Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng tiếp tục khởi sắc khi 27 ngân hàng niêm yết đạt tổng lợi nhuận trước thuế hơn 356.281 tỷ đồng, tăng 18,8%, với 24 nhà băng ghi nhận tăng trưởng. Vietcombank giữ ngôi đầu với 44.020 tỷ đồng, còn VietinBank bứt phá 36,8%, áp sát vị trí số 1; nhiều nhà băng lợi nhuận tăng bứt phá, tạo nên cuộc đua lợi nhuận gay cấn toàn ngành.
aa
"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục

VietinBank bứt phá, nhiều nhà băng báo lãi vượt 30.000 tỷ đồng

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư cho thấy, hiện 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính năm 2025, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ. Trong số đó, có 24/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận, trong khi 3 ngân hàng có kết quả kinh doanh suy giảm, kéo theo thứ hạng trên bảng xếp hạng toàn ngành sụt giảm đáng kể.

Theo đó, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị trí số 1 về lợi nhuận trước thuế năm 2025 với 44.020 tỷ đồng, tăng 4,2% so với năm 2024, qua đó, duy trì ngôi đầu toàn ngành nhiều năm liên tiếp.

Đáng chú ý, VietinBank ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng 36,8%, đạt 43.446 tỷ đồng. Nhờ tốc độ tăng trưởng vượt trội, VietinBank đã vươn từ hạng 3 năm 2024 lên á quân năm 2025, qua đó, vượt BIDV và rút ngắn đáng kể khoảng cách với Vietcombank.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Theo đó, khoảng cách lợi nhuận giữa hai ngân hàng chỉ còn chưa đầy 600 tỷ đồng, từ mức trên 10.000 tỷ đồng cùng kỳ, cho thấy VietinBank đang bám sát Vietcombank, tạo nên cuộc đua lợi nhuận quyết liệt nhất trong nhóm ngân hàng quốc doanh.

Đằng sau đà tăng bứt phá của VietinBank, báo cáo tài chính của ngân hàng cho thấy, về hoạt động cốt lõi, thu nhập hoạt động của VietinBank tăng 6,6% (tăng 5.386 tỷ đồng) lên 87.294,8 tỷ đồng, đứng thứ 2 nhóm ngân hàng niêm yết (sau BIDV). Trong khi đó, tổng thu nhập hoạt động của Vietcombank chỉ đạt 72.357,6 tỷ đồng, tăng 5,5% (tăng 3.779 tỷ đồng) và xếp thứ 4.

Dù chi phí hoạt động VietinBank tăng mạnh hơn (tăng tới 17,8%, tương ứng 4.005 tỷ đồng), mức giảm dự phòng lớn đã bù đắp và tạo đột biến lợi nhuận. Theo đó, VietinBank giảm mạnh dự phòng từ 27.598 tỷ đồng xuống 17.298 tỷ đồng, tức giảm 37,3%, giúp lợi nhuận “giải phóng” thêm khoảng 10.301 tỷ đồng. Ngược lại, Vietcombank chỉ giảm dự phòng 3,9%, tương đương 130 tỷ đồng, mức trích lập dự phòng cũng chỉ hơn 3.300 tỷ đồng, thấp hơn VietinBank đáng kể.

Vietcombank và VietinBank cũng hai ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế "khủng" trên 40.000 tỷ đồng, tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt toàn hệ thống.

Nhóm ngân hàng có lợi nhuận trước thuế trên 30.000 - 40.000 tỷ đồng ghi nhận 4 cái tên gồm BIDV, MB, TechcombankVPBank, cho thấy mức độ cạnh tranh ngày càng quyết liệt và khoảng cách giữa các ngân hàng được thu hẹp rõ rệt. So với giai đoạn trước, khi chỉ có BIDV và VietinBank góp mặt trong nhóm này với lợi nhuận quanh 32.000 tỷ đồng, bức tranh lợi nhuận toàn ngành đã mở rộng đáng kể.

Trong đó, BIDV đạt 37.863 tỷ đồng, tăng 18,4%, nhưng do tăng chậm hơn VietinBank nên đã tụt xuống hạng 3.

MB ghi nhận 34.268 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 18,9% và giữ nguyên vị trí thứ 4; Techcombank đạt 32.538 tỷ đồng, tăng 18,2%, tiếp tục đứng hạng 5 và không có biến động thứ hạng.

VPBank đạt 30.625 tỷ đồng, tăng mạnh 53%, qua đó, tăng một bậc lên hạng 6. Đại diện VPBank cho biết, tổng thu nhập hoạt động (TOI) hợp nhất gần 75.000 tỷ đồng, tiếp tục dẫn đầu khối ngân hàng tư nhân. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất lên mức cao nhất lịch sử, hoàn thành 121% kế hoạch đã đề ra. Riêng quý IV/2025, lợi nhuận vượt 10.200 tỷ đồng, cao nhất trong 4 năm qua.

Nhiều ngân hàng tăng bứt phá, thoát lỗ, còn số ít "ngược dòng"

Xét về tốc độ tăng trưởng toàn ngành, nổi bật nhất là ABBank, với mức tăng trưởng lợi nhuận lên tới 345,5%, cao nhất trong nhóm được phân tích. Con số này cũng vượt 97% mục tiêu lãi trước thuế 1.800 tỷ đồng đề ra cho cả năm. Qua đó, giúp thứ hạng ABBank tăng mạnh từ 23 lên 18, cải thiện 5 bậc, mức tăng hạng lớn nhất trong nhóm.

Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng
Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng. Ảnh minh họa.
Xét về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành năm 2025, bức tranh phân hóa thể hiện rõ nét. ABBank dẫn đầu với mức tăng 345,5%, cải thiện 5 bậc thứ hạng; KienlongBank cũng tăng ba chữ số (108,9%). NCB đảo chiều thoát lỗ, ghi nhận lợi nhuận dương trở lại. Nhiều ngân hàng tăng trưởng trên 50% như: PGBank, VPBank, SaigonBank... Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng lợi nhuận đi lùi do gia tăng mạnh trích lập dự phòng, củng cố chất lượng tài sản.

NCB cũng ghi dấu ấn đáng kể trong năm 2025 khi lợi nhuận hợp nhất đảo chiều dương; trong đó, kết quả trước trích lập và thoái lãi dự thu đạt 947 tỷ đồng, vượt xa kế hoạch 59 tỷ đồng. Kết quả này mang ý nghĩa quan trọng khi ngân hàng chính thức thoát lỗ, đánh dấu bước tiến đáng kể trong quá trình tái cơ cấu.

NCB cũng chủ động trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng ở mức cao 702,4 tỷ đồng, tạo nền tảng an toàn hơn cho hoạt động kinh doanh.

KienlongBank cũng ghi nhận tăng trưởng 108,9%, lợi nhuận tăng lên 2.322,7 tỷ đồng, chính thức vượt mốc 2.000 tỷ đồng. Thứ hạng lợi nhuận tăng 2 bậc, từ 21 lên 19.

VPBank tiếp tục nằm trong nhóm tăng trưởng cao với mức 53%, nâng lợi nhuận trước thuế năm 2025 lên 30.624,9 tỷ đồng. Với quy mô tổng tài sản, lợi nhuận lớn, mức tăng này mang ý nghĩa đáng kể, giúp VPBank cải thiện thứ hạng từ 7 lên 6.

Ở chiều ngược lại, bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng cũng nhiều "gam xám" khi ghi nhận 3 ngân hàng lợi nhuận trước thuế đi lùi, gồm: ACB, Eximbank và Sacombank.

Theo đó, Sacombank sụt giảm mạnh 40%, đạt 7.628 tỷ đồng, khiến thứ hạng rơi 4 bậc, xuống hạng 13. Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự gia tăng đột biến của chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Cụ thể, chi phí dự phòng của ngân hàng tăng từ 1.974 tỷ đồng năm 2024 lên 11.384 tỷ đồng năm 2025, tương đương mức tăng tới 476,6%, “bào mòn” đáng kể kết quả kinh doanh.

Dù vậy, hoạt động cốt lõi của Sacombank vẫn ghi nhận tín hiệu tích cực khi tổng thu nhập hoạt động tăng 11,8%, đạt 32.056,7 tỷ đồng và lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng 29,4%, lên 19.011,8 tỷ đồng.

Theo đại diện ngân hàng Sacomban , điều này phản ánh quan điểm quản trị rủi ro thận trọng và chủ động của Sacombank nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trong bối cảnh rủi ro thị trường đang có xu hướng gia tăng và đảm bảo sự chủ động trong việc xử lý các tài sản tồn đọng./.

Lợi nhuận ngân hàng dự báo tiếp đà tăng tốc, vượt 20%

Tại báo cáo chiến lược đầu tư năm 2026, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap dự báo tăng trưởng lợi nhuận tổng hợp của nhóm ngân hàng trong danh mục theo dõi sẽ tăng tốc từ mức khoảng 14% năm 2025 lên trên 20% giai đoạn 2026 - 2027. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ hai yếu tố. Thứ nhất, tổng thu nhập lãi dự kiến tăng 21,4% nhờ tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức vững chắc và biên lãi ròng (NIM) ổn định. Thứ hai, tổng thu nhập ngoài lãi được dự báo tăng 9,6%, dẫn dắt bởi thu nhập từ thu hồi nợ cải thiện rõ rệt khi thị trường bất động sản tiếp tục phục hồi.

Chi phí hoạt động được kỳ vọng sẽ được kiểm soát tốt, chỉ tăng khoảng 14,6%, trong bối cảnh các ngân hàng tiếp tục tối ưu hóa cơ cấu chi phí thông qua đẩy mạnh số hóa và nâng cao hiệu quả vận hành. Ngược lại, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng được dự báo tăng 23%, phản ánh việc chi phí tín dụng tại BIDV và LPBank quay trở lại mức bình thường sau giai đoạn giảm bộ đệm bao phủ nợ xấu; đồng thời, các ngân hàng tập trung vào bán lẻ như HDBank và TPBank tiếp tục đẩy mạnh xử lý nợ xấu.

Nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng dự báo lạc quan lợi nhuận ngành ngân hàng tăng 21% năm 2026, cao hơn so với năm 2025 và cao hơn lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp niêm yết (17,4%). Mức tăng trưởng này đạt được nhờ 3 ngân hàng lớn (Vietcombank, VietinBank và BIDV) đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng và ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận 2 chữ số. Tín dụng dự báo tiếp tục tăng trưởng ở mức 20%, trong khi NIM xu hướng đi ngang./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17775 18049 18627
CAD 18529 18806 19419
CHF 32625 33009 33657
CNY 0 3470 3830
EUR 29848 30121 31149
GBP 34402 34794 35736
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20003 20285 20809
THB 719 782 836
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80