Ngân hàng lãi lớn trên 356 nghìn tỷ đồng, nhưng “máy kéo” lãi thuần chậm nhịp

Tú Anh
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận năm 2025 của khối ngân hàng niêm yết ghi nhận gam màu sáng, với tổng lãi trước thuế bật tăng 18,8%, vượt 356 nghìn tỷ đồng. Dù vậy, “máy kéo” lãi thuần đang hụt hơi khi chỉ tăng 10,8% và co hẹp tỷ trọng, trong lúc thu ngoài lãi bứt tốc 22,5%. NIM thu hẹp buộc nhiều nhà băng phải xoay trục, tìm động lực tăng trưởng mới.
aa

Nhiều nhà băng lãi lớn vượt 30.000 tỷ đồng, nhưng lãi thuần giảm tốc

Tại Hội nghị gặp gỡ nhà đầu tư cập nhật kết quả kinh doanh năm 2025 và định hướng kinh doanh năm 2026 vừa diễn ra, bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính, Ngân hàng Quân đội (MB) cho biết, giai đoạn 2020 - 2025, tổng thu nhập hoạt động của MB tăng trưởng đều đặn, bình quân trên 20%/năm. Riêng năm 2025, tổng thu nhập hoạt động đạt khoảng 67.700 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 34.268 tỷ đồng, tăng khoảng 19% so với năm 2024. Đây cũng là năm đầu tiên MB ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 30.000 tỷ đồng.

"Về cơ cấu thu nhập hiện nay, thu ngoài lãi hai năm vừa qua duy trì xấp xỉ 24%, trong khi năm 2023, thu ngoài lãi của MB khoảng 19%. Với việc khai thác tối đa tệp khách hàng, thu ngoài lãi hai năm nay tương đối ổn, thời gian tới, sẽ phải tăng lên khoảng 28 - 30%" - Giám đốc Tài chính MB nêu rõ.

Ngân hàng lãi lớn trên 356 nghìn tỷ đồng, nhưng “máy kéo” lãi thuần chậm nhịp
Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ. Ảnh: Đức Thanh

Về thu nhập thuần ngoài lãi, tổng thu đạt 16.083 tỷ đồng, tăng khoảng 13%. Tuy nhiên, nếu bóc tách riêng khoản thu từ chứng khoán, phần thu từ các hoạt động ngoài lãi khác của MB ghi nhận mức tăng trưởng khoảng 42% so với năm 2024, cho thấy kết quả tích cực và khá ấn tượng, đặc biệt với các khoản thu từ thẻ, bảo hiểm, tư vấn trái phiếu...

Bên cạnh đó, năm 2025, thu nhập thuần từ lãi tăng 25%. Mức tăng này tương thích với đà mở rộng tín dụng của ngân hàng khi tín dụng hợp nhất tăng tới 37%. Dù vậy, thu thuần từ lãi tăng thấp hơn, do MB chủ động triển khai các biện pháp hỗ trợ nền kinh tế, bao gồm việc giảm lãi suất cho vay.

Cũng ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 30.000 tỷ đồng năm 2025, theo chia sẻ của bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc Cao cấp Quản trị Tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank, cả năm 2025, lợi nhuận trước thuế ngân hàng đạt 32,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với năm 2024; tổng thu nhập hoạt động tăng 13,6% trong bối cảnh áp lực NIM căng thẳng.

Do đó, dù tăng trưởng tín dụng Techcombank đạt 18,4%, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 7,5% do NIM bị thu hẹp.

"Đây không chỉ là thử thách với Techcombank, mà với tất cả các ngân hàng ở trong hệ thống. Mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế cũng được đóng góp rất tích cực từ việc kiểm soát chi phí hoạt động, cũng như kiểm soát chi phí dự phòng rủi ro tín dụng" - bà Thủy nhận định.

Xoay trục sang thu ngoài lãi khi NIM khó bật tăng

Theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, trong bối cảnh NIM suy giảm và khó có thể phục hồi nhanh, việc các ngân hàng mở rộng mạnh sang các nguồn thu ngoài lãi là xu hướng tất yếu.

Về mặt chiến lược, đây rõ ràng cũng là bước đi giúp đa dạng hóa nguồn thu và phân tán rủi ro. Bởi khi phụ thuộc quá lớn vào chênh lệch lãi suất, ngân hàng sẽ rất dễ tổn thương trước các chu kỳ lãi suất và thanh khoản.

"Việc tham gia sâu hơn vào bảo hiểm, chứng khoán, quản lý quỹ hay các dịch vụ tài chính số giúp ngân hàng khai thác tốt hơn hệ sinh thái khách hàng sẵn có, tăng thu nhập phí và hoa hồng, từ đó, làm “mềm” biến động lợi nhuận khi tín dụng tăng chậm hoặc chi phí vốn tăng" - ông Huân ví von.

