Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng tiếp tục khởi sắc khi 27 ngân hàng niêm yết đạt tổng lợi nhuận trước thuế hơn 356.281 tỷ đồng, tăng 18,8%, với 24 nhà băng ghi nhận tăng trưởng. Vietcombank giữ ngôi đầu với 44.020 tỷ đồng, còn VietinBank bứt phá 36,8%, áp sát vị trí số 1; nhiều nhà băng lợi nhuận tăng bứt phá, tạo nên cuộc đua lợi nhuận gay cấn toàn ngành.
aa
"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục

VietinBank bứt phá, nhiều nhà băng báo lãi vượt 30.000 tỷ đồng

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư cho thấy, hiện 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính năm 2025, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ. Trong số đó, có 24/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận, trong khi 3 ngân hàng có kết quả kinh doanh suy giảm, kéo theo thứ hạng trên bảng xếp hạng toàn ngành sụt giảm đáng kể.

Theo đó, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị trí số 1 về lợi nhuận trước thuế năm 2025 với 44.020 tỷ đồng, tăng 4,2% so với năm 2024, qua đó, duy trì ngôi đầu toàn ngành nhiều năm liên tiếp.

Đáng chú ý, VietinBank ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng 36,8%, đạt 43.446 tỷ đồng. Nhờ tốc độ tăng trưởng vượt trội, VietinBank đã vươn từ hạng 3 năm 2024 lên á quân năm 2025, qua đó, vượt BIDV và rút ngắn đáng kể khoảng cách với Vietcombank.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Theo đó, khoảng cách lợi nhuận giữa hai ngân hàng chỉ còn chưa đầy 600 tỷ đồng, từ mức trên 10.000 tỷ đồng cùng kỳ, cho thấy VietinBank đang bám sát Vietcombank, tạo nên cuộc đua lợi nhuận quyết liệt nhất trong nhóm ngân hàng quốc doanh.

Đằng sau đà tăng bứt phá của VietinBank, báo cáo tài chính của ngân hàng cho thấy, về hoạt động cốt lõi, thu nhập hoạt động của VietinBank tăng 6,6% (tăng 5.386 tỷ đồng) lên 87.294,8 tỷ đồng, đứng thứ 2 nhóm ngân hàng niêm yết (sau BIDV). Trong khi đó, tổng thu nhập hoạt động của Vietcombank chỉ đạt 72.357,6 tỷ đồng, tăng 5,5% (tăng 3.779 tỷ đồng) và xếp thứ 4.

Dù chi phí hoạt động VietinBank tăng mạnh hơn (tăng tới 17,8%, tương ứng 4.005 tỷ đồng), mức giảm dự phòng lớn đã bù đắp và tạo đột biến lợi nhuận. Theo đó, VietinBank giảm mạnh dự phòng từ 27.598 tỷ đồng xuống 17.298 tỷ đồng, tức giảm 37,3%, giúp lợi nhuận “giải phóng” thêm khoảng 10.301 tỷ đồng. Ngược lại, Vietcombank chỉ giảm dự phòng 3,9%, tương đương 130 tỷ đồng, mức trích lập dự phòng cũng chỉ hơn 3.300 tỷ đồng, thấp hơn VietinBank đáng kể.

Vietcombank và VietinBank cũng hai ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế "khủng" trên 40.000 tỷ đồng, tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt toàn hệ thống.

Nhóm ngân hàng có lợi nhuận trước thuế trên 30.000 - 40.000 tỷ đồng ghi nhận 4 cái tên gồm BIDV, MB, TechcombankVPBank, cho thấy mức độ cạnh tranh ngày càng quyết liệt và khoảng cách giữa các ngân hàng được thu hẹp rõ rệt. So với giai đoạn trước, khi chỉ có BIDV và VietinBank góp mặt trong nhóm này với lợi nhuận quanh 32.000 tỷ đồng, bức tranh lợi nhuận toàn ngành đã mở rộng đáng kể.

Trong đó, BIDV đạt 37.863 tỷ đồng, tăng 18,4%, nhưng do tăng chậm hơn VietinBank nên đã tụt xuống hạng 3.

MB ghi nhận 34.268 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 18,9% và giữ nguyên vị trí thứ 4; Techcombank đạt 32.538 tỷ đồng, tăng 18,2%, tiếp tục đứng hạng 5 và không có biến động thứ hạng.

VPBank đạt 30.625 tỷ đồng, tăng mạnh 53%, qua đó, tăng một bậc lên hạng 6. Đại diện VPBank cho biết, tổng thu nhập hoạt động (TOI) hợp nhất gần 75.000 tỷ đồng, tiếp tục dẫn đầu khối ngân hàng tư nhân. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất lên mức cao nhất lịch sử, hoàn thành 121% kế hoạch đã đề ra. Riêng quý IV/2025, lợi nhuận vượt 10.200 tỷ đồng, cao nhất trong 4 năm qua.

