Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng niêm yết đạt hơn 82.500 tỷ đồng trong quý I/2025, tăng 14,5% cùng kỳ. Nhóm ngân hàng lớn giữ vững vị thế song cũng chứng kiến cuộc hoán đổi thứ hạng đáng kể, còn nhiều nhà băng nhỏ gây bất ngờ với mức tăng trưởng ngoạn mục.
aa
"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận năm 2024 "Cơn sóng" tăng vốn đổ bộ mùa đại hội cổ đông ngân hàng Công nghệ “lên ngôi”, nhân sự ngân hàng vào vòng xoáy tái cấu trúc

Thống kê của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư cho thấy, tất cả 27 ngân hàng niêm yết trên sàn đều đã công bố báo cáo tài chính quý I/2025, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 82.532,2 tỷ đồng, tăng 14,5% cùng kỳ; trong đó, có tới 22/27 ngân hàng giữ đà tăng trưởng.

Chuyển giao thứ hạng, nhiều ngân hàng tăng bứt phá

Trong bảng xếp hạng lợi nhuận các ngân hàng niêm yết quý I/2025, "ông lớn" Vietcombank tiếp tục giữ vững ngôi đầu, với lợi nhuận trước thuế đạt 10.859,9 tỷ đồng, tăng nhẹ 1,3% so với cùng kỳ 2024.

Chia sẻ tại Đại hội đồng cổ đông vừa được tổ chức, ông Lê Quang Vinh - Tổng Giám đốc Vietcombank cho biết, các chỉ tiêu kinh doanh trong quý I/2025 của ngân hàng đều tăng trưởng tốt. Trong quý đầu năm, ngân hàng ký kết nhiều hợp đồng tín dụng quan trọng, góp phần đảm bảo các chỉ tiêu tăng trưởng. Lợi nhuận tiếp tục tăng trưởng so với cùng kỳ, trong đó thu nhập ngoài lãi đóng góp lớn vào cơ cấu lợi nhuận chung.

MB vươn lên vị trí á quân, tăng 3 bậc so với cùng kỳ quý I/2024 nhờ lợi nhuận trước thuế tăng trưởng ấn tượng 44,7%, đạt 8.386,3 tỷ đồng, vượt qua cả BIDV (7.336 tỷ đồng, tăng 6,3%).

Cuộc hoán đổi thứ hạng các ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.

Trong top 10 ngân hàng dẫn đầu về lợi nhuận toàn ngành còn có sự góp mặt của: Techcombank (lợi nhuận trước thuế đạt 7.236,2 tỷ đồng; giảm 7,2% cùng kỳ; đứng thứ 4 toàn ngành và giảm 2 bậc về thứ hạng); VietinBank (lợi nhuận trước thuế đạt 6.823,2 tỷ đồng; tăng 9,9% cùng kỳ và giảm 1 bậc); HDBank (lãi trước thuế đạt 5.355,2 tỷ đồng; tăng mạnh 33% cùng kỳ và tăng 2 bậc).

VPBank giữ nguyên thứ hạng thứ 7, với lợi nhuận trước thuế hợp nhất đạt 5.015 tỷ đồng, cao hơn 20% cùng kỳ và bám sát kế hoạch lãi 1 tỷ USD. Trong đó, ngân hàng mẹ ghi nhận lợi nhuận 4.942 tỷ đồng; trong khi đó, các công ty con như: FE Credit và VPBankS tiếp tục đóng góp tích cực vào kết quả chung của tập đoàn.

ACB ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 4.597 tỷ đồng, giảm 6%. Đại diện ngân hàng cho biết, lợi nhuận giảm chủ yếu do ngân hàng chủ động thực hiện các chương trình ưu đãi lãi suất hỗ trợ khách hàng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Điểm danh những nhà băng tăng bứt phá ba chữ số

Trong khi các "ông lớn" vẫn duy trì vị thế dẫn đầu về quy mô lợi nhuận và thu nhập, nhiều ngân hàng nhỏ lại tạo bất ngờ với mức tăng trưởng bứt phá ngoạn mục. Đơn cử, NCB tăng tới 461,3%; VietABank tăng 238,4%; SeABank tăng 188,8%; ABBank tăng 116,2%...

Trong khi các "ông lớn" vẫn duy trì vị thế dẫn đầu về quy mô lợi nhuận và thu nhập, nhiều ngân hàng nhỏ lại tạo bất ngờ với mức tăng trưởng bứt phá ngoạn mục.

Đơn cử, NCB ghi nhận cú lội ngược dòng ấn tượng khi lợi nhuận đạt 151,4 tỷ đồng, nhờ đẩy mạnh hoạt động kinh doanh theo chiến lược mới song song với tích cực tái cơ cấu ngân hàng theo đúng lộ trình.

Bên cạnh đó, VietABank tăng 238,4%; SeABank tăng 188,8%. ABBank tăng 116,2% cũng nằm trong nhóm tăng trưởng ba chữ số. Theo lãnh đạo ABBank, quý đầu của năm 2025, ngân hàng có sự khởi sắc tốt so với năm trước và sẽ giữ nhịp độ tăng trưởng kết quả kinh doanh trong các quý tiếp theo. Trong đó, công tác chuyển đổi số được thực hiện mạnh mẽ hứa hẹn sẽ tiếp tục mang đến nhiều dịch vụ tiện ích mới.

