Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng 9 tháng 2025 khép lại với gam màu sáng khi 27 ngân hàng niêm yết lãi trước thuế gần 259.000 tỷ đồng, tăng 18,7% cùng kỳ; trong đó, có tới 25 ngân hàng tăng trưởng dương. Dù NIM thu hẹp, nhiều nhà băng vẫn bứt phá nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh, giảm dự phòng rủi ro và kiểm soát tốt chi phí hoạt động.
aa
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Bức tranh đối lập giữa tăng trưởng tín dụng và NIM ngành ngân hàng

Bức tranh lợi nhuận toàn ngành ngân hàng 9 tháng 2025 trở nên rõ nét sau khi 27 ngân hàng công bố báo cáo tài chính, ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế 258.997,9 tỷ đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước. Đà tăng mang tính lan tỏa khi 25/27 ngân hàng ghi nhận kết quả tích cực so với năm trước.

Nhiều ngân hàng soán ngôi ngoạn mục

Khảo sát của phóng viên cho thấy, ngay trong top 5 ngân hàng niêm yết lãi lớn nhất đã chứng kiến sự thay đổi thứ hạng ngoạn mục. Theo đó, Vietcombank tiếp tục vững ngôi đầu với 33.133 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 5,1% so với cùng kỳ. VietinBank là điểm sáng nổi bật khi vươn lên vị trí thứ 2 (tăng 3 bậc) với 29.534 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 51,3%. BIDV nằm trong top ba với 23.632 tỷ đồng và giữ nguyên thứ hạng so với cùng kỳ.

Tiếp đó, Techcombank ở vị trí thứ 4 với 23.384 tỷ đồng, song giảm 2 bậc so với vị trí á quân cùng kỳ 9 tháng 2024; MB đứng thứ 5 khi lãi 23.139 tỷ đồng, giảm 1 bậc.

Lợi nhuận ngành ngân hàng 9 tháng 2025 ghi nhận đà tăng trên diện rộng, với 25/27 ngân hàng báo lãi cao hơn cùng kỳ. VietinBank vươn lên vị trí á quân nhờ tăng trưởng ấn tượng trên 50%, trong khi Vietcombank vẫn vững ngôi đầu và nhóm ngân hàng tư nhân lớn tiếp tục khẳng định sức bật mạnh mẽ.

Bên cạnh top 5 ngân hàng có lợi nhuận trên 20.000 tỷ đồng trong 9 tháng 2025, VPBank cũng mới gia nhập nhóm các nhà băng đạt lợi nhuận trên 20.000 tỷ đồng, với lợi nhuận trước thuế 6 đạt 20.397 tỷ đồng.

Phía sau, ACB, HDBank, SHB và Sacombank đều ghi nhận lợi nhuận vượt 10.000 tỷ đồng, tiếp tục duy trì vị thế trong nhóm cao của ngành.

Xét về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận 9 tháng 2025, có 25/27 ngân hàng tăng, chỉ 2 nhà băng giảm. Theo đó, với nhóm tăng bằng lần so với cùng kỳ, dẫn đầu là NCB khi đảo chiều mạnh sang lãi hơn 650 tỷ đồng; ABBank tăng gấp gần 12 lần, lên 2.088,6 tỷ đồng.

Tiếp đến, BVBank tăng 140,6% cùng kỳ; PGBank bứt tốc 65,8%, VietABank (tăng 32,3%)... khẳng định đà hồi phục rõ rệt ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ.

Đáng chú ý, dù quy mô lớn song nhiều ngân hàng top đầu chứng kiến nhịp tăng hai chữ số: VietinBank nổi bật với mức tăng 51,3%; VPBank (tăng 47,1%), Sacombank (tăng 35,8%)...

