Ngân hàng lãi lớn trên 356 nghìn tỷ đồng, nhưng “máy kéo” lãi thuần chậm nhịp

Tú Anh
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận năm 2025 của khối ngân hàng niêm yết ghi nhận gam màu sáng, với tổng lãi trước thuế bật tăng 18,8%, vượt 356 nghìn tỷ đồng. Dù vậy, “máy kéo” lãi thuần đang hụt hơi khi chỉ tăng 10,8% và co hẹp tỷ trọng, trong lúc thu ngoài lãi bứt tốc 22,5%. NIM thu hẹp buộc nhiều nhà băng phải xoay trục, tìm động lực tăng trưởng mới.
aa

Nhiều nhà băng lãi lớn vượt 30.000 tỷ đồng, nhưng lãi thuần giảm tốc

Tại Hội nghị gặp gỡ nhà đầu tư cập nhật kết quả kinh doanh năm 2025 và định hướng kinh doanh năm 2026 vừa diễn ra, bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính, Ngân hàng Quân đội (MB) cho biết, giai đoạn 2020 - 2025, tổng thu nhập hoạt động của MB tăng trưởng đều đặn, bình quân trên 20%/năm. Riêng năm 2025, tổng thu nhập hoạt động đạt khoảng 67.700 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 34.268 tỷ đồng, tăng khoảng 19% so với năm 2024. Đây cũng là năm đầu tiên MB ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 30.000 tỷ đồng.

"Về cơ cấu thu nhập hiện nay, thu ngoài lãi hai năm vừa qua duy trì xấp xỉ 24%, trong khi năm 2023, thu ngoài lãi của MB khoảng 19%. Với việc khai thác tối đa tệp khách hàng, thu ngoài lãi hai năm nay tương đối ổn, thời gian tới, sẽ phải tăng lên khoảng 28 - 30%" - Giám đốc Tài chính MB nêu rõ.

Ngân hàng lãi lớn trên 356 nghìn tỷ đồng, nhưng “máy kéo” lãi thuần chậm nhịp
Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ. Ảnh: Đức Thanh

Về thu nhập thuần ngoài lãi, tổng thu đạt 16.083 tỷ đồng, tăng khoảng 13%. Tuy nhiên, nếu bóc tách riêng khoản thu từ chứng khoán, phần thu từ các hoạt động ngoài lãi khác của MB ghi nhận mức tăng trưởng khoảng 42% so với năm 2024, cho thấy kết quả tích cực và khá ấn tượng, đặc biệt với các khoản thu từ thẻ, bảo hiểm, tư vấn trái phiếu...

Bên cạnh đó, năm 2025, thu nhập thuần từ lãi tăng 25%. Mức tăng này tương thích với đà mở rộng tín dụng của ngân hàng khi tín dụng hợp nhất tăng tới 37%. Dù vậy, thu thuần từ lãi tăng thấp hơn, do MB chủ động triển khai các biện pháp hỗ trợ nền kinh tế, bao gồm việc giảm lãi suất cho vay.

Cũng ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 30.000 tỷ đồng năm 2025, theo chia sẻ của bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc Cao cấp Quản trị Tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank, cả năm 2025, lợi nhuận trước thuế ngân hàng đạt 32,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với năm 2024; tổng thu nhập hoạt động tăng 13,6% trong bối cảnh áp lực NIM căng thẳng.

Do đó, dù tăng trưởng tín dụng Techcombank đạt 18,4%, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 7,5% do NIM bị thu hẹp.

"Đây không chỉ là thử thách với Techcombank, mà với tất cả các ngân hàng ở trong hệ thống. Mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế cũng được đóng góp rất tích cực từ việc kiểm soát chi phí hoạt động, cũng như kiểm soát chi phí dự phòng rủi ro tín dụng" - bà Thủy nhận định.

Xoay trục sang thu ngoài lãi khi NIM khó bật tăng

Theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, trong bối cảnh NIM suy giảm và khó có thể phục hồi nhanh, việc các ngân hàng mở rộng mạnh sang các nguồn thu ngoài lãi là xu hướng tất yếu.