Mở rộng thu từ phí, giảm phụ thuộc lãi thuần

"Thực tế, bảng cân đối thường có những giới hạn nhất định trong việc mở rộng, từ đó, ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng thu nhập lãi thuần. Tuy nhiên, tăng trưởng thu từ phí gần như có thể tăng trưởng không có giới hạn. Do đó, tăng trưởng từ phí luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Techcombank".

Bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc Cao cấp Quản trị Tài chính Doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank.

Dự kiến động lực tăng trưởng lợi nhuận với Techcombank năm 2026, bà Bùi Thị Thu Thủy cho biết, trọng tâm trước hết đến từ việc mở rộng quy mô bảng cân đối. Theo đó, Techcombank được Ngân hàng Nhà nước giao hạn mức tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 12%.

"Chúng tôi vẫn kỳ vọng mức tăng trưởng tín dụng sẽ cũng không thấp hơn hoặc tiệm cận với mức của năm 2025, dựa trên kỳ vọng về tham vọng phát triển kinh tế rất là lớn của Chính phủ, với GDP tăng trưởng hai con số, cũng như năng lực về việc quản trị bảng cân đối, quản trị rủi ro ngân hàng rất tốt" - bà Thủy bày tỏ.

Dù vậy, Techcombank cũng sẽ chuẩn bị những phương án thận trọng hơn trong trường hợp bảng cân đối không thể tăng trưởng như kỳ vọng. Khi đó, ngân hàng sẽ thực hiện các khoản thu xếp hợp vốn, thay vì giữ khoản vay trên bảng cân đối, qua đó, tăng thu nhập từ phí, thay vì thu nhập từ lãi.

Cũng theo đại diện Techcombank, đầu năm, NIM có thể chịu ảnh hưởng từ chi phí vốn gia tăng, tuy nhiên, trong năm 2026, ngân hàng kỳ vọng NIM sẽ phục hồi và đạt khoảng 3,6 - 3,8% cuối năm, nhờ mở rộng bảng cân đối sang các sản phẩm có lợi suất cao hơn và tiếp tục hút tiền gửi không kỳ hạn, củng cố lợi thế chi phí huy động.

Cũng theo Chủ tịch Hội đồng quản trị MB Lưu Trung Thái, dự kiến năm nay, mục tiêu lợi nhuận MB khoảng 39,5 ngàn tỷ đồng; trong đó, các công ty thành viên sẽ đóng góp khoảng 12 - 13%.

MB tiếp tục đẩy mạnh hợp lực theo mô hình tập đoàn nhằm khai thác tối đa lợi thế hệ sinh thái và mở rộng nguồn thu ngoài lãi. Với hiện diện đầy đủ ở các mảng then chốt như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán… MB đặt mục tiêu nâng tầm các công ty thành viên thành lực lượng kinh doanh nòng cốt, đóng góp ngày càng lớn vào kết quả hợp nhất, qua đó gia tăng đồng thời doanh thu và lợi nhuận của toàn tập đoàn.

Bên cạnh đó, lãnh đạo MB cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có khả năng duy trì ổn định. Theo định hướng năm 2026, ngân hàng không đặt mục tiêu mở rộng NIM mà ưu tiên tăng trưởng quy mô để bù đắp.

Lợi nhuận "thăng hoa" hơn 356 nghìn tỷ đồng, thu ngoài lãi bứt tốc

Thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ, phản ánh đà tăng trưởng lợi nhuận rõ nét năm 2025.

Động lực chính các ngân hàng đến từ tăng trưởng thu nhập, khi tổng thu nhập hoạt động tăng 13,3% lên 650.887,6 tỷ đồng. Trong đó, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 10,8%, dù dư nợ cho vay khách hàng tăng mạnh 19,5%, vượt mốc 14 triệu tỷ đồng. Dù vẫn giữ vai trò trụ cột tại nhiều ngân hàng, thu nhập lãi thuần đã thu hẹp tỷ trọng trong tổng thu nhập, từ 78,6% năm 2024 xuống còn 76,8% năm 2025.

Điểm sáng đáng chú ý là thu nhập ngoài lãi bật tăng mạnh 22,5%, cho thấy nỗ lực đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ, bancassurance, kinh doanh chứng khoán, ngoại hối... của nhiều ngân hàng.

Ở chiều chi phí, chi phí hoạt động chỉ tăng 8,4%, thấp hơn mức tăng của thu nhập, qua đó, góp phần cải thiện hiệu quả kinh doanh toàn ngành.

Dù vậy, nhiều ngân hàng vẫn thận trọng gia cố “bộ đệm” an toàn khi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 9%, phần nào làm chậm đà tăng lợi nhuận. Đáng chú ý, 5 ngân hàng ghi nhận mức trích lập tăng từ 2 - 6 lần cùng kỳ, nổi bật như: Sacombank trích lập hơn 11.000 tỷ đồng, gấp 5,8 lần; Nam A Bank tăng 372,9% lên 2.463,3 tỷ đồng; NCB tăng 166,5% đạt 702,4 tỷ đồng. VietABank và ACB tăng hơn gấp đôi cùng kỳ, lên 1.168 tỷ đồng và 3.334,7 tỷ đồng.

Tú Anh

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80