Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết trong 6 tháng đầu năm 2025 đạt gần 172.000 tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, 23/27 ngân hàng ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận, trong đó, 6 nhà băng bật tăng thứ hạng rõ rệt trên bảng xếp hạng toàn ngành.
aa
"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025 Những "ẩn giấu" sau bước nhảy vọt của tín dụng nửa đầu năm 2025

Thống kê từ 27 ngân hàng niêm yết đã công bố báo cáo tài chính bán niên cho thấy, trong 6 tháng đầu năm 2025, lợi nhuận trước thuế các nhà băng tăng 16,1% cùng kỳ, lên 171.873 tỷ đồng. Trong đó, có tới 23/27 nhà băng ghi nhận tăng trưởng tích cực, khiến bảng xếp hạng lợi nhuận trước thuế ghi nhận nhiều thay đổi đáng chú ý so với cùng kỳ.

VietinBank thăng hạng ngoạn mục, "ông lớn" quốc doanh giữ top đầu

Top 5 ngân hàng đứng đầu về lợi nhuận vẫn giữ nguyên, nhưng có sự hoán đổi vị trí đáng kể. Vietcombank tiếp tục giữ vững ngôi đầu với lợi nhuận trước thuế 21.893,8 tỷ đồng, tăng 5,1% so với cùng kỳ và là ngân hàng duy nhất lãi trên 20.000 tỷ đồng.

Nhóm quốc doanh chiếm 33% lợi nhuận

Trong 6 tháng đầu năm 2025, ba ngân hàng quốc doanh niêm yết đạt tổng lợi nhuận trước thuế 56.852 tỷ đồng, tăng 15,2% so với cùng kỳ và chiếm tới 33% tổng lợi nhuận của toàn bộ các ngân hàng trên sàn. Vietcombank và BIDV vẫn giữ nguyên vị trí lần lượt là số 1 và số 3 trong bảng xếp hạng. Trong khi đó, VietinBank gây ấn tượng khi tăng 3 bậc, vươn lên vị trí thứ 2 nhờ mức tăng trưởng lợi nhuận mạnh mẽ tới 46%.

Sự hoán ngôi đáng chú ý là VietinBank, ngân hàng vươn mạnh từ vị trí thứ 5 lên thứ 2 nhờ lợi nhuận tăng tới 46%, lên 18.920 tỷ đồng. Đây cũng là mức tăng trưởng cao nhất trong nhóm "big 4", đưa ngân hàng này vượt qua cả BIDV, ngân hàng hiện đứng thứ 3.

Sở dĩ VietinBank gặt hái mức tăng trưởng vượt bậc này do thu nhập ngoài lãi tăng mạnh 22,7%, đạt 10.052,6 tỷ đồng, trong khi lãi thuần từ hoạt động cho vay của VietinBank chỉ tăng nhẹ 2,6%, đạt 31.318 tỷ đồng. Tính chung tổng thu nhập hoạt động của ngân hàng tăng gần 7% so với cùng kỳ.

Tuy nhiên, chi phí hoạt động cũng tăng hơn 15%, lên 11.366 tỷ đồng. Một điểm giúp lợi nhuận trước thuế của VietinBank bật tăng mạnh trong kỳ là chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm mạnh 30%, còn hơn 30.000 tỷ đồng.

Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng
Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng. Ảnh: T.L.

MB giữ nguyên vị trí thứ 4 như năm trước, trong khi Techcombank xuống vị trí thứ 5.

Nhóm giữa bảng xếp hạng chứng kiến sự ổn định tương đối. Theo đó, VPBank soán ngôi thứ 6 của ACB nhờ mức tăng 29,4%. ACB xếp thứ 7, lợi nhuận nhích nhẹ cùng kỳ lên 10.690 tỷ đồng.

Thống kê cũng cho thấy, đứng sau Vietcombank có 7 nhà băng gặt hái lợi nhuận từ 10.000 - 20.000 tỷ đồng gồm: VietinBank, BIDV, MB, Techcombank, VPBank, ACB và HDBank.

Một số ngân hàng ghi nhận bước tiến đáng kể trong bảng xếp hạng lợi nhuận nửa đầu năm 2025 có thể kể đến như SeABank, ABBank và NCB. Cụ thể, SeABank tăng 3 bậc lên vị trí thứ 12 nhờ lợi nhuận trước thuế tăng 80,8% so với cùng kỳ. ABBank cũng có cú bứt phá ấn tượng khi lợi nhuận đạt 1.672,5 tỷ đồng, tăng tới 219,4%. Đáng chú ý, NCB tăng 3 bậc trong bảng xếp hạng sau khi lợi nhuận trước thuế tăng đột biến, gấp hơn 64 lần cùng kỳ, đạt 462,9 tỷ đồng.