Về mặt chiến lược, đây rõ ràng cũng là bước đi giúp đa dạng hóa nguồn thu và phân tán rủi ro. Bởi khi phụ thuộc quá lớn vào chênh lệch lãi suất, ngân hàng sẽ rất dễ tổn thương trước các chu kỳ lãi suất và thanh khoản.

"Việc tham gia sâu hơn vào bảo hiểm, chứng khoán, quản lý quỹ hay các dịch vụ tài chính số giúp ngân hàng khai thác tốt hơn hệ sinh thái khách hàng sẵn có, tăng thu nhập phí và hoa hồng, từ đó, làm “mềm” biến động lợi nhuận khi tín dụng tăng chậm hoặc chi phí vốn tăng" - ông Huân ví von.

Mở rộng thu từ phí, giảm phụ thuộc lãi thuần

"Thực tế, bảng cân đối thường có những giới hạn nhất định trong việc mở rộng, từ đó, ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng thu nhập lãi thuần. Tuy nhiên, tăng trưởng thu từ phí gần như có thể tăng trưởng không có giới hạn. Do đó, tăng trưởng từ phí luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Techcombank".

Bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc Cao cấp Quản trị Tài chính Doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank.

Dự kiến động lực tăng trưởng lợi nhuận với Techcombank năm 2026, bà Bùi Thị Thu Thủy cho biết, trọng tâm trước hết đến từ việc mở rộng quy mô bảng cân đối. Theo đó, Techcombank được Ngân hàng Nhà nước giao hạn mức tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 12%.

"Chúng tôi vẫn kỳ vọng mức tăng trưởng tín dụng sẽ cũng không thấp hơn hoặc tiệm cận với mức của năm 2025, dựa trên kỳ vọng về tham vọng phát triển kinh tế rất là lớn của Chính phủ, với GDP tăng trưởng hai con số, cũng như năng lực về việc quản trị bảng cân đối, quản trị rủi ro ngân hàng rất tốt" - bà Thủy bày tỏ.

Dù vậy, Techcombank cũng sẽ chuẩn bị những phương án thận trọng hơn trong trường hợp bảng cân đối không thể tăng trưởng như kỳ vọng. Khi đó, ngân hàng sẽ thực hiện các khoản thu xếp hợp vốn, thay vì giữ khoản vay trên bảng cân đối, qua đó, tăng thu nhập từ phí, thay vì thu nhập từ lãi.

Cũng theo đại diện Techcombank, đầu năm, NIM có thể chịu ảnh hưởng từ chi phí vốn gia tăng, tuy nhiên, trong năm 2026, ngân hàng kỳ vọng NIM sẽ phục hồi và đạt khoảng 3,6 - 3,8% cuối năm, nhờ mở rộng bảng cân đối sang các sản phẩm có lợi suất cao hơn và tiếp tục hút tiền gửi không kỳ hạn, củng cố lợi thế chi phí huy động.

Cũng theo Chủ tịch Hội đồng quản trị MB Lưu Trung Thái, dự kiến năm nay, mục tiêu lợi nhuận MB khoảng 39,5 ngàn tỷ đồng; trong đó, các công ty thành viên sẽ đóng góp khoảng 12 - 13%.

MB tiếp tục đẩy mạnh hợp lực theo mô hình tập đoàn nhằm khai thác tối đa lợi thế hệ sinh thái và mở rộng nguồn thu ngoài lãi. Với hiện diện đầy đủ ở các mảng then chốt như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán… MB đặt mục tiêu nâng tầm các công ty thành viên thành lực lượng kinh doanh nòng cốt, đóng góp ngày càng lớn vào kết quả hợp nhất, qua đó gia tăng đồng thời doanh thu và lợi nhuận của toàn tập đoàn.

Bên cạnh đó, lãnh đạo MB cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có khả năng duy trì ổn định. Theo định hướng năm 2026, ngân hàng không đặt mục tiêu mở rộng NIM mà ưu tiên tăng trưởng quy mô để bù đắp.

Lợi nhuận "thăng hoa" hơn 356 nghìn tỷ đồng, thu ngoài lãi bứt tốc

Thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ, phản ánh đà tăng trưởng lợi nhuận rõ nét năm 2025.