Các nhà băng khác vẫn giữ nhịp tăng trưởng như: Sacombank tăng 38,4% trong quý I/2025, nhờ cả thu nhập lãi thuần và thu nhập ngoài lãi đều ghi nhận mức tăng trưởng, góp phần đưa tổng thu nhập hoạt động tăng 13,4%, đạt 7.796 tỷ đồng.

MSB ghi nhận tăng trưởng đồng đều ở cả thu nhập lãi thuần, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ và lãi thuần từ hoạt động kinh doanh khác trong quý I/2025. Với đà tăng tích cực này, ngân hàng đạt lợi nhuận trước thuế 1.630,8 tỷ đồng, tăng 6,6% cùng kỳ và kỳ vọng cả năm đạt 8.000 tỷ đồng, tương ứng mức tăng 16%.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng ghi nhận sự chững lại về lợi nhuận như: Techcombank lùi 7,2%; VIB giảm 3,2%; trong khi OCB giảm đến 26,5%; lợi nhuận PGBank giảm 17,3%.

Nhiều ngân hàng chuyển hướng, nguồn thu ngoài lãi vươn lên

Một trong những yếu tố đóng góp tích cực vào tăng trưởng lợi nhuận quý I/2025 là sự chuyển dịch trong cơ cấu thu nhập của nhiều ngân hàng. Tỷ trọng thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập hoạt động tại nhiều nhà băng ghi nhận xu hướng giảm rõ rệt, phản ánh nỗ lực giảm phụ thuộc vào tín dụng và đẩy mạnh các nguồn thu ngoài lãi như: dịch vụ, đầu tư, kinh doanh ngoại hối...

"Sao đổi ngôi" ngành ngân hàng trong bảng xếp hạng lợi nhuận quý I/2025
Nhiều ngân hàng đã có sự chuyển dịch cơ cấu về thu nhập. Ảnh: T.L
Các "ông lớn" ngân hàng quốc doanh đứng đầu toàn ngành về tổng thu nhập hoạt động (TOI) như: VietinBank, BIDV và Vietcombank đều ghi nhận sự cải thiện tích cực trong cơ cấu nguồn thu, thể hiện qua tỷ trọng thu nhập lãi thuần trên tổng thu nhập hoạt động giảm so với cùng kỳ năm trước.

Cụ thể, VietinBank có mức giảm mạnh nhất trong nhóm, với tỷ trọng thu nhập lãi thuần giảm 3,9 điểm phần trăm, xuống còn 75,7%. Vietcombank cũng giảm nhẹ 2,2% so với cùng kỳ.

Với BIDV, tỷ trọng thu nhập lãi thuần giảm 0,9%, về mức 77,9% nhờ thu nhập ngoài lãi ghi nhận mức tăng trưởng gần 9% cao hơn đà tăng 3% của thu nhập lãi thuần. Kết quả này chủ yếu đến từ hoạt động mua bán chứng khoán kinh doanh và các hoạt động kinh doanh khác diễn biến tích cực.

Còn dẫn đầu toàn ngành về mức cải thiện là SeABank, với tỷ trọng thu nhập lãi thuần giảm tới 31,9% xuống chỉ còn 42,1%. Lợi nhuận quý I tăng vọt chủ yếu nhờ khoản thu đột biến một phần từ việc hoàn tất thương vụ chuyển nhượng Công ty Tài chính Bưu điện (PTF) cho AEON Financial Service.

Ngoài ra, một số ngân hàng quy mô nhỏ như: Saigonbank, PGBank, BVBank vẫn duy trì tỷ trọng thu nhập lãi thuần ở mức cao (trên 90%), song bắt đầu có tín hiệu điều chỉnh tích cực, giảm phụ thuộc vào hoạt động tín dụng.

Ở chiều ngược lại, một số ngân hàng lại ghi nhận tỷ trọng thu nhập lãi thuần tăng lên, phản ánh sự phụ thuộc lớn hơn vào hoạt động cho vay, chẳng hạn như: VIB, TPBank, Nam A Bank, OCB, NCB, dù vậy, dư địa để cải thiện nguồn thu ngoài lãi vẫn còn lớn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

Giá vàng hôm nay ngày 13/8: Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong nước tăng theo

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng, vượt mốc 4.400 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng tăng tới 800.000 đồng/lượng và vàng nhẫn có nơi lên 146 triệu đồng/lượng.
DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

DatVietVAC kỳ vọng thành "kỳ lân" văn hóa, dàn nghệ sĩ góp mặt trong danh sách cổ đông trước thềm IPO