Nhiều nhà băng tăng trưởng lợi nhuận vượt trội

Trong 6 tháng đầu năm 2025, bức tranh lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết cũng cho thấy sự phân hóa rõ nét khi có tới 23/27 nhà băng ghi nhận tăng trưởng tích cực, song vẫn có một số đơn vị sụt giảm. Toàn ngành ghi nhận nhiều điểm sáng, với mức tăng trưởng 2 - 3 chữ số, thậm chí có đơn vị tăng trưởng bằng lần, phản ánh nỗ lực cải thiện hiệu quả hoạt động.

Ngân hàng lãi gần 172.000 tỷ đồng, nhiều tên tuổi thăng hạng ngoạn mục trong bảng xếp hạng
Đồ hoạ: Ánh Tuyết.

Các ngân hàng khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng 6 tháng đầu năm như: NCB tăng tăng 6.343,4%; ABBank tăng 219,4%, SeABank (80,8%), KienlongBank (67%). Trong nhóm ngân hàng lớn, nhiều đơn vị đều ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận hai chữ số như: Vietinbank tăng 46%; Sacombank tăng 37,2%; SHB và VPBank tăng lần lượt 29,6% và 29,5%.

Theo đó, NCB là điểm nhấn đáng chú ý khi lợi nhuận trước thuế tăng vọt từ mức chỉ 7,2 tỷ đồng cùng kỳ năm ngoái lên tới 462,9 tỷ đồng, tương đương tăng 6.343,4%.

Đại diện ngân hàng cho biết, kết quả đạt được là nhờ đẩy mạnh triển khai chiến lược Digital Wealth (quản lý gia sản số tích hợp), đồng thời liên tục cải tiến sản phẩm, dịch vụ và quy trình vận hành. Song song đó, ngân hàng chủ động thực hiện tái cơ cấu theo đúng định hướng và tiến độ trong phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt, với tầm nhìn đến năm 2030.

Mới đây, ngân hàng cũng được cơ quan quản lý chấp thuận tăng vốn điều lệ lên trên 19.000 tỷ đồng và triển khai sớm hơn kế hoạch đề ra trong phương án cơ cấu. Điều này giúp ngân hàng nâng cao năng lực tài chính, bổ sung nguồn vốn dài hạn ổn định để mở rộng hoạt động kinh doanh trong thời gian tới.

Một số ngân hàng khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng rất ấn tượng như ABBank tăng 219,4%, SSB tăng 80,8%, KienlongBank tăng 67%.

Trong nhóm ngân hàng lớn, nhiều đơn vị đều ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận hai chữ số. Theo đó, "ông lớn" Vietinbank tăng 46%; Sacombank tăng 37,2%; SHB và VPBank tăng lần lượt 29,6% và 29,5%.

Nhóm ngân hàng giữ đà tăng trưởng nhẹ so với cùng kỳ như: Vietcombank tăng 5,1%; LPBank tăng 4,1%; BIDV tăng 3,1%; ACB nhích tăng 1,9%...

Ở chiều ngược lại, có 4/27 nhà băng ghi nhận sụt giảm lợi nhuận trong nửa đầu năm 2025. Trong số đó, BVBank giảm sâu nhất, tới 38,8%. Nguyên nhân chủ yếu khiến lợi nhuận của BVBank giảm là do thu nhập từ các hoạt động ngoài lãi đều đi xuống, thậm chí có khoản bị lỗ so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, hoạt động dịch vụ ghi nhận lỗ 4 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ lãi 23 tỷ đồng. Lãi từ hoạt động kinh doanh khác cũng giảm 28%, chỉ còn 23 tỷ đồng. Tổng thu nhập ngoài lãi của ngân hàng đạt 92,1 tỷ đồng, giảm 34,2% so với cùng kỳ. Trong khi đó, chi phí hoạt động lại tăng 17%, càng gây áp lực lên lợi nhuận trước thuế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/8: Vàng thế giới và trong nước đều tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 10 USD/ounce, lên 4.376 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng trở lại song mức tăng không lớn.
Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

Bảo hiểm PVI vào danh sách đề cử chung kết AIIA 2026, cùng nhóm với những tên tuổi bảo hiểm hàng đầu khu vực

(TBTCO) - Bảo hiểm PVI vừa được công bố lọt vào danh sách đề cử vòng chung kết hạng mục “General Insurance Company of the Year” - Doanh nghiệp Bảo hiểm Phi nhân thọ của năm tại Giải thưởng Asia Insurance Industry Awards (AIIA) 2026. Đáng chú ý, đại diện Việt Nam đứng cùng nhóm với nhiều thương hiệu bảo hiểm lớn tại khu vực như MSIG Insurance (Singapore) và Allianz Ayudhya.
Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/8: Giá vàng thế giới quay đầu giảm, thủng mốc 4.400 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 45 USD/ounce, lùi về mức 4.357 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tương đối ổn định, trong khi vàng nhẫn tại nhiều thương hiệu quay đầu giảm.
VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

