Mở rộng phạm vi chi trả bảo hiểm y tế:

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ

Hà My
(TBTCO) - Việc mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả bảo hiểm y tế là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro, đồng thời đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ Bảo hiểm y tế trong dài hạn.
aa

Ưu tiên sàng lọc và chăm sóc sức khỏe ban đầu

Bộ Y tế đang xây dựng và lấy ý kiến về dự thảo Nghị định quy định việc tăng mức hưởng và phạm vi hưởng bảo hiểm y tế (BHYT) theo lộ trình, đối tượng ưu tiên phù hợp với mức đóng và khả năng cân đối Quỹ BHYT.

Theo dự thảo, Nghị định gồm 4 chương, 10 điều, tập trung vào lộ trình tăng mức hưởng và mở rộng phạm vi hưởng BHYT gắn với mức đóng và các cơ chế hỗ trợ phù hợp. Một trong những nội dung trọng tâm là xây dựng lộ trình tăng mức hưởng BHYT đối với một số nhóm đối tượng ưu tiên. Cùng với đó, dự thảo đề xuất danh mục bệnh được khám sàng lọc, chẩn đoán và điều trị sớm thuộc phạm vi chi trả của Quỹ BHYT theo lộ trình.

Bảo đảm nguyên tắc đóng - hưởng và cân đối quỹ
Bệnh nhân khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, cơ sở Hoàng Mai. Ảnh minh họa: Luyện Vũ

Phạm vi chi trả của Quỹ BHYT cũng được định hướng mở rộng đối với khám sàng lọc, chẩn đoán và điều trị sớm một số bệnh thuộc danh mục; chi phí điều trị dinh dưỡng; một số dịch vụ phòng bệnh, quản lý bệnh mạn tính và khám sức khỏe định kỳ. Đáng chú ý, dự thảo còn đề cập việc ngân sách nhà nước chi cho khám sức khỏe định kỳ, khám sàng lọc, chẩn đoán và điều trị sớm một số bệnh.

Những đề xuất này cho thấy định hướng chuyển dịch chính sách BHYT từ trọng tâm “chữa bệnh” sang “phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu”. Việc Quỹ BHYT tham gia chi trả cho các hoạt động sàng lọc, phát hiện sớm và quản lý bệnh mạn tính được kỳ vọng giúp người dân tiếp cận dịch vụ y tế sớm hơn, qua đó nâng cao hiệu quả chăm sóc sức khỏe.

Một cấu phần khác của dự thảo là chính sách hỗ trợ mức đóng và hỗ trợ chi phí cùng chi trả cho một số nhóm đối tượng. Theo đó, ngân sách trung ương bảo đảm mức hỗ trợ tối thiểu đối với các nhóm cận nghèo, học sinh - sinh viên, hộ nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình. Đồng thời, dự thảo tạo điều kiện để địa phương và các nguồn lực xã hội tham gia hỗ trợ thêm, góp phần nâng cao tỷ lệ bao phủ BHYT.

Việc thiết kế cơ chế hỗ trợ mức đóng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh lộ trình tăng mức đóng được đặt ra song song với việc mở rộng quyền lợi. Với các nhóm có khả năng đóng góp hạn chế, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước và các nguồn lực khác sẽ giúp giảm tác động của việc điều chỉnh mức đóng, đồng thời duy trì khả năng tiếp cận chính sách BHYT. Dự thảo cũng đề cập cơ chế hỗ trợ chi phí đồng chi trả cho người tham gia BHYT, hướng tới tăng khả năng tiếp cận dịch vụ y tế của những nhóm còn khó khăn.

Tăng mức hưởng gắn với lộ trình tăng mức đóng

Việc mở rộng phạm vi chi trả đồng nghĩa với yêu cầu bổ sung nguồn lực tài chính. Vì vậy, dự thảo không chỉ đặt vấn đề tăng quyền lợi mà đồng thời tính toán lộ trình điều chỉnh mức đóng BHYT để bảo đảm cân đối Quỹ.