(TBTCO) - Trong chuỗi Roadshow công bố kế hoạch IPO, DatVietVAC đặt mục tiêu trở thành "kỳ lân" văn hóa, dựa trên hệ sinh thái truyền thông, giải trí và mô hình khai thác thương mại 360 độ. Doanh nghiệp dự kiến chào bán 11,15 triệu cổ phiếu, huy động khoảng 611 tỷ đồng. Sau một tuần, lượng cam kết mua đã đạt 65%, trong khi nhiều nghệ sĩ cũng là cổ đông.
Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

HDBank rộng dư địa tín dụng, cùng doanh nghiệp đón nhịp tăng trưởng mới cuối năm

(TBTCO) - Với dư địa tăng trưởng tín dụng lên tới 35%, thanh khoản thuận lợi, bộ đệm vốn cao cùng nguồn vốn quốc tế mở rộng, nửa cuối năm, HDBank có thêm dư địa đưa vốn vào sản xuất kinh doanh với chi phí hợp lý, đồng hành cùng doanh nghiệp trong nhịp tăng trưởng mới. Đây cũng là nền tảng để ngân hàng hướng tới mục tiêu lợi nhuận trước thuế 30.100 tỷ đồng, tăng 41%.
Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

Khảo sát Manulife Asia Care 2026: Người Việt ưu tiên sự độc lập về tài chính và không muốn trở thành gánh nặng khi về già

(TBTCO) - Tuổi thọ gia tăng không chỉ kéo dài cuộc sống, mà còn đặt ra những thách thức mới về sự phụ thuộc trong giai đoạn sau của cuộc đời. Kết quả Khảo sát Manulife Asia Care 2026 từ 1.000 người Việt Nam cho thấy một xu hướng đáng chú ý: việc duy trì cuộc sống độc lập và tự chủ khi về già đang trở thành ưu tiên hàng đầu của người Việt.
SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

SeABank được vinh danh trong 2 bảng xếp hạng uy tín

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) vừa được vinh danh tại Top 50 Công ty Đại chúng uy tín và hiệu quả năm 2026 (VIX50) và Top 10 Ngân hàng TMCP tư nhân uy tín năm 2026. Đây là năm thứ 4 liên tiếp SeABank được ghi nhận ở cả 2 bảng xếp hạng, tiếp tục khẳng định hiệu quả hoạt động, năng lực quản trị và uy tín thương hiệu trên thị trường.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Hà Nội - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đà Nẵng - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Miền Tây - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Tây Nguyên - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
Đông Nam Bộ - PNJ 140,600 ▲100K 144,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 14,430
Miếng SJC Nghệ An 14,130 14,430
Miếng SJC Thái Bình 14,130 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,120 ▼30K 14,470 ▼30K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,780 ▼30K 14,380 ▼30K
Trang sức 99.99 13,790 ▼30K 14,390 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 14,432
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 14,433
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 1,438
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 1,439
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 1,423
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 140,891
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 106,886
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 96,924
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 86,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 83,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 59,495
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 1,443
Cập nhật: 13/08/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17852 18126 18712
CAD 18166 18442 19061
CHF 31445 31824 32480
CNY 0 3830 3940
EUR 29436 29656 30737
GBP 34362 34754 35692
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14916 15509
SGD 19828 20109 20681
THB 702 765 819
USD (1,2) 25811 0 0
USD (5,10,20) 25851 0 0
USD (50,100) 25879 25913 26283
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,870 25,870 26,250
USD(1-2-5) 24,836 - -
USD(10-20) 24,836 - -
EUR 29,453 29,477 30,874
JPY 159.08 159.37 169
GBP 34,536 34,629 35,831
AUD 18,053 18,118 18,802
CAD 18,339 18,398 19,079
CHF 31,651 31,749 32,695
SGD 19,939 20,001 20,783
CNY - 3,790 3,935
HKD 3,253 3,263 3,400
KRW 17 17.73 19.29
THB 751.08 760.36 814.12
NZD 14,930 15,069 15,515
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,950 4,090
NOK - 2,697 2,793
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,962.14 - 6,730.99
TWD 730.5 - 884.99
SAR - 6,821.63 7,185.81
KWD - 82,534 87,820
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,840 25,870 26,250
EUR 29,488 29,606 30,796
GBP 34,551 34,690 35,722
HKD 3,253 3,266 3,383
CHF 31,511 31,638 32,557
JPY 159.56 160.20 168.14
AUD 18,049 18,121 18,716
SGD 20,011 20,091 20,685
THB 768 771 807
CAD 18,354 18,428 19,016
NZD 15,019 15,562
KRW 17.62 19.60
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25890 25890 26250
AUD 18041 18141 19064
CAD 18348 18448 19462
CHF 31689 31719 33300
CNY 3806.5 3831.5 3966.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29611 29641 31366
GBP 34658 34708 36469
HKD 0 3355 0
JPY 160.1 160.6 171.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2740 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19986 20116 20839
THB 0 731.5 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,863 25,913 26,250
USD20 25,813 25,913 26,794
USD1 25,763 25,913 26,844
AUD 18,051 18,151 19,255
EUR 29,343 29,443 31,101
CAD 18,260 18,360 19,664
SGD 20,032 20,182 20,736
JPY 160.33 161.83 167.38
GBP 34,519 34,669 35,850
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/08/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80