Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2025, bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng tiếp tục khởi sắc khi 27 ngân hàng niêm yết đạt tổng lợi nhuận trước thuế hơn 356.281 tỷ đồng, tăng 18,8%, với 24 nhà băng ghi nhận tăng trưởng. Vietcombank giữ ngôi đầu với 44.020 tỷ đồng, còn VietinBank bứt phá 36,8%, áp sát vị trí số 1; nhiều nhà băng lợi nhuận tăng bứt phá, tạo nên cuộc đua lợi nhuận gay cấn toàn ngành.
aa
"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục

VietinBank bứt phá, nhiều nhà băng báo lãi vượt 30.000 tỷ đồng

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư cho thấy, hiện 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính năm 2025, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ. Trong số đó, có 24/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận, trong khi 3 ngân hàng có kết quả kinh doanh suy giảm, kéo theo thứ hạng trên bảng xếp hạng toàn ngành sụt giảm đáng kể.

Theo đó, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị trí số 1 về lợi nhuận trước thuế năm 2025 với 44.020 tỷ đồng, tăng 4,2% so với năm 2024, qua đó, duy trì ngôi đầu toàn ngành nhiều năm liên tiếp.

Đáng chú ý, VietinBank ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng 36,8%, đạt 43.446 tỷ đồng. Nhờ tốc độ tăng trưởng vượt trội, VietinBank đã vươn từ hạng 3 năm 2024 lên á quân năm 2025, qua đó, vượt BIDV và rút ngắn đáng kể khoảng cách với Vietcombank.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Theo đó, khoảng cách lợi nhuận giữa hai ngân hàng chỉ còn chưa đầy 600 tỷ đồng, từ mức trên 10.000 tỷ đồng cùng kỳ, cho thấy VietinBank đang bám sát Vietcombank, tạo nên cuộc đua lợi nhuận quyết liệt nhất trong nhóm ngân hàng quốc doanh.

Đằng sau đà tăng bứt phá của VietinBank, báo cáo tài chính của ngân hàng cho thấy, về hoạt động cốt lõi, thu nhập hoạt động của VietinBank tăng 6,6% (tăng 5.386 tỷ đồng) lên 87.294,8 tỷ đồng, đứng thứ 2 nhóm ngân hàng niêm yết (sau BIDV). Trong khi đó, tổng thu nhập hoạt động của Vietcombank chỉ đạt 72.357,6 tỷ đồng, tăng 5,5% (tăng 3.779 tỷ đồng) và xếp thứ 4.

Dù chi phí hoạt động VietinBank tăng mạnh hơn (tăng tới 17,8%, tương ứng 4.005 tỷ đồng), mức giảm dự phòng lớn đã bù đắp và tạo đột biến lợi nhuận. Theo đó, VietinBank giảm mạnh dự phòng từ 27.598 tỷ đồng xuống 17.298 tỷ đồng, tức giảm 37,3%, giúp lợi nhuận “giải phóng” thêm khoảng 10.301 tỷ đồng. Ngược lại, Vietcombank chỉ giảm dự phòng 3,9%, tương đương 130 tỷ đồng, mức trích lập dự phòng cũng chỉ hơn 3.300 tỷ đồng, thấp hơn VietinBank đáng kể.

Vietcombank và VietinBank cũng hai ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế "khủng" trên 40.000 tỷ đồng, tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt toàn hệ thống.

Nhóm ngân hàng có lợi nhuận trước thuế trên 30.000 - 40.000 tỷ đồng ghi nhận 4 cái tên gồm BIDV, MB, TechcombankVPBank, cho thấy mức độ cạnh tranh ngày càng quyết liệt và khoảng cách giữa các ngân hàng được thu hẹp rõ rệt. So với giai đoạn trước, khi chỉ có BIDV và VietinBank góp mặt trong nhóm này với lợi nhuận quanh 32.000 tỷ đồng, bức tranh lợi nhuận toàn ngành đã mở rộng đáng kể.

Trong đó, BIDV đạt 37.863 tỷ đồng, tăng 18,4%, nhưng do tăng chậm hơn VietinBank nên đã tụt xuống hạng 3.

MB ghi nhận 34.268 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 18,9% và giữ nguyên vị trí thứ 4; Techcombank đạt 32.538 tỷ đồng, tăng 18,2%, tiếp tục đứng hạng 5 và không có biến động thứ hạng.

VPBank đạt 30.625 tỷ đồng, tăng mạnh 53%, qua đó, tăng một bậc lên hạng 6. Đại diện VPBank cho biết, tổng thu nhập hoạt động (TOI) hợp nhất gần 75.000 tỷ đồng, tiếp tục dẫn đầu khối ngân hàng tư nhân. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất lên mức cao nhất lịch sử, hoàn thành 121% kế hoạch đã đề ra. Riêng quý IV/2025, lợi nhuận vượt 10.200 tỷ đồng, cao nhất trong 4 năm qua.

Nhiều ngân hàng tăng bứt phá, thoát lỗ, còn số ít "ngược dòng"

Xét về tốc độ tăng trưởng toàn ngành, nổi bật nhất là ABBank, với mức tăng trưởng lợi nhuận lên tới 345,5%, cao nhất trong nhóm được phân tích. Con số này cũng vượt 97% mục tiêu lãi trước thuế 1.800 tỷ đồng đề ra cho cả năm. Qua đó, giúp thứ hạng ABBank tăng mạnh từ 23 lên 18, cải thiện 5 bậc, mức tăng hạng lớn nhất trong nhóm.

Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng
Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng. Ảnh minh họa.
Xét về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành năm 2025, bức tranh phân hóa thể hiện rõ nét. ABBank dẫn đầu với mức tăng 345,5%, cải thiện 5 bậc thứ hạng; KienlongBank cũng tăng ba chữ số (108,9%). NCB đảo chiều thoát lỗ, ghi nhận lợi nhuận dương trở lại. Nhiều ngân hàng tăng trưởng trên 50% như: PGBank, VPBank, SaigonBank... Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng lợi nhuận đi lùi do gia tăng mạnh trích lập dự phòng, củng cố chất lượng tài sản.

NCB cũng ghi dấu ấn đáng kể trong năm 2025 khi lợi nhuận hợp nhất đảo chiều dương; trong đó, kết quả trước trích lập và thoái lãi dự thu đạt 947 tỷ đồng, vượt xa kế hoạch 59 tỷ đồng. Kết quả này mang ý nghĩa quan trọng khi ngân hàng chính thức thoát lỗ, đánh dấu bước tiến đáng kể trong quá trình tái cơ cấu.

NCB cũng chủ động trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng ở mức cao 702,4 tỷ đồng, tạo nền tảng an toàn hơn cho hoạt động kinh doanh.

KienlongBank cũng ghi nhận tăng trưởng 108,9%, lợi nhuận tăng lên 2.322,7 tỷ đồng, chính thức vượt mốc 2.000 tỷ đồng. Thứ hạng lợi nhuận tăng 2 bậc, từ 21 lên 19.

VPBank tiếp tục nằm trong nhóm tăng trưởng cao với mức 53%, nâng lợi nhuận trước thuế năm 2025 lên 30.624,9 tỷ đồng. Với quy mô tổng tài sản, lợi nhuận lớn, mức tăng này mang ý nghĩa đáng kể, giúp VPBank cải thiện thứ hạng từ 7 lên 6.

Ở chiều ngược lại, bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng cũng nhiều "gam xám" khi ghi nhận 3 ngân hàng lợi nhuận trước thuế đi lùi, gồm: ACB, Eximbank và Sacombank.

Theo đó, Sacombank sụt giảm mạnh 40%, đạt 7.628 tỷ đồng, khiến thứ hạng rơi 4 bậc, xuống hạng 13. Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự gia tăng đột biến của chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Cụ thể, chi phí dự phòng của ngân hàng tăng từ 1.974 tỷ đồng năm 2024 lên 11.384 tỷ đồng năm 2025, tương đương mức tăng tới 476,6%, “bào mòn” đáng kể kết quả kinh doanh.

Dù vậy, hoạt động cốt lõi của Sacombank vẫn ghi nhận tín hiệu tích cực khi tổng thu nhập hoạt động tăng 11,8%, đạt 32.056,7 tỷ đồng và lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng 29,4%, lên 19.011,8 tỷ đồng.

Theo đại diện ngân hàng Sacomban , điều này phản ánh quan điểm quản trị rủi ro thận trọng và chủ động của Sacombank nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trong bối cảnh rủi ro thị trường đang có xu hướng gia tăng và đảm bảo sự chủ động trong việc xử lý các tài sản tồn đọng./.

Lợi nhuận ngân hàng dự báo tiếp đà tăng tốc, vượt 20%

Tại báo cáo chiến lược đầu tư năm 2026, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap dự báo tăng trưởng lợi nhuận tổng hợp của nhóm ngân hàng trong danh mục theo dõi sẽ tăng tốc từ mức khoảng 14% năm 2025 lên trên 20% giai đoạn 2026 - 2027. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ hai yếu tố. Thứ nhất, tổng thu nhập lãi dự kiến tăng 21,4% nhờ tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức vững chắc và biên lãi ròng (NIM) ổn định. Thứ hai, tổng thu nhập ngoài lãi được dự báo tăng 9,6%, dẫn dắt bởi thu nhập từ thu hồi nợ cải thiện rõ rệt khi thị trường bất động sản tiếp tục phục hồi.

Chi phí hoạt động được kỳ vọng sẽ được kiểm soát tốt, chỉ tăng khoảng 14,6%, trong bối cảnh các ngân hàng tiếp tục tối ưu hóa cơ cấu chi phí thông qua đẩy mạnh số hóa và nâng cao hiệu quả vận hành. Ngược lại, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng được dự báo tăng 23%, phản ánh việc chi phí tín dụng tại BIDV và LPBank quay trở lại mức bình thường sau giai đoạn giảm bộ đệm bao phủ nợ xấu; đồng thời, các ngân hàng tập trung vào bán lẻ như HDBank và TPBank tiếp tục đẩy mạnh xử lý nợ xấu.

Nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng dự báo lạc quan lợi nhuận ngành ngân hàng tăng 21% năm 2026, cao hơn so với năm 2025 và cao hơn lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp niêm yết (17,4%). Mức tăng trưởng này đạt được nhờ 3 ngân hàng lớn (Vietcombank, VietinBank và BIDV) đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng và ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận 2 chữ số. Tín dụng dự báo tiếp tục tăng trưởng ở mức 20%, trong khi NIM xu hướng đi ngang./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 14,470
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 14,470
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 14,380
Trang sức 99.99 13,790 14,390
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 14/08/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17860 18134 18710
CAD 18171 18447 19066
CHF 31457 31836 32492
CNY 0 3830 3940
EUR 29446 29667 30750
GBP 34362 34754 35702
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14926 15511
SGD 19829 20111 20691
THB 702 766 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Cập nhật: 14/08/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80