Ngân hàng báo lãi gần 260.000 tỷ đồng, cuộc đua thứ hạng top 5 đổi ngôi ngoạn mục

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng 9 tháng 2025 khép lại với gam màu sáng khi 27 ngân hàng niêm yết lãi trước thuế gần 259.000 tỷ đồng, tăng 18,7% cùng kỳ; trong đó, có tới 25 ngân hàng tăng trưởng dương. Dù NIM thu hẹp, nhiều nhà băng vẫn bứt phá nhờ thu nhập ngoài lãi tăng mạnh, giảm dự phòng rủi ro và kiểm soát tốt chi phí hoạt động.
aa
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng Tín dụng bứt tốc quý III, toàn hệ thống ngân hàng hướng đến mục tiêu 20% Bức tranh đối lập giữa tăng trưởng tín dụng và NIM ngành ngân hàng

Bức tranh lợi nhuận toàn ngành ngân hàng 9 tháng 2025 trở nên rõ nét sau khi 27 ngân hàng công bố báo cáo tài chính, ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế 258.997,9 tỷ đồng, tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước. Đà tăng mang tính lan tỏa khi 25/27 ngân hàng ghi nhận kết quả tích cực so với năm trước.

Nhiều ngân hàng soán ngôi ngoạn mục

Khảo sát của phóng viên cho thấy, ngay trong top 5 ngân hàng niêm yết lãi lớn nhất đã chứng kiến sự thay đổi thứ hạng ngoạn mục. Theo đó, Vietcombank tiếp tục vững ngôi đầu với 33.133 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng 5,1% so với cùng kỳ. VietinBank là điểm sáng nổi bật khi vươn lên vị trí thứ 2 (tăng 3 bậc) với 29.534 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 51,3%. BIDV nằm trong top ba với 23.632 tỷ đồng và giữ nguyên thứ hạng so với cùng kỳ.

Tiếp đó, Techcombank ở vị trí thứ 4 với 23.384 tỷ đồng, song giảm 2 bậc so với vị trí á quân cùng kỳ 9 tháng 2024; MB đứng thứ 5 khi lãi 23.139 tỷ đồng, giảm 1 bậc.

Lợi nhuận ngành ngân hàng 9 tháng 2025 ghi nhận đà tăng trên diện rộng, với 25/27 ngân hàng báo lãi cao hơn cùng kỳ. VietinBank vươn lên vị trí á quân nhờ tăng trưởng ấn tượng trên 50%, trong khi Vietcombank vẫn vững ngôi đầu và nhóm ngân hàng tư nhân lớn tiếp tục khẳng định sức bật mạnh mẽ.

Bên cạnh top 5 ngân hàng có lợi nhuận trên 20.000 tỷ đồng trong 9 tháng 2025, VPBank cũng mới gia nhập nhóm các nhà băng đạt lợi nhuận trên 20.000 tỷ đồng, với lợi nhuận trước thuế 6 đạt 20.397 tỷ đồng.

Phía sau, ACB, HDBank, SHB và Sacombank đều ghi nhận lợi nhuận vượt 10.000 tỷ đồng, tiếp tục duy trì vị thế trong nhóm cao của ngành.

Xét về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận 9 tháng 2025, có 25/27 ngân hàng tăng, chỉ 2 nhà băng giảm. Theo đó, với nhóm tăng bằng lần so với cùng kỳ, dẫn đầu là NCB khi đảo chiều mạnh sang lãi hơn 650 tỷ đồng; ABBank tăng gấp gần 12 lần, lên 2.088,6 tỷ đồng.

Tiếp đến, BVBank tăng 140,6% cùng kỳ; PGBank bứt tốc 65,8%, VietABank (tăng 32,3%)... khẳng định đà hồi phục rõ rệt ở nhóm ngân hàng quy mô nhỏ.

Đáng chú ý, dù quy mô lớn song nhiều ngân hàng top đầu chứng kiến nhịp tăng hai chữ số: VietinBank nổi bật với mức tăng 51,3%; VPBank (tăng 47,1%), Sacombank (tăng 35,8%)...

Ngân hàng giữ vững phong độ dù NIM thu hẹp

Lợi nhuận 9 tháng năm 2025 của các ngân hàng tăng mạnh hoặc duy trì ở mức cao toàn ngành chủ yếu nhờ "đòn bẩy" từ thu nhập ngoài lãi tăng trưởng tích cực, chi phí hoạt động được kiểm soát chặt chẽ, đặc biệt là nhiều nhà băng cắt giảm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng.

lợi nhuận trước thuế 258.997,9 tỷ đồng,
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Trong bối cảnh dư nợ cho vay của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 15%, thu nhập lãi thuần chỉ tăng 9,6%, do mặt bằng lãi suất cho vay được yêu cầu hạ nhằm hỗ trợ tăng trưởng GDP trên 8% và phục hồi sản xuất kinh doanh. Việc giảm lãi vay khiến biên lãi ròng (NIM) bị thu hẹp, buộc nhiều ngân hàng đẩy mạnh nguồn thu ngoài lãi để đa dạng hóa doanh thu và duy trì lợi nhuận.

