Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng 9 tháng 2025 khép lại với gam màu sáng khi 27 ngân hàng niêm yết lãi trước thuế gần 259.000 tỷ đồng, tăng 18,7% cùng kỳ; trong đó, có tới 25 ngân hàng tăng trưởng dương. Dù NIM thu hẹp, nhiều nhà băng vẫn bứt phá nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh, giảm dự phòng rủi ro và kiểm soát tốt chi phí hoạt động.
aa
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Bức tranh đối lập giữa tăng trưởng tín dụng và NIM ngành ngân hàng

Bức tranh lợi nhuận toàn ngành ngân hàng 9 tháng 2025 trở nên rõ nét sau khi 27 ngân hàng công bố báo cáo tài chính, ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế 258.997,9 tỷ đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước. Đà tăng mang tính lan tỏa khi 25/27 ngân hàng ghi nhận kết quả tích cực so với năm trước.

Nhiều ngân hàng soán ngôi ngoạn mục

Khảo sát của phóng viên cho thấy, ngay trong top 5 ngân hàng niêm yết lãi lớn nhất đã chứng kiến sự thay đổi thứ hạng ngoạn mục. Theo đó, Vietcombank tiếp tục vững ngôi đầu với 33.133 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 5,1% so với cùng kỳ. VietinBank là điểm sáng nổi bật khi vươn lên vị trí thứ 2 (tăng 3 bậc) với 29.534 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 51,3%. BIDV nằm trong top ba với 23.632 tỷ đồng và giữ nguyên thứ hạng so với cùng kỳ.

Tiếp đó, Techcombank ở vị trí thứ 4 với 23.384 tỷ đồng, song giảm 2 bậc so với vị trí á quân cùng kỳ 9 tháng 2024; MB đứng thứ 5 khi lãi 23.139 tỷ đồng, giảm 1 bậc.

Lợi nhuận ngành ngân hàng 9 tháng 2025 ghi nhận đà tăng trên diện rộng, với 25/27 ngân hàng báo lãi cao hơn cùng kỳ. VietinBank vươn lên vị trí á quân nhờ tăng trưởng ấn tượng trên 50%, trong khi Vietcombank vẫn vững ngôi đầu và nhóm ngân hàng tư nhân lớn tiếp tục khẳng định sức bật mạnh mẽ.

Bên cạnh top 5 ngân hàng có lợi nhuận trên 20.000 tỷ đồng trong 9 tháng 2025, VPBank cũng mới gia nhập nhóm các nhà băng đạt lợi nhuận trên 20.000 tỷ đồng, với lợi nhuận trước thuế 6 đạt 20.397 tỷ đồng.

Phía sau, ACB, HDBank, SHB và Sacombank đều ghi nhận lợi nhuận vượt 10.000 tỷ đồng, tiếp tục duy trì vị thế trong nhóm cao của ngành.

Xét về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận 9 tháng 2025, có 25/27 ngân hàng tăng, chỉ 2 nhà băng giảm. Theo đó, với nhóm tăng bằng lần so với cùng kỳ, dẫn đầu là NCB khi đảo chiều mạnh sang lãi hơn 650 tỷ đồng; ABBank tăng gấp gần 12 lần, lên 2.088,6 tỷ đồng.

Tiếp đến, BVBank tăng 140,6% cùng kỳ; PGBank bứt tốc 65,8%, VietABank (tăng 32,3%)... khẳng định đà hồi phục rõ rệt ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ.

Đáng chú ý, dù quy mô lớn song nhiều ngân hàng top đầu chứng kiến nhịp tăng hai chữ số: VietinBank nổi bật với mức tăng 51,3%; VPBank (tăng 47,1%), Sacombank (tăng 35,8%)...

Ngân hàng giữ vững phong độ dù NIM thu hẹp

Lợi nhuận 9 tháng năm 2025 của các ngân hàng tăng mạnh hoặc duy trì ở mức cao toàn ngành chủ yếu nhờ "đòn bẩy" từ thu nhập ngoài lãi tăng trưởng tích cực, chi phí hoạt động được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt là nhiều nhà băng cắt giảm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng.

lợi nhuận trước thuế 258.997,9 tỷ đồng,
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Trong bối cảnh dư nợ cho vay của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 15%, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 9,6%, do mặt bằng lãi suất cho vay được yêu cầu hạ nhằm hỗ trợ tăng trưởng GDP trên 8% và phục hồi sản xuất kinh doanh. Việc giảm lãi vay khiến biên lãi ròng (NIM) bị thu hẹp, buộc nhiều ngân hàng đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi để đa dạng hóa doanh thu và duy trì lợi nhuận.

Theo ghi nhận, nhiều ngân hàng tiếp tục triển khai các gói vay ưu đãi lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tiếp cận vốn rẻ, mở rộng cho vay ưu đãi với nhà ở xã hội, mua nhà cho người trẻ, đầu tư hạ tầng và chuyển đổi số... Việc hạ lãi vay khiến NIM toàn ngành giảm đáng kể trong giai đoạn 2024 - 2025 so với các năm trước, phản ánh nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong việc chia sẻ lợi nhuận để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống giảm mạnh liên tục: năm 2023 giảm 1,1%/năm, năm 2024 giảm thêm 1,24%/năm; 9 tháng 2025 tiếp tục giảm 0,4 %/năm so với cuối năm 2024, còn 6,54%/năm, mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Theo ông Nguyễn Thanh Tùng - Trưởng phòng Nghiên cứu, ngành Dịch vụ Tài chính HSC, ngành ngân hàng đã hy sinh đáng kể biên lãi ròng để thúc đẩy phục hồi kinh tế, hiệu quả đã thể hiện rõ qua mức tăng trưởng GDP 9 tháng tích cực. Trong thời gian tới, việc điều hành lãi suất và NIM sẽ được cân bằng hơn, thay vì tiếp tục hạ sâu để hỗ trợ tăng trưởng, bởi nền kinh tế có nhiều động lực, từ đầu tư công, chính sách tài khóa mở rộng, cải thiện môi trường kinh doanh và khung pháp lý mới.