Nhiều ngân hàng tăng bứt phá, thoát lỗ, còn số ít "ngược dòng"

Xét về tốc độ tăng trưởng toàn ngành, nổi bật nhất là ABBank, với mức tăng trưởng lợi nhuận lên tới 345,5%, cao nhất trong nhóm được phân tích. Con số này cũng vượt 97% mục tiêu lãi trước thuế 1.800 tỷ đồng đề ra cho cả năm. Qua đó, giúp thứ hạng ABBank tăng mạnh từ 23 lên 18, cải thiện 5 bậc, mức tăng hạng lớn nhất trong nhóm.

Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng
Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng. Ảnh minh họa.
Xét về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành năm 2025, bức tranh phân hóa thể hiện rõ nét. ABBank dẫn đầu với mức tăng 345,5%, cải thiện 5 bậc thứ hạng; KienlongBank cũng tăng ba chữ số (108,9%). NCB đảo chiều thoát lỗ, ghi nhận lợi nhuận dương trở lại. Nhiều ngân hàng tăng trưởng trên 50% như: PGBank, VPBank, SaigonBank... Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng lợi nhuận đi lùi do gia tăng mạnh trích lập dự phòng, củng cố chất lượng tài sản.

NCB cũng ghi dấu ấn đáng kể trong năm 2025 khi lợi nhuận hợp nhất đảo chiều dương; trong đó, kết quả trước trích lập và thoái lãi dự thu đạt 947 tỷ đồng, vượt xa kế hoạch 59 tỷ đồng. Kết quả này mang ý nghĩa quan trọng khi ngân hàng chính thức thoát lỗ, đánh dấu bước tiến đáng kể trong quá trình tái cơ cấu.

NCB cũng chủ động trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng ở mức cao 702,4 tỷ đồng, tạo nền tảng an toàn hơn cho hoạt động kinh doanh.

KienlongBank cũng ghi nhận tăng trưởng 108,9%, lợi nhuận tăng lên 2.322,7 tỷ đồng, chính thức vượt mốc 2.000 tỷ đồng. Thứ hạng lợi nhuận tăng 2 bậc, từ 21 lên 19.

VPBank tiếp tục nằm trong nhóm tăng trưởng cao với mức 53%, nâng lợi nhuận trước thuế năm 2025 lên 30.624,9 tỷ đồng. Với quy mô tổng tài sản, lợi nhuận lớn, mức tăng này mang ý nghĩa đáng kể, giúp VPBank cải thiện thứ hạng từ 7 lên 6.

Ở chiều ngược lại, bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng cũng nhiều "gam xám" khi ghi nhận 3 ngân hàng lợi nhuận trước thuế đi lùi, gồm: ACB, Eximbank và Sacombank.

Theo đó, Sacombank sụt giảm mạnh 40%, đạt 7.628 tỷ đồng, khiến thứ hạng rơi 4 bậc, xuống hạng 13. Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự gia tăng đột biến của chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Cụ thể, chi phí dự phòng của ngân hàng tăng từ 1.974 tỷ đồng năm 2024 lên 11.384 tỷ đồng năm 2025, tương đương mức tăng tới 476,6%, “bào mòn” đáng kể kết quả kinh doanh.

Dù vậy, hoạt động cốt lõi của Sacombank vẫn ghi nhận tín hiệu tích cực khi tổng thu nhập hoạt động tăng 11,8%, đạt 32.056,7 tỷ đồng và lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng 29,4%, lên 19.011,8 tỷ đồng.

Theo đại diện ngân hàng Sacomban , điều này phản ánh quan điểm quản trị rủi ro thận trọng và chủ động của Sacombank nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trong bối cảnh rủi ro thị trường đang có xu hướng gia tăng và đảm bảo sự chủ động trong việc xử lý các tài sản tồn đọng./.

Lợi nhuận ngân hàng dự báo tiếp đà tăng tốc, vượt 20%

Tại báo cáo chiến lược đầu tư năm 2026, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap dự báo tăng trưởng lợi nhuận tổng hợp của nhóm ngân hàng trong danh mục theo dõi sẽ tăng tốc từ mức khoảng 14% năm 2025 lên trên 20% giai đoạn 2026 - 2027. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ hai yếu tố. Thứ nhất, tổng thu nhập lãi dự kiến tăng 21,4% nhờ tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức vững chắc và biên lãi ròng (NIM) ổn định. Thứ hai, tổng thu nhập ngoài lãi được dự báo tăng 9,6%, dẫn dắt bởi thu nhập từ thu hồi nợ cải thiện rõ rệt khi thị trường bất động sản tiếp tục phục hồi.

Chi phí hoạt động được kỳ vọng sẽ được kiểm soát tốt, chỉ tăng khoảng 14,6%, trong bối cảnh các ngân hàng tiếp tục tối ưu hóa cơ cấu chi phí thông qua đẩy mạnh số hóa và nâng cao hiệu quả vận hành. Ngược lại, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng được dự báo tăng 23%, phản ánh việc chi phí tín dụng tại BIDV và LPBank quay trở lại mức bình thường sau giai đoạn giảm bộ đệm bao phủ nợ xấu; đồng thời, các ngân hàng tập trung vào bán lẻ như HDBank và TPBank tiếp tục đẩy mạnh xử lý nợ xấu.

Nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng dự báo lạc quan lợi nhuận ngành ngân hàng tăng 21% năm 2026, cao hơn so với năm 2025 và cao hơn lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp niêm yết (17,4%). Mức tăng trưởng này đạt được nhờ 3 ngân hàng lớn (Vietcombank, VietinBank và BIDV) đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng và ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận 2 chữ số. Tín dụng dự báo tiếp tục tăng trưởng ở mức 20%, trong khi NIM xu hướng đi ngang./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm”

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 10,6% trong quý I/2026, tương ứng tăng hơn 28.000 tỷ đồng chỉ sau một quý. Một số ngân hàng nỗ lực duy trì nợ xấu ở mức thấp, trong khi nhiều nhà băng chủ động tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” và đẩy nhanh xử lý nợ tồn đọng.
Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Tỷ lệ LDR ngân hàng "big 4" áp sát ngưỡng 85%, đề xuất sửa đổi quy định về tiền gửi Kho bạc Nhà nước

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang đề xuất cho phép các ngân hàng tiếp tục được tính 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR). Động thái này được đưa ra trong bối cảnh mặt bằng lãi suất và thanh khoản ngân hàng chịu áp lực, trong khi tỷ lệ LDR tại "big 4" tiến sát ngưỡng tối đa 85%.
SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

SeABank ủng hộ 10 tỷ đồng hưởng ứng Tháng Nhân đạo năm 2026

(TBTCO) - Tại Lễ phát động Tháng Nhân đạo cấp quốc gia năm 2026 do Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tổ chức, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) đã trao ủng hộ số tiền 10 tỷ đồng, góp phần chung tay hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn và lan tỏa tinh thần nhân ái trong cộng đồng.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng vừa ký Quyết định số 825/QĐ-TTg ngày 11/5/2026 về việc bổ nhiệm kiêm giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội.
Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Kim TT/AVPL 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Nguyên Liệu 99.99 15,300 ▲60K 15,500 ▲60K
Nguyên Liệu 99.9 15,250 ▲60K 15,450 ▲60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲30K 16,450 ▲30K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲30K 16,400 ▲30K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲30K 16,380 ▲30K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,500 ▲300K 165,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Nghệ An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
Miếng SJC Thái Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,250 ▲30K 16,550 ▲30K
NL 99.90 15,100 ▲30K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,150 ▲30K
Trang sức 99.9 15,740 ▲30K 16,440 ▲30K
Trang sức 99.99 15,750 ▲30K 16,450 ▲30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,625 ▲3K 16,552 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,625 ▲3K 16,553 ▲30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,623 ▲6K 1,653 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,623 ▲6K 1,654 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,603 ▲5K 1,638 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,678 ▲495K 162,178 ▲495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,112 ▲375K 123,012 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,645 ▲340K 111,545 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 91,178 ▲305K 100,078 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,755 ▲292K 95,655 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,561 ▲208K 68,461 ▲208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,625 ▲3K 1,655 ▲3K
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18486 18762 19335
CAD 18676 18954 19571
CHF 33073 33459 34104
CNY 0 3838 3930
EUR 30303 30577 31602
GBP 34851 35244 36178
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15357 15942
SGD 20146 20429 20951
THB 728 791 844
USD (1,2) 26073 0 0
USD (5,10,20) 26114 0 0
USD (50,100) 26142 26162 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,379
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,480 30,504 31,794
JPY 162.98 163.27 172.21
GBP 35,090 35,185 36,203
AUD 18,690 18,758 19,363
CAD 18,917 18,978 19,568
CHF 33,416 33,520 34,319
SGD 20,302 20,365 21,059
CNY - 3,810 3,934
HKD 3,304 3,314 3,434
KRW 16.33 17.03 18.42
THB 776.63 786.22 837.23
NZD 15,340 15,482 15,856
SEK - 2,800 2,883
DKK - 4,080 4,201
NOK - 2,819 2,903
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,263.03 - 7,032.46
TWD 755.19 - 909.35
SAR - 6,915.92 7,245.03
KWD - 83,885 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,418 30,540 31,723
GBP 35,166 35,307 36,320
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,216 33,349 34,293
JPY 163.34 164 171.44
AUD 18,703 18,778 19,371
SGD 20,374 20,456 21,043
THB 794 797 832
CAD 18,887 18,963 19,538
NZD 15,439 15,975
KRW 17.03 18.70
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26211 26211 26379
AUD 18672 18772 19700
CAD 18860 18960 19974
CHF 33315 33345 34933
CNY 3817.2 3842.2 3977.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30480 30510 32236
GBP 35158 35208 36968
HKD 0 3355 0
JPY 163.59 164.09 174.6
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15469 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20302 20432 21164
THB 0 757.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16250000 16250000 16550000
SBJ 14000000 14000000 16550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,152 26,202 26,379
USD20 26,152 26,202 26,379
USD1 23,867 26,202 26,379
AUD 18,736 18,836 19,949
EUR 30,663 30,663 32,081
CAD 18,823 18,923 20,237
SGD 20,408 20,558 21,529
JPY 164.06 165.56 170.17
GBP 35,161 35,511 36,387
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 793 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80