Theo ghi nhận, nhiều ngân hàng tiếp tục triển khai các gói vay ưu đãi lãi suất, hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tiếp cận vốn rẻ, mở rộng cho vay ưu đãi với nhà ở xã hội, mua nhà cho người trẻ, đầu tư hạ tầng và chuyển đổi số... Việc hạ lãi vay khiến NIM toàn ngành giảm đáng kể trong giai đoạn 2024 - 2025 so với các năm trước, phản ánh nỗ lực của hệ thống ngân hàng trong việc chia sẻ lợi nhuận để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Số liệu từ Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy, lãi suất cho vay bình quân toàn hệ thống giảm mạnh liên tục: năm 2023 giảm 1,1%/năm, năm 2024 giảm thêm 1,24%/năm; 9 tháng 2025 tiếp tục giảm 0,4 %/năm so với cuối năm 2024, còn 6,54%/năm, mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây.

Theo ông Nguyễn Thanh Tùng - Trưởng phòng Nghiên cứu, ngành Dịch vụ Tài chính HSC, ngành ngân hàng đã hy sinh đáng kể biên lãi ròng để thúc đẩy phục hồi kinh tế, hiệu quả đã thể hiện rõ qua mức tăng trưởng GDP 9 tháng tích cực. Trong thời gian tới, việc điều hành lãi suất và NIM sẽ được cân bằng hơn, thay vì tiếp tục hạ sâu để hỗ trợ tăng trưởng, bởi nền kinh tế có nhiều động lực, từ đầu tư công, chính sách tài khóa mở rộng, cải thiện môi trường kinh doanh và khung pháp lý mới.

"Sang năm sau, khi nền kinh tế tích cực hơn và những những động lực phát huy tác dụng sẽ giúp cải thiện cầu của của tín dụng, từ đó cũng bớt áp lực lên NIM của các ngân hàng" - ông Tùng kỳ vọng.

Một số nhà băng ghi nhận nguồn thu ngoài lãi tăng trưởng tích cực và là lực kéo giúp lãi lớn 9 tháng 2025. Đơn cử, BIDV giữ đà tăng 7,2%, đưa lợi nhuận trước thuế lên trên 23.600 tỷ đồng nhờ tổng thu nhập hoạt động tăng khả quan 11,9%, lên trên 61.000 tỷ đồng, đứng thứ hai nhóm khảo sát.

Trong đó, quy mô tín dụng của BIDV tiếp đà mở rộng, giúp thu nhập lãi thuần tăng 4,1% lên 44.110 tỷ đồng, đóng góp lớn nhất vào tổng lợi nhuận. Bên cạnh đó, nguồn thu ngoài lãi bật tăng 38,6% so với cùng kỳ, nhờ động lực từ hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh, mua bán chứng khoán đầu tư.

Dù BIDV tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng lên 16.862 tỷ đồng, cao hơn 18,8% so với cùng kỳ, lợi nhuận trước thuế vẫn duy trì đà tăng, phản ánh chính sách quản trị rủi ro chủ động, thận trọng và nỗ lực củng cố “bộ đệm” an toàn tín dụng trong bối cảnh tín dụng tiếp tục mở rộng.

Trong nhóm ngân hàng quốc doanh, Vietcombank tiếp tục giữ vững ngôi đầu lợi nhuận, dù chỉ đứng thứ ba về tổng thu nhập hoạt động trong nhóm ngân hàng niêm yết nhờ giảm 30,2% chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, trong khi tổng thu nhập hoạt động tăng 4,6%. Thu nhập lãi thuần đạt 14.657 tỷ đồng sau 9 tháng 2025, tăng 7,95%, còn mảng ngoài lãi đóng góp 3.395 tỷ đồng, tăng 4,2%. Động lực tăng trưởng chủ yếu đến từ chứng khoán kinh doanh, lợi nhuận góp vốn cổ phần và các hoạt động kinh doanh khác.

Với VietinBank, ngân hàng ghi nhận tốc độ tăng lãi trước thuế 51,4%, cao nhất trong nhóm quốc doanh, lên hơn 29.500 tỷ đồng nhờ nhiều nhân tố, đó là tổng thu nhập hoạt động tăng 5,4% lên 63.870 tỷ đồng, cao nhất nhóm khảo sát và chi phí dự phòng giảm 32,6%.

Ở nhóm ngân hàng tư nhân, VPBank ghi nhận lãi trước thuế tăng bứt phá 47,1%, lọt nhóm các ngân hàng lãi trên 20.000 tỷ đồng, nhờ tổng thu nhập hoạt động tăng 17,1% lên trên 52.000 tỷ đồng, sát nút Vietcombank; cùng chi phí dự phòng giảm 5,3%...

Hầu hết ngân hàng giảm phụ thuộc vào nguồn thu từ lãi thuần

Có tới ngân hàng 21/27 ngân hàng giảm phụ thuộc vào nguồn thu lãi, tăng thu ngoài lãi giúp tỷ trọng thu nhập lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động thu hẹp, qua đó biên lợi nhuận ổn định hơn khi NIM co hẹp.

