Ngân hàng lãi lớn trên 356 nghìn tỷ đồng, nhưng “máy kéo” lãi thuần chậm nhịp

Tú Anh
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận năm 2025 của khối ngân hàng niêm yết ghi nhận gam màu sáng, với tổng lãi trước thuế bật tăng 18,8%, vượt 356 nghìn tỷ đồng. Dù vậy, “máy kéo” lãi thuần đang hụt hơi khi chỉ tăng 10,8% và co hẹp tỷ trọng, trong lúc thu ngoài lãi bứt tốc 22,5%. NIM thu hẹp buộc nhiều nhà băng phải xoay trục, tìm động lực tăng trưởng mới.
aa

Nhiều nhà băng lãi lớn vượt 30.000 tỷ đồng, nhưng lãi thuần giảm tốc

Tại Hội nghị gặp gỡ nhà đầu tư cập nhật kết quả kinh doanh năm 2025 và định hướng kinh doanh năm 2026 vừa diễn ra, bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính, Ngân hàng Quân đội (MB) cho biết, giai đoạn 2020 - 2025, tổng thu nhập hoạt động của MB tăng trưởng đều đặn, bình quân trên 20%/năm. Riêng năm 2025, tổng thu nhập hoạt động đạt khoảng 67.700 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 34.268 tỷ đồng, tăng khoảng 19% so với năm 2024. Đây cũng là năm đầu tiên MB ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 30.000 tỷ đồng.

"Về cơ cấu thu nhập hiện nay, thu ngoài lãi hai năm vừa qua duy trì xấp xỉ 24%, trong khi năm 2023, thu ngoài lãi của MB khoảng 19%. Với việc khai thác tối đa tệp khách hàng, thu ngoài lãi hai năm nay tương đối ổn, thời gian tới, sẽ phải tăng lên khoảng 28 - 30%" - Giám đốc Tài chính MB nêu rõ.

Ngân hàng lãi lớn trên 356 nghìn tỷ đồng, nhưng “máy kéo” lãi thuần chậm nhịp
Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ. Ảnh: Đức Thanh

Về thu nhập thuần ngoài lãi, tổng thu đạt 16.083 tỷ đồng, tăng khoảng 13%. Tuy nhiên, nếu bóc tách riêng khoản thu từ chứng khoán, phần thu từ các hoạt động ngoài lãi khác của MB ghi nhận mức tăng trưởng khoảng 42% so với năm 2024, cho thấy kết quả tích cực và khá ấn tượng, đặc biệt với các khoản thu từ thẻ, bảo hiểm, tư vấn trái phiếu...

Bên cạnh đó, năm 2025, thu nhập thuần từ lãi tăng 25%. Mức tăng này tương thích với đà mở rộng tín dụng của ngân hàng khi tín dụng hợp nhất tăng tới 37%. Dù vậy, thu thuần từ lãi tăng thấp hơn, do MB chủ động triển khai các biện pháp hỗ trợ nền kinh tế, bao gồm việc giảm lãi suất cho vay.

Cũng ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 30.000 tỷ đồng năm 2025, theo chia sẻ của bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc Cao cấp Quản trị Tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank, cả năm 2025, lợi nhuận trước thuế ngân hàng đạt 32,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với năm 2024; tổng thu nhập hoạt động tăng 13,6% trong bối cảnh áp lực NIM căng thẳng.

Do đó, dù tăng trưởng tín dụng Techcombank đạt 18,4%, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 7,5% do NIM bị thu hẹp.

"Đây không chỉ là thử thách với Techcombank, mà với tất cả các ngân hàng ở trong hệ thống. Mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế cũng được đóng góp rất tích cực từ việc kiểm soát chi phí hoạt động, cũng như kiểm soát chi phí dự phòng rủi ro tín dụng" - bà Thủy nhận định.

Xoay trục sang thu ngoài lãi khi NIM khó bật tăng

Theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, trong bối cảnh NIM suy giảm và khó có thể phục hồi nhanh, việc các ngân hàng mở rộng mạnh sang các nguồn thu ngoài lãi là xu hướng tất yếu.

Về mặt chiến lược, đây rõ ràng cũng là bước đi giúp đa dạng hóa nguồn thu và phân tán rủi ro. Bởi khi phụ thuộc quá lớn vào chênh lệch lãi suất, ngân hàng sẽ rất dễ tổn thương trước các chu kỳ lãi suất và thanh khoản.

"Việc tham gia sâu hơn vào bảo hiểm, chứng khoán, quản lý quỹ hay các dịch vụ tài chính số giúp ngân hàng khai thác tốt hơn hệ sinh thái khách hàng sẵn có, tăng thu nhập phí và hoa hồng, từ đó, làm “mềm” biến động lợi nhuận khi tín dụng tăng chậm hoặc chi phí vốn tăng" - ông Huân ví von.

Mở rộng thu từ phí, giảm phụ thuộc lãi thuần

"Thực tế, bảng cân đối thường có những giới hạn nhất định trong việc mở rộng, từ đó, ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng thu nhập lãi thuần. Tuy nhiên, tăng trưởng thu từ phí gần như có thể tăng trưởng không có giới hạn. Do đó, tăng trưởng từ phí luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Techcombank".

Bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc Cao cấp Quản trị Tài chính Doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank.

Dự kiến động lực tăng trưởng lợi nhuận với Techcombank năm 2026, bà Bùi Thị Thu Thủy cho biết, trọng tâm trước hết đến từ việc mở rộng quy mô bảng cân đối. Theo đó, Techcombank được Ngân hàng Nhà nước giao hạn mức tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 12%.

"Chúng tôi vẫn kỳ vọng mức tăng trưởng tín dụng sẽ cũng không thấp hơn hoặc tiệm cận với mức của năm 2025, dựa trên kỳ vọng về tham vọng phát triển kinh tế rất là lớn của Chính phủ, với GDP tăng trưởng hai con số, cũng như năng lực về việc quản trị bảng cân đối, quản trị rủi ro ngân hàng rất tốt" - bà Thủy bày tỏ.

Dù vậy, Techcombank cũng sẽ chuẩn bị những phương án thận trọng hơn trong trường hợp bảng cân đối không thể tăng trưởng như kỳ vọng. Khi đó, ngân hàng sẽ thực hiện các khoản thu xếp hợp vốn, thay vì giữ khoản vay trên bảng cân đối, qua đó, tăng thu nhập từ phí, thay vì thu nhập từ lãi.

Cũng theo đại diện Techcombank, đầu năm, NIM có thể chịu ảnh hưởng từ chi phí vốn gia tăng, tuy nhiên, trong năm 2026, ngân hàng kỳ vọng NIM sẽ phục hồi và đạt khoảng 3,6 - 3,8% cuối năm, nhờ mở rộng bảng cân đối sang các sản phẩm có lợi suất cao hơn và tiếp tục hút tiền gửi không kỳ hạn, củng cố lợi thế chi phí huy động.

Cũng theo Chủ tịch Hội đồng quản trị MB Lưu Trung Thái, dự kiến năm nay, mục tiêu lợi nhuận MB khoảng 39,5 ngàn tỷ đồng; trong đó, các công ty thành viên sẽ đóng góp khoảng 12 - 13%.

MB tiếp tục đẩy mạnh hợp lực theo mô hình tập đoàn nhằm khai thác tối đa lợi thế hệ sinh thái và mở rộng nguồn thu ngoài lãi. Với hiện diện đầy đủ ở các mảng then chốt như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán… MB đặt mục tiêu nâng tầm các công ty thành viên thành lực lượng kinh doanh nòng cốt, đóng góp ngày càng lớn vào kết quả hợp nhất, qua đó gia tăng đồng thời doanh thu và lợi nhuận của toàn tập đoàn.

Bên cạnh đó, lãnh đạo MB cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có khả năng duy trì ổn định. Theo định hướng năm 2026, ngân hàng không đặt mục tiêu mở rộng NIM mà ưu tiên tăng trưởng quy mô để bù đắp.

Lợi nhuận "thăng hoa" hơn 356 nghìn tỷ đồng, thu ngoài lãi bứt tốc

Thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ, phản ánh đà tăng trưởng lợi nhuận rõ nét năm 2025.

Động lực chính các ngân hàng đến từ tăng trưởng thu nhập, khi tổng thu nhập hoạt động tăng 13,3% lên 650.887,6 tỷ đồng. Trong đó, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 10,8%, dù dư nợ cho vay khách hàng tăng mạnh 19,5%, vượt mốc 14 triệu tỷ đồng. Dù vẫn giữ vai trò trụ cột tại nhiều ngân hàng, thu nhập lãi thuần đã thu hẹp tỷ trọng trong tổng thu nhập, từ 78,6% năm 2024 xuống còn 76,8% năm 2025.

Điểm sáng đáng chú ý là thu nhập ngoài lãi bật tăng mạnh 22,5%, cho thấy nỗ lực đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ, bancassurance, kinh doanh chứng khoán, ngoại hối... của nhiều ngân hàng.

Ở chiều chi phí, chi phí hoạt động chỉ tăng 8,4%, thấp hơn mức tăng của thu nhập, qua đó, góp phần cải thiện hiệu quả kinh doanh toàn ngành.

Dù vậy, nhiều ngân hàng vẫn thận trọng gia cố “bộ đệm” an toàn khi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 9%, phần nào làm chậm đà tăng lợi nhuận. Đáng chú ý, 5 ngân hàng ghi nhận mức trích lập tăng từ 2 - 6 lần cùng kỳ, nổi bật như: Sacombank trích lập hơn 11.000 tỷ đồng, gấp 5,8 lần; Nam A Bank tăng 372,9% lên 2.463,3 tỷ đồng; NCB tăng 166,5% đạt 702,4 tỷ đồng. VietABank và ACB tăng hơn gấp đôi cùng kỳ, lên 1.168 tỷ đồng và 3.334,7 tỷ đồng.

Tú Anh

Đọc thêm

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 23:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 23:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80