Ngân hàng lãi lớn trên 356 nghìn tỷ đồng, nhưng “máy kéo” lãi thuần chậm nhịp

Tú Anh
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận năm 2025 của khối ngân hàng niêm yết ghi nhận gam màu sáng, với tổng lãi trước thuế bật tăng 18,8%, vượt 356 nghìn tỷ đồng. Dù vậy, “máy kéo” lãi thuần đang hụt hơi khi chỉ tăng 10,8% và co hẹp tỷ trọng, trong lúc thu ngoài lãi bứt tốc 22,5%. NIM thu hẹp buộc nhiều nhà băng phải xoay trục, tìm động lực tăng trưởng mới.
aa

Nhiều nhà băng lãi lớn vượt 30.000 tỷ đồng, nhưng lãi thuần giảm tốc

Tại Hội nghị gặp gỡ nhà đầu tư cập nhật kết quả kinh doanh năm 2025 và định hướng kinh doanh năm 2026 vừa diễn ra, bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính, Ngân hàng Quân đội (MB) cho biết, giai đoạn 2020 - 2025, tổng thu nhập hoạt động của MB tăng trưởng đều đặn, bình quân trên 20%/năm. Riêng năm 2025, tổng thu nhập hoạt động đạt khoảng 67.700 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 34.268 tỷ đồng, tăng khoảng 19% so với năm 2024. Đây cũng là năm đầu tiên MB ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 30.000 tỷ đồng.

"Về cơ cấu thu nhập hiện nay, thu ngoài lãi hai năm vừa qua duy trì xấp xỉ 24%, trong khi năm 2023, thu ngoài lãi của MB khoảng 19%. Với việc khai thác tối đa tệp khách hàng, thu ngoài lãi hai năm nay tương đối ổn, thời gian tới, sẽ phải tăng lên khoảng 28 - 30%" - Giám đốc Tài chính MB nêu rõ.

Ngân hàng lãi lớn trên 356 nghìn tỷ đồng, nhưng “máy kéo” lãi thuần chậm nhịp
Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ. Ảnh: Đức Thanh

Về thu nhập thuần ngoài lãi, tổng thu đạt 16.083 tỷ đồng, tăng khoảng 13%. Tuy nhiên, nếu bóc tách riêng khoản thu từ chứng khoán, phần thu từ các hoạt động ngoài lãi khác của MB ghi nhận mức tăng trưởng khoảng 42% so với năm 2024, cho thấy kết quả tích cực và khá ấn tượng, đặc biệt với các khoản thu từ thẻ, bảo hiểm, tư vấn trái phiếu...

Bên cạnh đó, năm 2025, thu nhập thuần từ lãi tăng 25%. Mức tăng này tương thích với đà mở rộng tín dụng của ngân hàng khi tín dụng hợp nhất tăng tới 37%. Dù vậy, thu thuần từ lãi tăng thấp hơn, do MB chủ động triển khai các biện pháp hỗ trợ nền kinh tế, bao gồm việc giảm lãi suất cho vay.

Cũng ghi nhận lợi nhuận vượt mốc 30.000 tỷ đồng năm 2025, theo chia sẻ của bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc Cao cấp Quản trị Tài chính doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank, cả năm 2025, lợi nhuận trước thuế ngân hàng đạt 32,5 nghìn tỷ đồng, tăng 18,2% so với năm 2024; tổng thu nhập hoạt động tăng 13,6% trong bối cảnh áp lực NIM căng thẳng.

Do đó, dù tăng trưởng tín dụng Techcombank đạt 18,4%, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 7,5% do NIM bị thu hẹp.

"Đây không chỉ là thử thách với Techcombank, mà với tất cả các ngân hàng ở trong hệ thống. Mức tăng trưởng lợi nhuận trước thuế cũng được đóng góp rất tích cực từ việc kiểm soát chi phí hoạt động, cũng như kiểm soát chi phí dự phòng rủi ro tín dụng" - bà Thủy nhận định.

Xoay trục sang thu ngoài lãi khi NIM khó bật tăng

Theo đánh giá của PGS.TS Nguyễn Hữu Huân - Giảng viên cao cấp Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, trong bối cảnh NIM suy giảm và khó có thể phục hồi nhanh, việc các ngân hàng mở rộng mạnh sang các nguồn thu ngoài lãi là xu hướng tất yếu.

