Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt gần 172.000 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, 23/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận, trong đó, 6 nhà băng bật tăng thứ hạng rõ rệt trên bảng xếp hạng toàn ngành.
aa
"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Những "ẩn giấu" sau bước nhảy vọt của tín dụng nửa đầu năm 2025

Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính bán niên cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2025, lợi nhuận trước thuế các nhà băng tăng 16,1% cùng kỳ, lên 171.873 tỷ đồng. Trong đó, có tới 23/27 nhà băng ghi nhận tăng trưởng tích cực, khiến bảng xếp hạng lợi nhuận trước thuế ghi nhận nhiều thay đổi đáng chú ý so với cùng kỳ.

VietinBank thăng hạng ngoạn mục, "ông lớn" quốc doanh giữ top đầu

Top 5 ngân hàng đứng đầu về lợi nhuận vẫn giữ nguyên, nhưng có sự hoán đổi vị trí đáng kể. Vietcombank tiếp tục giữ vững ngôi đầu với lợi nhuận trước thuế 21.893,8 tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ và là ngân hàng duy nhất lãi trên 20.000 tỷ đồng.

Nhóm quốc doanh chiếm 33% lợi nhuận

Trong 6 tháng đầu năm 2025, ba ngân hàng quốc doanh niêm yết đạt tổng lợi nhuận trước thuế 56.852 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ và chiếm tới 33% tổng lợi nhuận của toàn bộ các ngân hàng trên sàn. Vietcombank và BIDV vẫn giữ nguyên vị trí lần lượt là số 1 và số 3 trong bảng xếp hạng. Trong khi đó, VietinBank gây ấn tượng khi tăng 3 bậc, vươn lên vị trí thứ 2 nhờ mức tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ tới 46%.

Sự hoán ngôi đáng chú ý là VietinBank, ngân hàng vươn mạnh từ vị trí thứ 5 lên thứ 2 nhờ lợi nhuận tăng tới 46%, lên 18.920 tỷ đồng. Đây cũng là mức tăng trưởng cao nhất trong nhóm "big 4", đưa ngân hàng này vượt qua cả BIDV, ngân hàng hiện đứng thứ 3.

Sở dĩ VietinBank gặt hái mức tăng trưởng vượt bậc này do thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 22,7%, đạt 10.052,6 tỷ đồng, trong khi lãi thuần từ hoạt động cho vay của VietinBank chỉ tăng nhẹ 2,6%, đạt 31.318 tỷ đồng. Tính chung tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng tăng gần 7% so với cùng kỳ.

Tuy nhiên, chi phí hoạt động cũng tăng hơn 15%, lên 11.366 tỷ đồng. Một điểm giúp lợi nhuận trước thuế của VietinBank bật tăng mạnh trong kỳ là chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm mạnh 30%, còn hơn 30.000 tỷ đồng.

Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng. Ảnh: T.L.

MB giữ nguyên vị trí thứ 4 như năm trước, trong khi Techcombank xuống vị trí thứ 5.

Nhóm giữa bảng xếp hạng chứng kiến sự ổn định tương đối. Theo đó, VPBank soán ngôi thứ 6 của ACB nhờ mức tăng 29,4%. ACB xếp thứ 7, lợi nhuận nhích nhẹ cùng kỳ lên 10.690 tỷ đồng.

Thống kê cũng cho thấy, đứng sau Vietcombank có 7 nhà băng gặt hái lợi nhuận từ 10.000 - 20.000 tỷ đồng gồm: VietinBank, BIDV, MB, Techcombank, VPBank, ACB và HDBank.

Một số ngân hàng ghi nhận bước tiến đáng kể trong bảng xếp hạng lợi nhuận nửa đầu năm 2025 có thể kể đến như SeABank, ABBank và NCB. Cụ thể, SeABank tăng 3 bậc lên vị trí thứ 12 nhờ lợi nhuận trước thuế tăng 80,8% so với cùng kỳ. ABBank cũng có cú bứt phá ấn tượng khi lợi nhuận đạt 1.672,5 tỷ đồng, tăng tới 219,4%. Đáng chú ý, NCB tăng 3 bậc trong bảng xếp hạng sau khi lợi nhuận trước thuế tăng đột biến, gấp hơn 64 lần cùng kỳ, đạt 462,9 tỷ đồng.

