Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

(TBTCO) - VPBankS dự báo, tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể tăng 16,5%, vượt mục tiêu 15% của Ngân hàng Nhà nước. Thanh khoản cải thiện tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc, song huy động vẫn chưa bắt kịp, khiến lãi suất khó giảm mạnh.
aa

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa “cuộc đua” lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn “đổi ngôi” ngoạn mục Nợ xấu tăng nhanh, “bộ đệm” dự phòng chịu sức ép

Thanh khoản cải thiện nhưng chưa đủ kéo giảm chi phí vốn

Tại báo cáo chiến lược mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán VPBank (VPBankS) đánh giá, tín dụng có triển vọng tăng tốc cuối năm, tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên.

Tăng trưởng tín dụng dù hạ nhiệt so với nền cao của năm 2025, nhưng vẫn cao hơn cùng kỳ năm 2024. Diễn biến này phản ánh sức hấp thụ vốn của nền kinh tế vẫn duy trì tích cực, bất chấp mặt bằng lãi suất tăng trong nửa đầu năm.

Nhóm phân tích của VPBankS dự báo, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 có thể đạt 16,5%, cao hơn mục tiêu 15% mà Ngân hàng Nhà nước đặt ra, chủ yếu do dư địa tín dụng được mở rộng nhờ cơ chế loại trừ hạn mức đối với các dự án trọng điểm; chính sách hỗ trợ ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn.

Cùng với đó, thanh khoản cải thiện trong nửa cuối năm, tạo nền tảng cho tín dụng tăng tốc. VPBankS kỳ vọng, nguồn vốn hệ thống ngân hàng sẽ cải thiện trong nửa cuối năm 2026, nhờ sự phục hồi của tiền gửi khách hàng, hỗ trợ từ chính sách và việc các ngân hàng chủ động đa dạng hóa kênh huy động.

Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện, lãi suất vẫn khó giảm mạnh

Nguồn vốn được cải thiện sẽ giúp giảm áp lực thanh khoản ngắn hạn, nhưng chưa đủ để tạo ra dư địa giảm chi phí vốn đáng kể.

VPBankS chỉ rõ, tiền gửi khách hàng phục hồi, nhưng cần thêm thời gian để bắt kịp tăng trưởng tín dụng. Tốc độ tăng trưởng huy động toàn ngành đã cải thiện từ mức 0,6% so với đầu năm trong quý I/2026 lên khoảng 5,02% tính đến ngày 26/6, cho thấy dòng tiền đang quay trở lại hệ thống ngân hàng.

“Diễn biến này được hỗ trợ bởi mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức đủ hấp dẫn đối với dòng tiền nhàn rỗi, trong khi các kênh đầu tư thay thế vẫn có mức độ phân hóa cao” - nhóm phân tích của VPBankS đánh giá.

Tuy nhiên, tăng trưởng huy động vẫn thấp hơn tăng trưởng tín dụng 7,41% cùng thời điểm, chênh lệch tín dụng - huy động vẫn còn hiện hữu. Vì vậy, lãi suất huy động khó giảm mạnh trong nửa cuối năm, đặc biệt ở các kỳ hạn trung và dài hạn.

Cùng với đó, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung - dài hạn từ 30% lên 40%, giúp các ngân hàng có thêm dư địa tài trợ các khoản vay kỳ hạn dài, cùng với quy định cho phép tính thêm 50% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào mẫu số tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi, hỗ trợ giảm áp lực kỹ thuật đối với một số ngân hàng mà tỷ lệ này đang ở mức cao.

Các chính sách nói trên không trực tiếp làm tăng nguồn vốn huy động, nhưng giúp hệ thống có thêm dư địa cân đối kỳ hạn và duy trì tăng trưởng tín dụng trong bối cảnh nhu cầu vốn cuối năm 2026 dự kiến cao hơn.

Bên cạnh đó, các ngân hàng tiếp tục đa dạng hóa nguồn vốn ngoài tiền gửi khách hàng. Ngoài tiền gửi dân cư và doanh nghiệp, các ngân hàng đang bổ sung nguồn vốn thông qua giấy tờ có giá, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân hàng và các khoản vay trung - dài hạn. Nhiều ngân hàng cũng chủ động tìm kiếm các khoản vay trung - dài hạn từ thị trường quốc tế. Đây là các kênh bổ sung cần thiết nhằm chuẩn bị cho nhu cầu tín dụng tăng trong nửa cuối năm, đặc biệt ở các khoản vay trung dài hạn.

