Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng

(TBTCO) - Năm 2025, bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng tiếp tục khởi sắc khi 27 ngân hàng niêm yết đạt tổng lợi nhuận trước thuế hơn 356.281 tỷ đồng, tăng 18,8%, với 24 nhà băng ghi nhận tăng trưởng. Vietcombank giữ ngôi đầu với 44.020 tỷ đồng, còn VietinBank bứt phá 36,8%, áp sát vị trí số 1; nhiều nhà băng lợi nhuận tăng bứt phá, tạo nên cuộc đua lợi nhuận gay cấn toàn ngành.
aa
"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục

VietinBank bứt phá, nhiều nhà băng báo lãi vượt 30.000 tỷ đồng

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư cho thấy, hiện 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính năm 2025, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 356.281,8 tỷ đồng, tăng 18,8% so với cùng kỳ. Trong số đó, có 24/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận, trong khi 3 ngân hàng có kết quả kinh doanh suy giảm, kéo theo thứ hạng trên bảng xếp hạng toàn ngành sụt giảm đáng kể.

Theo đó, Vietcombank tiếp tục giữ vững vị trí số 1 về lợi nhuận trước thuế năm 2025 với 44.020 tỷ đồng, tăng 4,2% so với năm 2024, qua đó, duy trì ngôi đầu toàn ngành nhiều năm liên tiếp.

Đáng chú ý, VietinBank ghi nhận mức tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng 36,8%, đạt 43.446 tỷ đồng. Nhờ tốc độ tăng trưởng vượt trội, VietinBank đã vươn từ hạng 3 năm 2024 lên á quân năm 2025, qua đó, vượt BIDV và rút ngắn đáng kể khoảng cách với Vietcombank.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Theo đó, khoảng cách lợi nhuận giữa hai ngân hàng chỉ còn chưa đầy 600 tỷ đồng, từ mức trên 10.000 tỷ đồng cùng kỳ, cho thấy VietinBank đang bám sát Vietcombank, tạo nên cuộc đua lợi nhuận quyết liệt nhất trong nhóm ngân hàng quốc doanh.

Đằng sau đà tăng bứt phá của VietinBank, báo cáo tài chính của ngân hàng cho thấy, về hoạt động cốt lõi, thu nhập hoạt động của VietinBank tăng 6,6% (tăng 5.386 tỷ đồng) lên 87.294,8 tỷ đồng, đứng thứ 2 nhóm ngân hàng niêm yết (sau BIDV). Trong khi đó, tổng thu nhập hoạt động của Vietcombank chỉ đạt 72.357,6 tỷ đồng, tăng 5,5% (tăng 3.779 tỷ đồng) và xếp thứ 4.

Dù chi phí hoạt động VietinBank tăng mạnh hơn (tăng tới 17,8%, tương ứng 4.005 tỷ đồng), mức giảm dự phòng lớn đã bù đắp và tạo đột biến lợi nhuận. Theo đó, VietinBank giảm mạnh dự phòng từ 27.598 tỷ đồng xuống 17.298 tỷ đồng, tức giảm 37,3%, giúp lợi nhuận “giải phóng” thêm khoảng 10.301 tỷ đồng. Ngược lại, Vietcombank chỉ giảm dự phòng 3,9%, tương đương 130 tỷ đồng, mức trích lập dự phòng cũng chỉ hơn 3.300 tỷ đồng, thấp hơn VietinBank đáng kể.

Vietcombank và VietinBank cũng hai ngân hàng ghi nhận lợi nhuận trước thuế "khủng" trên 40.000 tỷ đồng, tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt toàn hệ thống.

Nhóm ngân hàng có lợi nhuận trước thuế trên 30.000 - 40.000 tỷ đồng ghi nhận 4 cái tên gồm BIDV, MB, Techcombank và VPBank, cho thấy mức độ cạnh tranh ngày càng quyết liệt và khoảng cách giữa các ngân hàng được thu hẹp rõ rệt. So với giai đoạn trước, khi chỉ có BIDV và VietinBank góp mặt trong nhóm này với lợi nhuận quanh 32.000 tỷ đồng, bức tranh lợi nhuận toàn ngành đã mở rộng đáng kể.

Trong đó, BIDV đạt 37.863 tỷ đồng, tăng 18,4%, nhưng do tăng chậm hơn VietinBank nên đã tụt xuống hạng 3.

MB ghi nhận 34.268 tỷ đồng lợi nhuận, tăng 18,9% và giữ nguyên vị trí thứ 4; Techcombank đạt 32.538 tỷ đồng, tăng 18,2%, tiếp tục đứng hạng 5 và không có biến động thứ hạng.

