựa chọn phù hợp và hiệu quả hơn.

Liên quan đến vai trò của các ngân hàng thương mại trên thị trường vàng, đại diện WGC cho biết, việc ngân hàng tự sản xuất vàng miếng không phải là xu hướng phổ biến trên thế giới, song mô hình này vẫn có những lợi thế đáng chú ý. Sự tham gia của các ngân hàng thương mại vào thị trường vàng là một tín hiệu tích cực, có thể góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường vàng Việt Nam thời gian tới.

Đánh giá về triển vọng thị trường vàng năm 2026, đại diện WGC nhấn mạnh quan điểm môi trường toàn cầu vẫn bị bao trùm bởi những bất ổn kéo dài. Tín hiệu tăng trưởng ở các nền kinh tế lớn tiếp tục không đồng đều, căng thẳng địa chính trị vẫn tác động mạnh đến các thị trường, trong khi tranh luận quanh lạm phát và chính sách tiền tệ vẫn chưa ngã ngũ.

Nghiên cứu của WGC cũng cho thấy, triển vọng thị trường vàng năm 2026 không xoay quanh một câu chuyện chủ đạo duy nhất, mà là sự đan xen giữa các yếu tố hỗ trợ và kìm hãm. "Vàng có thể không lặp lại đà tăng mạnh như năm 2025, nhưng các động lực củng cố vai trò của vàng vẫn duy trì vững chắc" - WGC nhận định.

Có 9 ngân hàng vượt mốc 50.000 tỷ đồng vốn điều lệ, chờ “cửa mở”

Năm 2025 đánh dấu bước ngoặt mới với thị trường vàng khi Ngân hàng Nhà nước đã khẩn trương nghiên cứu, đề xuất trình Chính phủ ban hành Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 3/4/2012 về quản lý hoạt động kinh doanh vàng (Nghị định 232).

Nghị định 232 đã bám sát các chủ trương về xóa bỏ cơ chế độc quyền Nhà nước một cách có kiểm soát trên nguyên tắc Nhà nước vẫn quản lý hoạt động sản xuất vàng miếng.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước khẩn trương ban hành Thông tư số 34/2025/TT-NHNN ngày 9/10/2025 và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để quản lý thị trường vàng theo cơ chế mới. Việc chấm dứt cơ chế Nhà nước độc quyền thương hiệu vàng miếng, mở rộng đối tượng sản xuất vàng miếng và nhập khẩu vàng nguyên liệu sẽ giúp nguồn cung vàng trên thị trường đa dạng hơn.

Xét theo điều kiện về vốn điều lệ, thống kê của phóng viên từ báo cáo tài chính các ngân hàng cho thấy, đến cuối năm 2025, có 9 ngân hàng đã tăng mạnh vốn điều lệ vượt ngưỡng 50.000 tỷ đồng, tăng 2 nhà băng so với cuối năm 2024, qua đó, “mở cửa” cho khả năng tham gia lĩnh vực sản xuất vàng miếng. Danh sách gồm: Vietcombank, MB, VPBank, VietinBank, Techcombank, BIDV, Agribank; cùng hai ngân hàng mới gia nhập nhóm là HDBank và ACB.

Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối năm 2025, cơ quan này đã tiếp nhận 9 hồ sơ của các ngân hàng thương mại và doanh nghiệp đủ điều kiện đề nghị cấp phép sản xuất vàng miếng.

Theo đánh giá của TS. Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia tài chính, ngân hàng, trong bối cảnh nguồn cung vàng tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế, Ngân hàng Nhà nước đã cho phép một số ngân hàng thương mại và một số doanh nghiệp kinh doanh vàng được nhập khẩu vàng. Tuy nhiên, trên thực tế, hiện vẫn chưa rõ lượng vàng được nhập khẩu là bao nhiêu.

Tại các tiệm vàng, không chỉ việc bán vàng vẫn diễn ra khá nhỏ giọt, mà còn xuất hiện tâm lý FOMO, tức tâm lý sợ bỏ lỡ cơ hội kiếm lời. "Tâm lý FOMO đang rất mạnh, trong khi nguồn cung lại bị giới hạn. Điều này đã đẩy giá vàng trong nước lên mức rất cao" - ông Hiếu đánh giá.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

Vietbank sắp chào sàn HOSE, tiếp tục tăng vốn để mở rộng dư địa tăng trưởng

(TBTCO) - Vietbank chính thức đưa gần 1,08 tỷ cổ phiếu lên giao dịch trên HOSE từ ngày 14/7/2026 sau khi rời UPCoM. Việc chuyển sàn diễn ra trong bối cảnh Vietbank tiếp tục tăng vốn nhằm mở rộng dư địa tăng trưởng, đẩy dư nợ tín dụng tăng hơn 23% trong năm nay, dù vẫn chịu áp lực khi nợ xấu gia tăng.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17813 18087 18661
CAD 18148 18424 19040
CHF 31764 32145 32782
CNY 0 3837 3929
EUR 29363 29584 30658
GBP 34375 34767 35692
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14970 15557
SGD 19788 20070 20646
THB 697 760 813
USD (1,2) 25992 0 0
USD (5,10,20) 26033 0 0
USD (50,100) 26062 26076 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26060 26060 26494
AUD 17996 18096 19026
CAD 18332 18432 19446
CHF 32012 32042 33620
CNY 3817.3 3842.3 3977.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29546 29576 31301
GBP 34671 34721 36477
HKD 0 3355 0
JPY 158.29 158.79 169.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15079 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19947 20077 20805
THB 0 726 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80