Nhóm ngân hàng có nền tảng tốt và nhóm đón dư địa tăng trưởng

Từ những phân tích trên, nhóm phân tích của VPBankS đánh giá cao những ngân hàng có nền tảng tốt, rủi ro thấp và định giá còn hợp lý, điển hình như Vietcombank và ACB.

Trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) phục hồi không đồng đều, tín dụng tăng tốc, nhưng áp lực nợ xấu vẫn cần theo dõi, VPBankS ưu tiên nhóm ngân hàng có nền tảng hoạt động ổn định, chất lượng tài sản tốt và định giá chưa phản ánh đầy đủ lợi thế cơ bản.

Các yếu tố chính để lựa chọn nhóm này gồm: chất lượng tài sản tốt, thể hiện qua tỷ lệ nợ xấu thấp và bộ đệm dự phòng cao; nền vốn ổn định, chi phí vốn hợp lý và ít phụ thuộc vào các kênh huy động chi phí cao; tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu duy trì ở mức bằng hoặc cao hơn bình quân ngành; định giá giá cổ phiếu trên giá trị sổ sách còn chiết khấu so với vùng lịch sử hoặc chưa phản ánh đầy đủ chất lượng lợi nhuận.

Theo VPBankS, Vietcombank phù hợp với nhóm phòng thủ nhờ chất lượng tài sản đầu ngành, nền tiền gửi lớn và khả năng duy trì chi phí vốn hợp lý.

Còn ACB là đại diện phòng thủ trong nhóm ngân hàng tư nhân nhờ danh mục tín dụng thận trọng, chất lượng tài sản ổn định và định giá ở vùng tương đối hấp dẫn.

hoạt động giao dịch tại các ngân hàng thương mại ảnh Đức Thanh
Tín dụng có thể vượt mục tiêu lên 16,5% nhờ thanh khoản cải thiện. Ảnh: Đức Thanh.

Bên cạnh đó, VPBankS cũng lựa chọn ngân hàng có động lực tăng trưởng riêng và khả năng mở rộng tín dụng tốt hơn, mở rộng quy mô tài sản sinh lãi và tận dụng các thay đổi chính sách để cải thiện triển vọng kinh doanh.

Các động lực chính bao gồm: nhóm này có địa tăng trưởng tín dụng cao hơn mặt bằng chung; khả năng tham gia tài trợ các khoản vay trung - dài hạn hoặc dự án quy mô lớn nhờ nền vốn và năng lực quản trị rủi ro; tăng trưởng nhu cầu vay từ nhóm khách hàng doanh nghiệp, hạ tầng, sản xuất và tiêu dùng; năng lực bổ sung vốn, bao gồm phát hành giấy tờ có giá, trái phiếu, vốn cấp 2 hoặc tăng vốn chủ sở hữu.

Trong nhóm này, VPBank duy trì tăng trưởng rõ nhờ dư địa tín dụng cao, hệ sinh thái tài chính mở rộng và khả năng tiếp tục duy trì tăng trưởng lợi nhuận trên nền cao của năm 2025.

Kết quả kinh doanh quý II/2026 cho thấy động lực tăng trưởng của VPBank vẫn tích cực, với lợi nhuận được hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng mạnh, đóng góp tốt hơn từ các công ty con và khả năng đa dạng hóa nguồn vốn.

Trong khi đó, Techcombank phù hợp với chiến lược tăng trưởng dài hạn hơn nhờ năng lực mở rộng tín dụng doanh nghiệp, nền tiền gửi không kỳ hạn tốt và hệ sinh thái dịch vụ tài chính hỗ trợ thu nhập ngoài lãi.

Kết quả kinh doanh quý II/2026 cũng phản ánh rõ, tín dụng của Techcombank tăng nhanh hơn mặt bằng chung, trong khi chất lượng tài sản vẫn được kiểm soát.

Tuy nhiên, với nhóm này, rủi ro cần theo dõi là áp lực NIM, chất lượng tài sản và nhu cầu bổ sung vốn nếu tín dụng tăng nhanh./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank chốt ngày 7/10/2026 để cổ đông thực hiện quyền mua 150 triệu cổ phiếu đợt 1 với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, với tỷ lệ 20,472%. Đây là bước đầu trong kế hoạch phát hành hơn 267 triệu cổ phiếu, qua đó, đưa vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng, hiện thực hóa mục tiêu ngân hàng theo đuổi nhiều năm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 27/09/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 27/09/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30