Trong đó, SeABank giảm 16,8% tỷ trọng lãi thuần trong tổng thu nhập hoạt động so với cùng kỳ, PGBank giảm 13%; NamABank giảm 7,8%; ACB giảm 5,6%, BIDV giảm 5,4%... Những đơn vị này tăng mạnh thu phí dịch vụ, bancassurance, ngoại hối, mua bán chứng khoán..., giúp tổng thu nhập hoạt động phình lên và lợi nhuận cải thiện rõ rệt./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

Trao thêm quyền chủ động, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Ngô Việt Trung - Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát Bảo hiểm (Bộ Tài chính) nhấn mạnh nỗ lực và quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp bảo hiểm thông qua cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh và chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm, qua đó tăng tính chủ động cho doanh nghiệp.
LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

LPBank hái “quả ngọt” từ chiến lược chuyển đổi số với cú đúp giải thưởng tại Vietnam Impact Award 2026

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được vinh danh tại Vietnam I4 Impact Awards 2026 tại hai hạng mục giải thưởng quan trọng, gồm “Lãnh đạo Sáng tạo và Chuyển đổi số” dành cho ông Vũ Quốc Khánh – Tổng Giám đốc và “Dịch vụ số xuất sắc” dành cho bộ đôi sản phẩm công nghệ nổi bật là LPBank Plus và LocPhat Pay.
Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

Tỷ giá USD hôm nay (26/6): Tỷ giá trung tâm lùi về 25.195 đồng, lạm phát Mỹ vượt 4% cao nhất ba năm

(TBTCO) - Sáng 26/6, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.195 đồng, giảm 2 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi nhẹ về 101,4 điểm. Lạm phát Mỹ tiếp tục nóng lên khi chỉ số PCE tháng 5 tăng 4,1%, mức cao nhất ba năm, khiến thị trường đảo chiều kỳ vọng chính sách, nâng xác suất Fed tăng lãi suất trong năm nay lên khoảng 82%.
Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

Khám ngoại trú trái tuyến được thanh toán bảo hiểm y tế từ 1/7/2026

(TBTCO) - Từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại một số cơ sở y tế cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán 50% mức hưởng đối với các bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được thanh toán.
Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,400 14,700
Kim TT/AVPL 14,400 14,700
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,400 14,700
Nguyên Liệu 99.99 13,150 13,350
Nguyên Liệu 99.9 13,100 13,300
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,600 14,100
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,530 14,080
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,800 146,800
Hà Nội - PNJ 143,800 146,800
Đà Nẵng - PNJ 143,800 146,800
Miền Tây - PNJ 143,800 146,800
Tây Nguyên - PNJ 143,800 146,800
Đông Nam Bộ - PNJ 143,800 146,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,400 14,700
Miếng SJC Nghệ An 14,400 14,700
Miếng SJC Thái Bình 14,400 14,700
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 14,650
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 14,650
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,840 14,540
Trang sức 99.99 13,850 14,550
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 144 14,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 144 14,703
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,439 1,469
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,439 147
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,419 1,454
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,696 14,396
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,711 109,211
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,532 99,032
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,353 88,853
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,427 84,927
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,288 60,788
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 144 147
Cập nhật: 27/06/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18474
CAD 18012 18287 18905
CHF 31875 32256 32908
CNY 0 3828 3920
EUR 29363 29583 30661
GBP 33969 34359 35293
HKD 0 3222 3425
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14557 15149
SGD 19782 20064 20642
THB 703 767 820
USD (1,2) 26033 0 0
USD (5,10,20) 26074 0 0
USD (50,100) 26103 26117 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,461 29,485 30,821
JPY 158.45 158.74 167.92
GBP 34,154 34,246 35,339
AUD 17,833 17,897 18,527
CAD 18,214 18,272 18,901
CHF 32,171 32,271 33,141
SGD 19,913 19,975 20,711
CNY - 3,800 3,936
HKD 3,291 3,301 3,431
KRW 15.81 16.49 17.9
THB 751.27 760.55 812.34
NZD 14,551 14,686 15,087
SEK - 2,662 2,750
DKK - 3,941 4,071
NOK - 2,622 2,708
LAK - 0.91 1.27
MYR 6,005.36 - 6,761.72
TWD 747.27 - 903.13
SAR - 6,895.1 7,245.27
KWD - 83,238 88,355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26108 26108 26454
AUD 17811 17911 18837
CAD 18193 18293 19307
CHF 32151 32181 33763
CNY 3808.3 3833.3 3968.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29556 29586 31311
GBP 34282 34332 36090
HKD 0 3355 0
JPY 159.26 159.76 170.3
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14674 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19948 20078 20809
THB 0 733.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14400000 14400000 14700000
SBJ 13000000 13000000 14700000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,454
USD20 26,110 26,160 26,454
USD1 26,110 26,160 26,454
AUD 17,786 17,936 19,069
EUR 29,622 29,672 31,340
CAD 18,075 18,225 19,559
SGD 19,961 20,161 20,749
JPY 159.63 161.13 165.9
GBP 34,095 34,495 35,406
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/06/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80