Theo Bộ Y tế, việc mở rộng danh mục và lộ trình thực hiện khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị sớm một số bệnh, cũng như tăng mức hưởng BHYT trong phạm vi được hưởng của người tham gia sẽ được tính toán đồng bộ với lộ trình điều chỉnh mức đóng BHYT.

Dự thảo đã đề xuất phương án tăng mức đóng phù hợp, nhằm hạn chế tối đa tác động lớn cùng một thời điểm đến các nhóm đối tượng tham gia BHYT. Đây là điểm đáng chú ý trong cách thiết kế chính sách. Thay vì mở rộng quyền lợi mà không tính toán nguồn lực bảo đảm, dự thảo đặt việc tăng mức hưởng trong mối quan hệ với mức đóng và khả năng cân đối Quỹ BHYT. Lộ trình thực hiện được tính toán để tránh tạo ra cú hích chi phí quá lớn đối với Quỹ cũng như tác động dồn vào người tham gia trong cùng một thời điểm.

Chia sẻ tại hội nghị lấy ý kiến về dự thảo nghị định mới đây, Thứ trưởng Thường trực Bộ Y tế Vũ Mạnh Hà cho biết, việc xây dựng Nghị định về lộ trình tăng mức hưởng, phạm vi hưởng BHYT gắn với điều chỉnh mức đóng và cân đối Quỹ là nhiệm vụ lớn, phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp hài hòa giữa chính sách an sinh xã hội và tính toán khoa học về tài chính - y tế.

Quan điểm được Bộ Y tế nhấn mạnh là mở rộng quyền lợi BHYT phải được thực hiện trên cơ sở hài hòa giữa mục tiêu an sinh xã hội và yêu cầu bảo đảm tính bền vững của Quỹ BHYT. Mỗi chính sách cần có lộ trình rõ ràng, đánh giá đầy đủ tác động và phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Theo đó, việc mở rộng danh mục và lộ trình thực hiện khám sàng lọc, chẩn đoán, điều trị sớm một số bệnh, tăng mức hưởng BHYT trong phạm vi được hưởng của người tham gia sẽ được cân đối với lộ trình tăng mức đóng BHYT.

Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu không chỉ tính toán người dân được hưởng thêm quyền lợi gì, mà còn phải xác định nguồn lực nào để bảo đảm quyền lợi đó. Khi phạm vi chi trả được mở rộng, chi phí của Quỹ có thể tăng lên; do đó, lộ trình điều chỉnh mức đóng, cơ chế hỗ trợ và các giải pháp kiểm soát chi phí sẽ trở thành những yếu tố quan trọng để bảo đảm chính sách có thể vận hành ổn định.

Dự thảo cũng đặt yêu cầu tăng cường quản lý, phân tích và dự báo chi phí, kiểm soát lạm dụng, trục lợi Quỹ BHYT. Đây được xem là một trong những giải pháp để tạo thêm dư địa cho việc mở rộng quyền lợi mà không gây áp lực quá lớn lên cân đối Quỹ.

Cho ý kiến về dự thảo Nghị định này, Phó Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam Nguyễn Đức Hòa nhấn mạnh, mở rộng mức hưởng và phạm vi chi trả BHYT là yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao quyền lợi cho người tham gia. Tuy nhiên, quá trình triển khai cần bám sát nguyên tắc đóng - hưởng, chia sẻ rủi ro và đặc biệt chú trọng bảo đảm cân đối Quỹ BHYT trong dài hạn.

Theo ông Nguyễn Đức Hòa, việc xây dựng và khai thác hiệu quả nền tảng dữ liệu lớn phục vụ quản lý, phân tích và dự báo chi phí có ý nghĩa quan trọng. Đây là cơ sở để hoạch định lộ trình điều chỉnh chính sách theo hướng khoa học, minh bạch và khả thi. Cùng với mở rộng quyền lợi, cần tiếp tục tăng cường các giải pháp kiểm soát chi phí, ngăn ngừa lạm dụng, trục lợi Quỹ BHYT và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, bảo đảm tốt hơn quyền lợi của người tham gia.