VPBank đạt 30.625 tỷ đồng, tăng mạnh 53%, qua đó, tăng một bậc lên hạng 6. Đại diện VPBank cho biết, tổng thu nhập hoạt động (TOI) hợp nhất gần 75.000 tỷ đồng, tiếp tục dẫn đầu khối ngân hàng tư nhân. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất lên mức cao nhất lịch sử, hoàn thành 121% kế hoạch đã đề ra. Riêng quý IV/2025, lợi nhuận vượt 10.200 tỷ đồng, cao nhất trong 4 năm qua.

Nhiều ngân hàng tăng bứt phá, thoát lỗ, còn số ít "ngược dòng"

Xét về tốc độ tăng trưởng toàn ngành, nổi bật nhất là ABBank, với mức tăng trưởng lợi nhuận lên tới 345,5%, cao nhất trong nhóm được phân tích. Con số này cũng vượt 97% mục tiêu lãi trước thuế 1.800 tỷ đồng đề ra cho cả năm. Qua đó, giúp thứ hạng ABBank tăng mạnh từ 23 lên 18, cải thiện 5 bậc, mức tăng hạng lớn nhất trong nhóm.

Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng
Ngân hàng báo lãi vượt 350.000 tỷ đồng năm 2025, kịch tính cuộc đua thứ hạng. Ảnh minh họa.
Xét về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận toàn ngành năm 2025, bức tranh phân hóa thể hiện rõ nét. ABBank dẫn đầu với mức tăng 345,5%, cải thiện 5 bậc thứ hạng; KienlongBank cũng tăng ba chữ số (108,9%). NCB đảo chiều thoát lỗ, ghi nhận lợi nhuận dương trở lại. Nhiều ngân hàng tăng trưởng trên 50% như: PGBank, VPBank, SaigonBank... Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng lợi nhuận đi lùi do gia tăng mạnh trích lập dự phòng, củng cố chất lượng tài sản.

NCB cũng ghi dấu ấn đáng kể trong năm 2025 khi lợi nhuận hợp nhất đảo chiều dương; trong đó, kết quả trước trích lập và thoái lãi dự thu đạt 947 tỷ đồng, vượt xa kế hoạch 59 tỷ đồng. Kết quả này mang ý nghĩa quan trọng khi ngân hàng chính thức thoát lỗ, đánh dấu bước tiến đáng kể trong quá trình tái cơ cấu.

NCB cũng chủ động trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng ở mức cao 702,4 tỷ đồng, tạo nền tảng an toàn hơn cho hoạt động kinh doanh.

KienlongBank cũng ghi nhận tăng trưởng 108,9%, lợi nhuận tăng lên 2.322,7 tỷ đồng, chính thức vượt mốc 2.000 tỷ đồng. Thứ hạng lợi nhuận tăng 2 bậc, từ 21 lên 19.

VPBank tiếp tục nằm trong nhóm tăng trưởng cao với mức 53%, nâng lợi nhuận trước thuế năm 2025 lên 30.624,9 tỷ đồng. Với quy mô tổng tài sản, lợi nhuận lớn, mức tăng này mang ý nghĩa đáng kể, giúp VPBank cải thiện thứ hạng từ 7 lên 6.

Ở chiều ngược lại, bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng cũng nhiều "gam xám" khi ghi nhận 3 ngân hàng lợi nhuận trước thuế đi lùi, gồm: ACB, Eximbank và Sacombank.

Theo đó, Sacombank sụt giảm mạnh 40%, đạt 7.628 tỷ đồng, khiến thứ hạng rơi 4 bậc, xuống hạng 13. Nguyên nhân chủ yếu đến từ sự gia tăng đột biến của chi phí dự phòng rủi ro tín dụng. Cụ thể, chi phí dự phòng của ngân hàng tăng từ 1.974 tỷ đồng năm 2024 lên 11.384 tỷ đồng năm 2025, tương đương mức tăng tới 476,6%, “bào mòn” đáng kể kết quả kinh doanh.

Dù vậy, hoạt động cốt lõi của Sacombank vẫn ghi nhận tín hiệu tích cực khi tổng thu nhập hoạt động tăng 11,8%, đạt 32.056,7 tỷ đồng và lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh tăng 29,4%, lên 19.011,8 tỷ đồng.

Theo đại diện ngân hàng Sacomban , điều này phản ánh quan điểm quản trị rủi ro thận trọng và chủ động của Sacombank nhằm nâng cao khả năng phòng thủ trong bối cảnh rủi ro thị trường đang có xu hướng gia tăng và đảm bảo sự chủ động trong việc xử lý các tài sản tồn đọng./.