VietBank chào bán cổ phiếu tỷ lệ 25%, huy động gần 3.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietBank dự kiến chào bán gần 296,15 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, tỷ lệ 25%, dự kiến huy động hơn 2.961 tỷ đồng để bổ sung nguồn vốn cấp tín dụng. Kế hoạch tăng vốn diễn ra trong bối cảnh dư nợ cho vay tăng 14%, lên gần 120.000 tỷ đồng cuối quý II/2026.
Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

Khó khăn trong tuyển dụng đại lý thách thức đà phục hồi của thị trường bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Số đại lý bảo hiểm nhân thọ tuyển mới trong 6 tháng đầu năm 2026 giảm hơn 20% so với cùng kỳ, trong khi tổng lực lượng đang hoạt động cũng giảm hơn 8%, đặt ra bài toán khó cho khả năng phục hồi của thị trường.
Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

Thông tư mới quy định loạt ngưỡng an toàn với quỹ tín dụng nhân dân từ ngày 1/11

(TBTCO) - Thông tư 40/2026/TT-NHNN có hiệu lực từ 1/11/2026 quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân. Theo đó, các quỹ phải duy trì tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8%, tỷ lệ khả năng chi trả tối thiểu 100% trong khoảng thời gian 7 ngày, đồng thời tổng mức nhận tiền gửi không được vượt quá 20 lần vốn chủ sở hữu.
Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

Tỷ giá USD hôm nay (13/8): USD diễn biến trái chiều, DXY nhích nhẹ dù lạm phát Mỹ hạ nhiệt diện rộng

(TBTCO) - Sáng 13/8, tỷ giá USD diễn biến trái chiều. Tỷ giá trung tâm tăng 27 đồng lên 25.566 đồng/USD, USD tự do tăng tới 200 đồng, lên 25.950 - 25.990 VND/USD, trong khi nhiều ngân hàng lại điều chỉnh giảm đáng kể. Trên thị trường quốc tế, DXY tăng 0,17% lên 99,85 điểm, dù tình hình lạm phát tại Mỹ hạ nhiệt, làm giảm kỳ vọng Fed mạnh tay tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,300 143,900
Hà Nội - PNJ 140,300 143,900
Đà Nẵng - PNJ 140,300 143,900
Miền Tây - PNJ 140,300 143,900
Tây Nguyên - PNJ 140,300 143,900
Đông Nam Bộ - PNJ 140,300 143,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,100 14,400
Miếng SJC Nghệ An 14,100 14,400
Miếng SJC Thái Bình 14,100 14,400
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,100 14,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,100 14,450
NL 99.99 13,450
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,350
Trang sức 99.9 13,760 14,360
Trang sức 99.99 13,770 14,370
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 141 14,402
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 141 14,403
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,405 1,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 141 144
Cập nhật: 16/08/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17974 18248 18841
CAD 18301 18577 19205
CHF 31497 31877 32523
CNY 0 3830 3940
EUR 29598 29819 30911
GBP 34560 34952 35905
HKD 0 3200 3403
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15684
SGD 19887 20169 20753
THB 704 767 821
USD (1,2) 25873 0 0
USD (5,10,20) 25913 0 0
USD (50,100) 25941 25975 26350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,930 25,930 26,310
USD(1-2-5) 24,893 - -
USD(10-20) 24,893 - -
EUR 29,562 29,586 30,985
JPY 159.47 159.76 169.42
GBP 34,638 34,732 35,931
AUD 18,119 18,184 18,877
CAD 18,443 18,502 19,184
CHF 31,692 31,791 32,730
SGD 19,988 20,050 20,834
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,261 3,271 3,408
KRW 16.97 17.7 19.27
THB 750.33 759.6 813.27
NZD 14,993 15,132 15,585
SEK - 2,691 2,786
DKK - 3,965 4,105
NOK - 2,711 2,806
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,976.7 - 6,745.55
TWD 736.75 - 892.53
SAR - 6,838.18 7,203.01
KWD - 82,726 88,021
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,530 29,649 30,841
GBP 34,573 34,712 35,743
HKD 3,255 3,268 3,385
CHF 31,499 31,625 32,544
JPY 159.61 160.25 168.19
AUD 18,064 18,137 18,733
SGD 20,017 20,097 20,691
THB 766 769 805
CAD 18,392 18,466 19,055
NZD 15,030 15,574
KRW 17.60 19.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25960 25960 26320
AUD 18139 18239 19164
CAD 18468 18568 19582
CHF 31745 31775 33356
CNY 3817.3 3842.3 3977.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29750 29780 31502
GBP 34849 34899 36652
HKD 0 3355 0
JPY 160.77 161.27 171.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15165 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20055 20185 20906
THB 0 733.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14030000 14030000 14330000
SBJ 12500000 12500000 14330000
Cập nhật: 16/08/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80