Các mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế từ ngân sách nhà nước

Hiện tại, mức đóng bảo hiểm y tế (BHYT) được quy định bằng 4,5% mức lương cơ sở. Mức hỗ trợ đóng BHYT từ ngân sách nhà nước cho các nhóm đối tượng cụ thể như sau:

- Hỗ trợ 100% mức đóng cho: người có công với cách mạng, cựu chiến binh, thân nhân người có công; Người thuộc hộ gia đình nghèo, người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng khó khăn/đặc biệt khó khăn; Trẻ em dưới 6 tuổi, người hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng, người cao tuổi thuộc diện quy định.

- Hỗ trợ tối thiểu 70% mức đóng cho: Người thuộc hộ gia đình cận nghèo; Người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại các xã không còn thuộc vùng khó khăn.

- Hỗ trợ tối thiểu 50% mức đóng cho học sinh, sinh viên.

- Hỗ trợ tối thiểu 30% mức đóng cho người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình.

Hà My

Đọc thêm

Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn

Tỷ lệ tín dụng/GDP vẫn leo dốc, yêu cầu nâng "chất" và điều hướng dòng vốn

(TBTCO) - Tín dụng/GDP của Việt Nam dự báo tiếp tục leo dốc, lên 155% năm 2026, gia tăng áp lực khi tín dụng đã ở nền cao. Trong khi dòng vốn vẫn tìm về "chỗ trũng", yêu cầu điều hướng tín dụng, nâng chất lượng tín dụng và tăng cường kiểm soát rủi ro ngày càng được đặt ra rõ nét.
Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

Tỷ giá USD hôm nay (12/8): Tỷ giá trung tâm tăng lên 25.539 đồng, giá dầu tăng kỳ vọng Fed thắt chặt trở lại

(TBTCO) - Sáng 12/8, tỷ giá trung tâm tăng 23 đồng lên 25.539 đồng, trong khi tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng vẫn chưa dứt xu hướng điều chỉnh giảm. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY nhích 0,02% lên 99,84 điểm, giá dầu tăng khơi lại lo ngại lạm phát, đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ đi lên và gia tăng kỳ vọng Fed tiếp tục thắt chặt, trái chiều với tín hiệu từ báo cáo việc làm yếu.
Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

Nhiều nguyên do gốc rễ chưa được tháo gỡ, lãi suất "hạ nhịp" nhưng dễ đảo chiều

(TBTCO) - Lãi suất huy động bắt đầu xuất hiện những nhịp giảm tại một số ngân hàng, trong khi lãi suất cho vay cũng được điều chỉnh để hỗ trợ khách hàng. Tuy nhiên, nếu chưa xử lý được những vấn đề gốc rễ, dư địa giảm sẽ không lớn, khó đồng đều và khó tạo thành nhịp giảm sâu.
VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

VIB chốt ngày chia cổ phiếu thưởng 9,5%, tiếp đà tăng vốn khi dư nợ cho vay tiến sát 400.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VIB sẽ chốt danh sách cổ đông nhận cổ phiếu thưởng với tỷ lệ 9,5% vào ngày 11/9, tổng giá trị phát hành 3.233,8 tỷ đồng, đưa vốn điều lệ lên gần 37.274 tỷ đồng. Việc tăng vốn diễn ra trong bối cảnh quy mô cho vay khách hàng của VIB đã tiến sát 400.000 tỷ đồng, nhằm tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng và hoạt động kinh doanh.
Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng không chỉ số hóa, mà phải thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

(TBTCO) - Với dữ liệu dẫn lối, trí tuệ nhân tạo (AI) đồng hành và trở thành năng lực mới, cốt lõi của ngân hàng số, đích đến là phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn, song hành với yêu cầu ngày càng cao về an toàn, bảo mật và phòng chống gian lận.
NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

NCB đồng loạt giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay từ ngày 11/8, ưu tiên vốn cho các động lực tăng trưởng