Ngân hàng giữ vững phong độ dù NIM thu hẹp

Lợi nhuận 9 tháng năm 2025 của các ngân hàng tăng mạnh hoặc duy trì ở mức cao toàn ngành chủ yếu nhờ "đòn bẩy" từ thu nhập ngoài lãi tăng trưởng tích cực, chi phí hoạt động được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt là nhiều nhà băng cắt giảm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng.

lợi nhuận trước thuế 258.997,9 tỷ đồng,
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Trong bối cảnh dư nợ cho vay của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 15%, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 9,6%, do mặt bằng lãi suất cho vay được yêu cầu hạ nhằm hỗ trợ tăng trưởng GDP trên 8% và phục hồi sản xuất kinh doanh. Việc giảm lãi vay khiến biên lãi ròng (NIM) bị thu hẹp, buộc nhiều ngân hàng đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi để đa dạng hóa doanh thu và duy trì lợi nhuận.

Theo ghi nhận, nhiều ngân hàng tiếp tục triển khai các gói vay ưu đãi lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tiếp cận vốn rẻ, mở rộng cho vay ưu đãi với nhà ở xã hội, mua nhà cho người trẻ, đầu tư hạ tầng và chuyển đổi số... Việc hạ lãi vay khiến NIM toàn ngành giảm đáng kể trong giai đoạn 2024 - 2025 so với các năm trước, phản ánh nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong việc chia sẻ lợi nhuận để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống giảm mạnh liên tục: năm 2023 giảm 1,1%/năm, năm 2024 giảm thêm 1,24%/năm; 9 tháng 2025 tiếp tục giảm 0,4 %/năm so với cuối năm 2024, còn 6,54%/năm, mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Theo ông Nguyễn Thanh Tùng - Trưởng phòng Nghiên cứu, ngành Dịch vụ Tài chính HSC, ngành ngân hàng đã hy sinh đáng kể biên lãi ròng để thúc đẩy phục hồi kinh tế, hiệu quả đã thể hiện rõ qua mức tăng trưởng GDP 9 tháng tích cực. Trong thời gian tới, việc điều hành lãi suất và NIM sẽ được cân bằng hơn, thay vì tiếp tục hạ sâu để hỗ trợ tăng trưởng, bởi nền kinh tế có nhiều động lực, từ đầu tư công, chính sách tài khóa mở rộng, cải thiện môi trường kinh doanh và khung pháp lý mới.

"Sang năm sau, khi nền kinh tế tích cực hơn và những những động lực phát huy tác dụng sẽ giúp cải thiện cầu của của tín dụng, từ đó cũng bớt áp lực lên NIM của các ngân hàng" - ông Tùng kỳ vọng.

Một số nhà băng ghi nhận nguồn thu ngoài lãi tăng trưởng tích cực và là lực kéo giúp lãi lớn 9 tháng 2025. Đơn cử, BIDV giữ đà tăng 7,2%, đưa lợi nhuận trước thuế lên trên 23.600 tỷ đồng nhờ tổng thu nhập hoạt động tăng khả quan 11,9%, lên trên 61.000 tỷ đồng, đứng thứ hai nhóm khảo sát.

Trong đó, quy mô tín dụng của BIDV tiếp đà mở rộng, giúp thu nhập lãi thuần tăng 4,1% lên 44.110 tỷ đồng, đóng góp lớn nhất vào tổng lợi nhuận. Bên cạnh đó, nguồn thu ngoài lãi bật tăng 38,6% so với cùng kỳ, nhờ động lực từ hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh, mua bán chứng khoán đầu tư.

Dù BIDV tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng lên 16.862 tỷ đồng, cao hơn 18,8% so với cùng kỳ, lợi nhuận trước thuế vẫn duy trì đà tăng, phản ánh chính sách quản trị rủi ro chủ động, thận trọng và nỗ lực củng cố “bộ đệm” an toàn tín dụng trong bối cảnh tín dụng tiếp tục mở rộng.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank tiếp tục giữ vững ngôi đầu lợi nhuận, dù chỉ đứng thứ ba về tổng thu nhập hoạt động trong nhóm ngân hàng niêm yết nhờ giảm 30,2% chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, trong khi tổng thu nhập hoạt động tăng 4,6%. Thu nhập lãi thuần đạt 14.657 tỷ đồng sau 9 tháng 2025, tăng 7,95%, còn mảng ngoài lãi đóng góp 3.395 tỷ đồng, tăng 4,2%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ chứng khoán kinh doanh, lợi nhuận góp vốn cổ phần và các hoạt động kinh doanh khác.