Động lực chính các ngân hàng đến từ tăng trưởng thu nhập, khi tổng thu nhập hoạt động tăng 13,3% lên 650.887,6 tỷ đồng. Trong đó, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 10,8%, dù dư nợ cho vay khách hàng tăng mạnh 19,5%, vượt mốc 14 triệu tỷ đồng. Dù vẫn giữ vai trò trụ cột tại nhiều ngân hàng, thu nhập lãi thuần đã thu hẹp tỷ trọng trong tổng thu nhập, từ 78,6% năm 2024 xuống còn 76,8% năm 2025.

Điểm sáng đáng chú ý là thu nhập ngoài lãi bật tăng mạnh 22,5%, cho thấy nỗ lực đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ, bancassurance, kinh doanh chứng khoán, ngoại hối... của nhiều ngân hàng.

Ở chiều chi phí, chi phí hoạt động chỉ tăng 8,4%, thấp hơn mức tăng của thu nhập, qua đó, góp phần cải thiện hiệu quả kinh doanh toàn ngành.

Dù vậy, nhiều ngân hàng vẫn thận trọng gia cố “bộ đệm” an toàn khi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 9%, phần nào làm chậm đà tăng lợi nhuận. Đáng chú ý, 5 ngân hàng ghi nhận mức trích lập tăng từ 2 - 6 lần cùng kỳ, nổi bật như: Sacombank trích lập hơn 11.000 tỷ đồng, gấp 5,8 lần; Nam A Bank tăng 372,9% lên 2.463,3 tỷ đồng; NCB tăng 166,5% đạt 702,4 tỷ đồng. VietABank và ACB tăng hơn gấp đôi cùng kỳ, lên 1.168 tỷ đồng và 3.334,7 tỷ đồng.

Tú Anh

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

Tỷ giá USD hôm nay (15/9): USD tăng trước kỳ vọng Fed tăng lãi suất, nợ công gần 40 nghìn tỷ USD thêm áp lực

(TBTCO) - Sáng 15/9, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.617 đồng, trong khi USD ngân hàng tăng mạnh. Chỉ số DXY tăng 0,38% lên 99,56 điểm. Sau dữ liệu CPI, thị trường định giá 90% khả năng Fed tăng lãi suất 25 điểm cơ bản tuần này. Tuy nhiên, lãi suất cao hơn đặt ra thách thức lớn cho kinh tế Mỹ, khi nợ công gần 40 nghìn tỷ USD, đẩy Fed vào thế tiến thoái lưỡng nan.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

Chi trả bảo hiểm tăng nhanh, doanh nghiệp gia cố “bộ đệm” rủi ro

(TBTCO) - Chi trả quyền lợi bảo hiểm 8 tháng đạt 67.907 tỷ đồng, tăng 12,39%, cao hơn đáng kể tốc độ tăng doanh thu phí. Trước áp lực bồi thường gia tăng, các doanh nghiệp tăng cường các "bộ đệm" chia sẻ rủi ro để giảm áp lực chi phí.
Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

Huy động vốn tăng tốc, thanh khoản dần cải thiện

(TBTCO) - Huy động VND bất ngờ vượt tốc độ tăng tín dụng, nhưng tính cả ngoại tệ, khoảng cách khoảng 2,5 triệu tỷ đồng vẫn chưa được lấp đầy. Thanh khoản mới chỉ “dễ thở” hơn, chưa thực sự dồi dào khi những vấn đề “gốc rễ” về nguồn vốn chưa được tháo gỡ, khiến áp lực huy động và dư địa giảm lãi suất vẫn hạn chế.
Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

Prudential ra mắt giải pháp bảo hiểm sức khỏe linh hoạt hàng đầu “may đo” theo từng giai đoạn cuộc đời

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) vừa chính thức ra mắt PRUKhỏe Linh Hoạt, sản phẩm bảo hiểm bán cùng được thiết kế theo định hướng cá nhân hóa các kế hoạch bảo hiểm sức khỏe, trao cho khách hàng quyền chủ động lựa chọn hạn mức hàng năm, phạm vi địa lý và quyền lợi bảo hiểm tùy chọn để xây dựng kế hoạch phù hợp với nhu cầu, khả năng tài chính và từng giai đoạn cuộc sống.
Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