Lợi nhuận ngân hàng dự báo tiếp đà tăng tốc, vượt 20%

Tại báo cáo chiến lược đầu tư năm 2026, nhóm phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Vietcap dự báo tăng trưởng lợi nhuận tổng hợp của nhóm ngân hàng trong danh mục theo dõi sẽ tăng tốc từ mức khoảng 14% năm 2025 lên trên 20% giai đoạn 2026 - 2027. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ hai yếu tố. Thứ nhất, tổng thu nhập lãi dự kiến tăng 21,4% nhờ tăng trưởng tín dụng duy trì ở mức vững chắc và biên lãi ròng (NIM) ổn định. Thứ hai, tổng thu nhập ngoài lãi được dự báo tăng 9,6%, dẫn dắt bởi thu nhập từ thu hồi nợ cải thiện rõ rệt khi thị trường bất động sản tiếp tục phục hồi.

Chi phí hoạt động được kỳ vọng sẽ được kiểm soát tốt, chỉ tăng khoảng 14,6%, trong bối cảnh các ngân hàng tiếp tục tối ưu hóa cơ cấu chi phí thông qua đẩy mạnh số hóa và nâng cao hiệu quả vận hành. Ngược lại, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng được dự báo tăng 23%, phản ánh việc chi phí tín dụng tại BIDV và LPBank quay trở lại mức bình thường sau giai đoạn giảm bộ đệm bao phủ nợ xấu; đồng thời, các ngân hàng tập trung vào bán lẻ như HDBank và TPBank tiếp tục đẩy mạnh xử lý nợ xấu.

Nhóm phân tích từ Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cũng dự báo lạc quan lợi nhuận ngành ngân hàng tăng 21% năm 2026, cao hơn so với năm 2025 và cao hơn lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp niêm yết (17,4%). Mức tăng trưởng này đạt được nhờ 3 ngân hàng lớn (Vietcombank, VietinBank và BIDV) đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng và ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận 2 chữ số. Tín dụng dự báo tiếp tục tăng trưởng ở mức 20%, trong khi NIM xu hướng đi ngang./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

FWD Việt Nam và BVBank hợp tác mở rộng kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 1/10/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ FWD Việt Nam và Ngân hàng TMCP Bản Việt (BVBank) ký kết thỏa thuận hợp tác phân phối sản phẩm bảo hiểm nhân thọ qua kênh ngân hàng (bancassurance) trên toàn hệ thống BVBank.
Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

Prudential Việt Nam mở rộng Cha-Ching sang nền tảng trực tuyến, mang giáo dục tài chính đến gần hơn với trẻ em

(TBTCO) - Prudential Việt Nam tiếp tục mở rộng chương trình giáo dục tài chính Cha-Ching với phiên bản trực tuyến hoàn toàn miễn phí, nhằm nâng cao khả năng tiếp cận kiến thức quản lý tài chính dành cho trẻ em từ 7 - 12 tuổi. Đà Nẵng là thành phố đầu tiên được Prudential Việt Nam triển khai nền tảng trực tuyến này trong đợt mở rộng năm 2026, kết hợp với các hoạt động trực tiếp tại ba trường tiểu học trên địa bàn.
Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Hà Nội - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Miền Tây - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 ▼20K 14,320 ▼20K
Trang sức 99.99 13,730 ▼20K 14,330 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 ▼2K 14,412 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 ▼2K 14,413 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 ▼2K 1,436 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 ▼2K 1,437 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▼2K 1,426 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▼198K 141,188 ▼198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▼150K 107,111 ▼150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▼136K 97,128 ▼136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▼122K 87,145 ▼122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▼117K 83,294 ▼117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44922K 5,962 ▼53742K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cập nhật: 02/10/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17484 17756 18340
CAD 17714 17988 18608
CHF 30717 31093 31735
CNY 0 3833 3929
EUR 28560 28778 29861
GBP 33510 33898 34838
HKD 0 3180 3383
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14256 14846
SGD 19760 20042 20612
THB 689 752 806
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26170
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25796 25796 26168
AUD 17679 17779 18707
CAD 17900 18000 19011
CHF 30972 31002 32579
CNY 3815.2 3840.2 3975.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28780 28810 30532
GBP 33814 33864 35633
HKD 0 3315 0
JPY 161.37 161.87 172.41
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14381 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19930 20060 20781
THB 0 718.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,170
USD20 25,667 25,817 26,170
USD1 25,647 25,817 26,170
AUD 17,730 17,830 18,937
EUR 28,611 28,711 30,370
CAD 17,874 17,974 19,280
SGD 19,879 19,879 20,719
JPY 161.69 163.19 168.75
GBP 33,742 33,892 35,260
XAU 14,108,000 0 14,412,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/10/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30