"Sang năm sau, khi nền kinh tế tích cực hơn và những những động lực phát huy tác dụng sẽ giúp cải thiện cầu của của tín dụng, từ đó cũng bớt áp lực lên NIM của các ngân hàng" - ông Tùng kỳ vọng.

Một số nhà băng ghi nhận nguồn thu ngoài lãi tăng trưởng tích cực và là lực kéo giúp lãi lớn 9 tháng 2025. Đơn cử, BIDV giữ đà tăng 7,2%, đưa lợi nhuận trước thuế lên trên 23.600 tỷ đồng nhờ tổng thu nhập hoạt động tăng khả quan 11,9%, lên trên 61.000 tỷ đồng, đứng thứ hai nhóm khảo sát.

Trong đó, quy mô tín dụng của BIDV tiếp đà mở rộng, giúp thu nhập lãi thuần tăng 4,1% lên 44.110 tỷ đồng, đóng góp lớn nhất vào tổng lợi nhuận. Bên cạnh đó, nguồn thu ngoài lãi bật tăng 38,6% so với cùng kỳ, nhờ động lực từ hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh, mua bán chứng khoán đầu tư.

Dù BIDV tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng lên 16.862 tỷ đồng, cao hơn 18,8% so với cùng kỳ, lợi nhuận trước thuế vẫn duy trì đà tăng, phản ánh chính sách quản trị rủi ro chủ động, thận trọng và nỗ lực củng cố “bộ đệm” an toàn tín dụng trong bối cảnh tín dụng tiếp tục mở rộng.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank tiếp tục giữ vững ngôi đầu lợi nhuận, dù chỉ đứng thứ ba về tổng thu nhập hoạt động trong nhóm ngân hàng niêm yết nhờ giảm 30,2% chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, trong khi tổng thu nhập hoạt động tăng 4,6%. Thu nhập lãi thuần đạt 14.657 tỷ đồng sau 9 tháng 2025, tăng 7,95%, còn mảng ngoài lãi đóng góp 3.395 tỷ đồng, tăng 4,2%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ chứng khoán kinh doanh, lợi nhuận góp vốn cổ phần và các hoạt động kinh doanh khác.

Với VietinBank, ngân hàng ghi nhận tốc độ tăng lãi trước thuế 51,4%, cao nhất trong nhóm quốc doanh, lên hơn 29.500 tỷ đồng nhờ nhiều nhân tố, đó là tổng thu nhập hoạt động tăng 5,4% lên 63.870 tỷ đồng, cao nhất nhóm khảo sát và chi phí dự phòng giảm 32,6%.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, VPBank ghi nhận lãi trước thuế tăng bứt phá 47,1%, lọt nhóm các ngân hàng lãi trên 20.000 tỷ đồng, nhờ tổng thu nhập hoạt động tăng 17,1% lên trên 52.000 tỷ đồng, sát nút Vietcombank; cùng chi phí dự phòng giảm 5,3%...

Hầu hết ngân hàng giảm phụ thuộc vào nguồn thu từ lãi thuần

Có tới ngân hàng 21/27 ngân hàng giảm phụ thuộc vào nguồn thu lãi, tăng thu ngoài lãi giúp tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động thu hẹp, qua đó biên lợi nhuận ổn định hơn khi NIM co hẹp.

Trong đó, SeABank giảm 16,8% tỷ trọng lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động so với cùng kỳ, PGBank giảm 13%; NamABank giảm 7,8%; ACB giảm 5,6%, BIDV giảm 5,4%... Những đơn vị này tăng mạnh thu phí dịch vụ, bancassurance, ngoại hối, mua bán chứng khoán..., giúp tổng thu nhập hoạt động phình lên và lợi nhuận cải thiện rõ rệt./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,050 17,350
Kim TT/AVPL 17,060 17,360
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,050 17,350
Nguyên Liệu 99.99 16,250 ▼100K 16,450 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 16,200 ▼100K 16,400 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,900 17,300
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,850 17,250
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,780 17,230
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 170,500 173,500
Hà Nội - PNJ 170,500 173,500
Đà Nẵng - PNJ 170,500 173,500
Miền Tây - PNJ 170,500 173,500
Tây Nguyên - PNJ 170,500 173,500
Đông Nam Bộ - PNJ 170,500 173,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,050 17,350
Miếng SJC Nghệ An 17,050 17,350
Miếng SJC Thái Bình 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,050 17,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,050 17,350
NL 99.90 15,970 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,000 ▼300K
Trang sức 99.9 16,540 17,240
Trang sức 99.99 16,550 17,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,705 17,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,705 17,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,703 1,733
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,703 1,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,683 1,718
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 163,599 170,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,113 129,013
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,086 116,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,058 104,958
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,419 100,319
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,898 71,798
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,705 1,735
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17780 18054 18629
CAD 18528 18805 19418
CHF 32621 33005 33653
CNY 0 3470 3830
EUR 29840 30113 31141
GBP 34394 34786 35728
HKD 0 3238 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14983 15570
SGD 20001 20283 20811
THB 719 782 835
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80