Phí bảo hiểm xe cơ giới sẽ minh bạch hơn

(TBTCO) - Thông tư số 96/2026/TT-BTC yêu cầu doanh nghiệp bảo hiểm thông báo cụ thể các trường hợp và căn cứ tăng, giảm phí bảo hiểm xe cơ giới. Quy định mới không chỉ đặt ra giới hạn đối với việc giảm phí, mà còn hướng hoạt động cạnh tranh vào thực chất, bảo đảm giá phí tương xứng với mức độ rủi ro và quyền lợi của khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

NCB sẽ tài trợ vốn cho dự án đầu tư xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội

(TBTCO) - Tại Hội nghị giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính - ngân hàng phục vụ tăng trưởng kinh tế Thủ đô giai đoạn 2026 - 2030 vừa tổ chức, Ngân hàng NCB và Công ty TNHH Đầu tư Hạ tầng và Đô thị Bắc Hà Nội đã chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, đồng hành cùng triển khai xây dựng tuyến đường kết nối sân bay Gia Bình với Thủ đô Hà Nội.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Hà Nội - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Miền Tây - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,300 ▼100K 145,300 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,230 ▼30K 14,530 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,230 ▼30K 14,580 ▼30K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,890 ▼30K 14,490 ▼30K
Trang sức 99.99 13,900 ▼30K 14,500 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,423 ▼3K 14,532 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,423 ▼3K 14,533 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,418 ▼3K 1,448 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,418 ▼3K 1,449 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,393 ▼3K 1,438 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,376 ▼297K 142,376 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,211 ▼225K 108,011 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,144 ▼204K 97,944 ▼204K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,077 ▲70251K 87,877 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,194 ▼175K 83,994 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,321 ▼125K 60,121 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,423 ▼3K 1,453 ▼3K
Cập nhật: 15/09/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17966 18241 18820
CAD 18122 18397 19017
CHF 31081 31459 32106
CNY 0 3825 3922
EUR 29314 29534 30615
GBP 34177 34568 35505
HKD 0 3179 3381
JPY 160 164 171
KRW 0 18 20
NZD 0 14647 15235
SGD 19864 20145 20716
THB 695 759 812
USD (1,2) 25699 0 0
USD (5,10,20) 25738 0 0
USD (50,100) 25766 25780 26150
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,755 25,755 26,135
USD(1-2-5) 24,725 - -
USD(10-20) 24,725 - -
EUR 29,335 29,358 30,750
JPY 162.83 163.12 173
GBP 34,326 34,419 35,613
AUD 18,143 18,209 18,900
CAD 18,306 18,365 19,044
CHF 31,333 31,430 32,357
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,790 3,936
HKD 3,240 3,250 3,387
KRW 17.55 18.3 19.91
THB 742.59 751.76 804.71
NZD 14,635 14,771 15,210
SEK - 2,607 2,701
DKK - 3,934 4,074
NOK - 2,726 2,826
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,938.54 - 6,705.61
TWD 735.4 - 891
SAR - 6,788.41 7,150.9
KWD - 82,221 87,493
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 29,415 29,533 30,730
GBP 34,381 34,519 35,547
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 31,240 31,365 32,300
JPY 163.69 164.35 172.33
AUD 18,155 18,228 18,821
SGD 20,068 20,149 20,742
THB 761 764 800
CAD 18,349 18,423 19,014
NZD 14,717 15,256
KRW 18.26 20.19
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18153 18253 19178
CAD 18317 18417 19431
CHF 31333 31363 32941
CNY 3806.2 3831.2 3966.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29495 29525 31248
GBP 34484 34534 36294
HKD 0 3305 0
JPY 163.99 164.49 175.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14767 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20019 20149 20871
THB 0 724.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14250000 14250000 14550000
SBJ 13000000 13000000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,230
USD20 25,678 25,828 26,230
USD1 25,658 25,828 26,230
AUD 18,213 18,313 19,419
EUR 29,320 29,420 31,078
CAD 18,289 18,389 19,696
SGD 20,129 20,279 20,835
JPY 164.9 166.4 171.95
GBP 34,414 34,564 35,627
XAU 14,228,000 0 14,532,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/09/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30