Về mặt chiến lược, đây rõ ràng cũng là bước đi giúp đa dạng hóa nguồn thu và phân tán rủi ro. Bởi khi phụ thuộc quá lớn vào chênh lệch lãi suất, ngân hàng sẽ rất dễ tổn thương trước các chu kỳ lãi suất và thanh khoản.

"Việc tham gia sâu hơn vào bảo hiểm, chứng khoán, quản lý quỹ hay các dịch vụ tài chính số giúp ngân hàng khai thác tốt hơn hệ sinh thái khách hàng sẵn có, tăng thu nhập phí và hoa hồng, từ đó, làm “mềm” biến động lợi nhuận khi tín dụng tăng chậm hoặc chi phí vốn tăng" - ông Huân ví von.

Mở rộng thu từ phí, giảm phụ thuộc lãi thuần

"Thực tế, bảng cân đối thường có những giới hạn nhất định trong việc mở rộng, từ đó, ảnh hưởng đến khả năng tăng trưởng thu nhập lãi thuần. Tuy nhiên, tăng trưởng thu từ phí gần như có thể tăng trưởng không có giới hạn. Do đó, tăng trưởng từ phí luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Techcombank".

Bà Bùi Thị Thu Thủy - Giám đốc Cao cấp Quản trị Tài chính Doanh nghiệp, Khối Tài chính Kế hoạch Techcombank.

Dự kiến động lực tăng trưởng lợi nhuận với Techcombank năm 2026, bà Bùi Thị Thu Thủy cho biết, trọng tâm trước hết đến từ việc mở rộng quy mô bảng cân đối. Theo đó, Techcombank được Ngân hàng Nhà nước giao hạn mức tăng trưởng tín dụng năm 2026 là 12%.

"Chúng tôi vẫn kỳ vọng mức tăng trưởng tín dụng sẽ cũng không thấp hơn hoặc tiệm cận với mức của năm 2025, dựa trên kỳ vọng về tham vọng phát triển kinh tế rất là lớn của Chính phủ, với GDP tăng trưởng hai con số, cũng như năng lực về việc quản trị bảng cân đối, quản trị rủi ro ngân hàng rất tốt" - bà Thủy bày tỏ.

Dù vậy, Techcombank cũng sẽ chuẩn bị những phương án thận trọng hơn trong trường hợp bảng cân đối không thể tăng trưởng như kỳ vọng. Khi đó, ngân hàng sẽ thực hiện các khoản thu xếp hợp vốn, thay vì giữ khoản vay trên bảng cân đối, qua đó, tăng thu nhập từ phí, thay vì thu nhập từ lãi.

Cũng theo đại diện Techcombank, đầu năm, NIM có thể chịu ảnh hưởng từ chi phí vốn gia tăng, tuy nhiên, trong năm 2026, ngân hàng kỳ vọng NIM sẽ phục hồi và đạt khoảng 3,6 - 3,8% cuối năm, nhờ mở rộng bảng cân đối sang các sản phẩm có lợi suất cao hơn và tiếp tục hút tiền gửi không kỳ hạn, củng cố lợi thế chi phí huy động.

Cũng theo Chủ tịch Hội đồng quản trị MB Lưu Trung Thái, dự kiến năm nay, mục tiêu lợi nhuận MB khoảng 39,5 ngàn tỷ đồng; trong đó, các công ty thành viên sẽ đóng góp khoảng 12 - 13%.

MB tiếp tục đẩy mạnh hợp lực theo mô hình tập đoàn nhằm khai thác tối đa lợi thế hệ sinh thái và mở rộng nguồn thu ngoài lãi. Với hiện diện đầy đủ ở các mảng then chốt như ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán… MB đặt mục tiêu nâng tầm các công ty thành viên thành lực lượng kinh doanh nòng cốt, đóng góp ngày càng lớn vào kết quả hợp nhất, qua đó gia tăng đồng thời doanh thu và lợi nhuận của toàn tập đoàn.

Bên cạnh đó, lãnh đạo MB cho rằng, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay có khả năng duy trì ổn định. Theo định hướng năm 2026, ngân hàng không đặt mục tiêu mở rộng NIM mà ưu tiên tăng trưởng quy mô để bù đắp.