Với VietinBank, ngân hàng ghi nhận tốc độ tăng lãi trước thuế 51,4%, cao nhất trong nhóm quốc doanh, lên hơn 29.500 tỷ đồng nhờ nhiều nhân tố, đó là tổng thu nhập hoạt động tăng 5,4% lên 63.870 tỷ đồng, cao nhất nhóm khảo sát và chi phí dự phòng giảm 32,6%.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, VPBank ghi nhận lãi trước thuế tăng bứt phá 47,1%, lọt nhóm các ngân hàng lãi trên 20.000 tỷ đồng, nhờ tổng thu nhập hoạt động tăng 17,1% lên trên 52.000 tỷ đồng, sát nút Vietcombank; cùng chi phí dự phòng giảm 5,3%...

Hầu hết ngân hàng giảm phụ thuộc vào nguồn thu từ lãi thuần

Có tới ngân hàng 21/27 ngân hàng giảm phụ thuộc vào nguồn thu lãi, tăng thu ngoài lãi giúp tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động thu hẹp, qua đó biên lợi nhuận ổn định hơn khi NIM co hẹp.

Trong đó, SeABank giảm 16,8% tỷ trọng lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động so với cùng kỳ, PGBank giảm 13%; NamABank giảm 7,8%; ACB giảm 5,6%, BIDV giảm 5,4%... Những đơn vị này tăng mạnh thu phí dịch vụ, bancassurance, ngoại hối, mua bán chứng khoán..., giúp tổng thu nhập hoạt động phình lên và lợi nhuận cải thiện rõ rệt./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietBank dự kiến chào bán gần 296,15 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tỷ lệ 25%, dự kiến huy động hơn 2.961 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cấp tín dụng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 14%, lên gần 120.000 tỷ đồng cuối quý II/2026.
Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

Thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa lạm phát và tăng trưởng trong điều hành chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước phải lượng hóa và thường xuyên đánh giá "điểm cân bằng" giữa yêu cầu kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, cập nhật các giải pháp điều hành công cụ chính sách tiền tệ.
Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

(TBTCO) - Sáng 13/8, tỷ giá USD diễn biến trái chiều. Tỷ giá trung tâm tăng 27 đồng lên 25.566 đồng/USD, USD tự do tăng tới 200 đồng, lên 25.950 - 25.990 VND/USD, trong khi nhiều ngân hàng lại điều chỉnh giảm đáng kể. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,17% lên 99,85 điểm, dù tình hình lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt, làm giảm kỳ vọng Fed mạnh tay tăng lãi suất.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,900
Hà Nội - PNJ 140,300 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,900
Miền Tây - PNJ 140,300 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,450
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,760 14,360
Trang sức 99.99 13,770 14,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 17/08/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18841
CAD 18301 18577 19205
CHF 31497 31877 32523
CNY 0 3830 3940
EUR 29598 29819 30911
GBP 34560 34952 35905
HKD 0 3200 3403
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15684
SGD 19887 20169 20753
THB 704 767 821
USD (1,2) 25873 0 0
USD (5,10,20) 25913 0 0
USD (50,100) 25941 25975 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,562 29,586 30,985
JPY 159.47 159.76 169.42
GBP 34,638 34,732 35,931
AUD 18,119 18,184 18,877
CAD 18,443 18,502 19,184
CHF 31,692 31,791 32,730
SGD 19,988 20,050 20,834
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 16.97 17.7 19.27
THB 750.33 759.6 813.27
NZD 14,993 15,132 15,585
SEK - 2,691 2,786
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,711 2,806
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,976.7 - 6,745.55
TWD 736.75 - 892.53
SAR - 6,838.18 7,203.01
KWD - 82,726 88,021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18139 18239 19164
CAD 18468 18568 19582
CHF 31745 31775 33356
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29750 29780 31502
GBP 34849 34899 36652
HKD 0 3355 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20055 20185 20906
THB 0 733.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14030000 14030000 14330000
SBJ 12500000 12500000 14330000
Cập nhật: 17/08/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80