Nhiều nhà băng tăng trưởng lợi nhuận vượt trội

Trong 6 tháng đầu năm 2025, bức tranh lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết cũng cho thấy sự phân hóa rõ nét khi có tới 23/27 nhà băng ghi nhận tăng trưởng tích cực, song vẫn có một số đơn vị sụt giảm. Toàn ngành ghi nhận nhiều điểm sáng, với mức tăng trưởng 2 - 3 chữ số, thậm chí có đơn vị tăng trưởng bằng lần, phản ánh nỗ lực cải thiện hiệu quả hoạt động.

Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Các ngân hàng khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 6 tháng đầu năm như: NCB tăng tăng 6.343,4%; ABBank tăng 219,4%, SeABank (80,8%), KienlongBank (67%). Trong nhóm ngân hàng lớn, nhiều đơn vị đều ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận hai chữ số như: Vietinbank tăng 46%; Sacombank tăng 37,2%; SHB và VPBank tăng lần lượt 29,6% và 29,5%.

Theo đó, NCB là điểm nhấn đáng chú ý khi lợi nhuận trước thuế tăng vọt từ mức chỉ 7,2 tỷ đồng cùng kỳ năm ngoái lên tới 462,9 tỷ đồng, tương đương tăng 6.343,4%.

Đại diện ngân hàng cho biết, kết quả đạt được là nhờ đẩy mạnh triển khai chiến lược Digital Wealth (quản lý gia sản số tích hợp), đồng thời liên tục cải tiến sản phẩm, dịch vụ và quy trình vận hành. Song song đó, ngân hàng chủ động thực hiện tái cơ cấu theo đúng định hướng và tiến độ trong phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt, với tầm nhìn đến năm 2030.

Mới đây, ngân hàng cũng được cơ quan quản lý chấp thuận tăng vốn điều lệ lên trên 19.000 tỷ đồng và triển khai sớm hơn kế hoạch đề ra trong phương án cơ cấu. Điều này giúp ngân hàng nâng cao năng lực tài chính, bổ sung nguồn vốn dài hạn ổn định để mở rộng hoạt động kinh doanh trong thời gian tới.

Một số ngân hàng khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng rất ấn tượng như ABBank tăng 219,4%, SSB tăng 80,8%, KienlongBank tăng 67%.

Trong nhóm ngân hàng lớn, nhiều đơn vị đều ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận hai chữ số. Theo đó, "ông lớn" Vietinbank tăng 46%; Sacombank tăng 37,2%; SHB và VPBank tăng lần lượt 29,6% và 29,5%.

Nhóm ngân hàng giữ đà tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ như: Vietcombank tăng 5,1%; LPBank tăng 4,1%; BIDV tăng 3,1%; ACB nhích tăng 1,9%...

Ở chiều ngược lại, có 4/27 nhà băng ghi nhận sụt giảm lợi nhuận trong nửa đầu năm 2025. Trong số đó, BVBank giảm sâu nhất, tới 38,8%. Nguyên nhân chủ yếu khiến lợi nhuận của BVBank giảm là do thu nhập từ các hoạt động ngoài lãi đều đi xuống, thậm chí có khoản bị lỗ so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, hoạt động dịch vụ ghi nhận lỗ 4 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ lãi 23 tỷ đồng. Lãi từ hoạt động kinh doanh khác cũng giảm 28%, chỉ còn 23 tỷ đồng. Tổng thu nhập ngoài lãi của ngân hàng đạt 92,1 tỷ đồng, giảm 34,2% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi phí hoạt động lại tăng 17%, càng gây áp lực lên lợi nhuận trước thuế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 24/6: Vàng thế giới mất hơn 73 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 73,41 USD/ounce xuống còn khoảng 4.110 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi xuống tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng lớn.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

Thông báo về việc khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2 trực thuộc Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc đặt trụ sở và chính thức khai trương hoạt động Chi nhánh Sở giao dịch 2.
Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

Nới trần vốn ngắn hạn mở thêm dư địa tái định giá cổ phiếu ngân hàng

(TBTCO) - Theo ông Lương Duy Phước - Giám đốc Phân tích, Công ty Chứng khoán Kafi, việc nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% sẽ tạo thêm dư địa tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ cải thiện kết quả kinh doanh và mở ra cơ hội tái định giá đối với nhóm cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18486
CAD 17969 18244 18860
CHF 31813 32194 32836
CNY 0 3829 3922
EUR 29296 29516 30594
GBP 33902 34292 35234
HKD 0 3227 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14559 15147
SGD 19766 20047 20613
THB 705 768 821
USD (1,2) 26064 0 0
USD (5,10,20) 26105 0 0
USD (50,100) 26134 26148 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80