Lợi nhuận "thăng hoa" hơn 356 nghìn tỷ đồng, thu ngoài lãi bứt tốc

Thống kê từ báo cáo tài chính của 27 ngân hàng niêm yết cho thấy, tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ, phản ánh đà tăng trưởng lợi nhuận rõ nét năm 2025.

Động lực chính các ngân hàng đến từ tăng trưởng thu nhập, khi tổng thu nhập hoạt động tăng 13,3% lên 650.887,6 tỷ đồng. Trong đó, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 10,8%, dù dư nợ cho vay khách hàng tăng mạnh 19,5%, vượt mốc 14 triệu tỷ đồng. Dù vẫn giữ vai trò trụ cột tại nhiều ngân hàng, thu nhập lãi thuần đã thu hẹp tỷ trọng trong tổng thu nhập, từ 78,6% năm 2024 xuống còn 76,8% năm 2025.

Điểm sáng đáng chú ý là thu nhập ngoài lãi bật tăng mạnh 22,5%, cho thấy nỗ lực đa dạng hóa nguồn thu từ dịch vụ, bancassurance, kinh doanh chứng khoán, ngoại hối... của nhiều ngân hàng.

Ở chiều chi phí, chi phí hoạt động chỉ tăng 8,4%, thấp hơn mức tăng của thu nhập, qua đó, góp phần cải thiện hiệu quả kinh doanh toàn ngành.

Dù vậy, nhiều ngân hàng vẫn thận trọng gia cố “bộ đệm” an toàn khi chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng 9%, phần nào làm chậm đà tăng lợi nhuận. Đáng chú ý, 5 ngân hàng ghi nhận mức trích lập tăng từ 2 - 6 lần cùng kỳ, nổi bật như: Sacombank trích lập hơn 11.000 tỷ đồng, gấp 5,8 lần; Nam A Bank tăng 372,9% lên 2.463,3 tỷ đồng; NCB tăng 166,5% đạt 702,4 tỷ đồng. VietABank và ACB tăng hơn gấp đôi cùng kỳ, lên 1.168 tỷ đồng và 3.334,7 tỷ đồng.

Tú Anh

Đọc thêm

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

Lãi suất vay mua nhà ở xã hội lên 6,5%/năm, người trẻ vẫn được hưởng mức thấp hơn thị trường

(TBTCO) - Từ ngày 1/7 đến 31/12/2026, lãi suất cho vay đối với người dưới 35 tuổi mua nhà ở xã hội là 6,5%/năm trong 5 năm đầu, tăng 0,9 điểm phần trăm so với 6 tháng đầu năm, nhưng vẫn thấp hơn mặt bằng lãi suất vay thông thường. Chương trình được triển khai tại 9 ngân hàng thương mại nhằm hỗ trợ người trẻ tiếp cận nhà ở xã hội.
Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Kim TT/AVPL 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Nguyên Liệu 99.99 13,300 ▲150K 13,500 ▲150K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▲150K 13,450 ▲150K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▲150K 14,300 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▲150K 14,250 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▲150K 14,230 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Hà Nội - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đà Nẵng - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Miền Tây - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Tây Nguyên - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,500 ▲1700K 148,500 ▲1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲150K 14,850 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 ▲200K 14,800 ▲150K
NL 99.90 12,950 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▲50K
Trang sức 99.9 13,990 ▲150K 14,690 ▲150K
Trang sức 99.99 14,000 ▲150K 14,700 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲1311K 14,852 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲1311K 14,853 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,454 ▲15K 1,484 ▲15K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,454 ▲15K 1,485 ▲1338K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,434 ▲15K 1,469 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,446 ▲124750K 145,446 ▲131050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,836 ▲1125K 110,336 ▲1125K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,552 ▲1020K 100,052 ▲1020K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,268 ▲915K 89,768 ▲915K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,301 ▲874K 85,801 ▲874K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,913 ▲625K 61,413 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲1311K 1,485 ▲1338K
Cập nhật: 27/06/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17604 17877 18461
CAD 17995 18270 18886
CHF 31824 32205 32853
CNY 0 3827 3920
EUR 29303 29523 30607
GBP 33914 34304 35242
HKD 0 3222 3425
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14519 15104
SGD 19768 20050 20648
THB 703 766 821
USD (1,2) 26031 0 0
USD (5,10,20) 26072 0 0
USD (50,100) 26101 26115 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80