(TBTCO) - Từ ngày 11/8, NCB giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Sau điều chỉnh, lãi suất cho vay cá nhân từ 8,49%/năm; doanh nghiệp nhỏ và vừa từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. Việc giảm chi phí vốn được kỳ vọng giúp doanh nghiệp chủ động hơn về nguồn lực tài chính, duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh.
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

Ngân hàng Nhà nước yêu cầu bố trí vốn, cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay với lãi suất thấp hơn bình quân ít nhất 1%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề nghị các ngân hàng thương mại bố trí nguồn lực, từ tháng 8/2026 triển khai chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế, doanh nghiệp nhỏ và vừa. Lãi suất cho vay bằng VND phải thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn của chính ngân hàng, đồng thời thực hiện miễn, giảm phí cho khách hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
Hà Nội - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
Miền Tây - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 ▲1000K 144,200 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲50K 14,430 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲50K 14,430 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲50K 14,430 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,150 ▲70K 14,500 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,150 ▲70K 14,500 ▲120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,150 ▲70K 14,500 ▲120K
NL 99.99 13,500
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400
Trang sức 99.9 13,810 ▲120K 14,410 ▲120K
Trang sức 99.99 13,820 ▲120K 14,420 ▲120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲8K 14,432 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲8K 14,433 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲1268K 1,439 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1241K 1,423 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲792K 140,891 ▲792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲600K 106,886 ▲600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲78466K 96,924 ▲87286K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲488K 86,962 ▲488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲466K 83,119 ▲466K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲334K 59,495 ▲334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲8K 1,443 ▲8K
Cập nhật: 12/08/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17866 18140 18724
CAD 18186 18462 19081
CHF 31444 31823 32470
CNY 0 3830 3940
EUR 29451 29672 30755
GBP 34420 34811 35749
HKD 0 3192 3395
JPY 156 160 167
KRW 0 17 19
NZD 0 14972 15562
SGD 19826 20108 20678
THB 703 766 820
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26265
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,940 25,940 26,320
USD(1-2-5) 24,903 - -
USD(10-20) 24,903 - -
EUR 29,553 29,577 30,978
JPY 159.49 159.78 169.42
GBP 34,654 34,748 35,942
AUD 18,110 18,175 18,868
CAD 18,410 18,469 19,152
CHF 31,791 31,890 32,835
SGD 19,983 20,045 20,831
CNY - 3,799 3,944
HKD 3,263 3,273 3,410
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 751.3 760.58 814.32
NZD 15,014 15,153 15,604
SEK - 2,696 2,791
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,705 2,801
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,965.86 - 6,734.91
TWD 732.39 - 886.69
SAR - 6,837.9 7,206.7
KWD - 82,784 88,083
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,900 25,940 26,320
EUR 29,593 29,712 30,904
GBP 34,665 34,804 35,836
HKD 3,262 3,275 3,392
CHF 31,652 31,779 32,703
JPY 159.96 160.60 168.48
AUD 18,110 18,183 18,779
SGD 20,057 20,138 20,733
THB 768 771 807
CAD 18,426 18,500 19,090
NZD 15,106 15,651
KRW 17.68 19.67
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25870 25870 26290
AUD 18055 18155 19080
CAD 18362 18462 19476
CHF 31698 31728 33306
CNY 3804.8 3829.8 3965.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29630 29660 31386
GBP 34719 34769 36527
HKD 0 3355 0
JPY 160.08 160.58 171.13
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15094 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 19978 20108 20832
THB 0 732.2 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 14130000 14130000 14430000
SBJ 12500000 12500000 14430000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,951 26,001 26,330
USD20 25,901 26,001 26,765
USD1 25,851 26,001 26,815
AUD 18,134 18,234 19,341
EUR 29,478 29,578 31,237
CAD 18,353 18,453 19,756
SGD 20,096 20,246 20,801
JPY 160.89 162.39 167.95
GBP 34,674 34,824 36,150
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/08/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80