Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa “cuộc đua” lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

Lãi suất qua đêm tăng sốc từ 0,75% lên gần 6%, bơm ròng hạ nhiệt thanh khoản

Trên kênh thị trường mở (OMO) tuần qua, từ ngày 3 - 7/8, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết thanh khoản theo hướng bơm ròng.

Cụ thể, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 76.040,07 tỷ đồng, ở đa dạng kỳ hạn 7 ngày, 42 ngày, 63 ngày và 91 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn thấp hơn, đạt 51.313,34 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng ra thị trường thông qua kênh OMO, tiếp nối đà bơm ròng tuần trước. Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt 197.257,09 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Trên thị trường liên ngân hàng, thanh khoản có diễn biến đáng chú ý khi lãi suất qua đêm chốt phiên ngày 6/8 giảm còn 4,6%/năm, thấp hơn 1,12 điểm phần trăm so với cuối tuần trước.

Các kỳ hạn dài hơn cũng đồng loạt hạ nhiệt. Lãi suất kỳ hạn 2 tuần giảm 0,09 điểm phần trăm xuống 5,9%/năm; kỳ hạn 1 tháng giảm 0,03 điểm phần trăm xuống 6,9%/năm và kỳ hạn 3 tháng giảm 0,31 điểm phần trăm xuống 7,00%/năm. Riêng kỳ hạn 1 tuần tăng 0,37 điểm phần trăm, lên 5,2%/năm.

Về thanh khoản giao dịch, doanh số giao dịch qua đêm trên thị trường liên ngân hàng chốt ngày 5/8 đạt 878.722 tỷ đồng, giảm 204.383 tỷ đồng so với phiên cuối tuần trước (tại ngày 31/7 đạt 1.083.105 tỷ đồng), cho thấy nhu cầu vay mượn vốn ngắn hạn đã hạ nhiệt đáng kể.

Diễn biến này trái ngược với phiên cuối tháng 7, khi thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng bất ngờ căng thẳng, lãi suất tăng vọt chỉ trong một phiên sau nhiều phiên duy trì ở mức thấp.

Khi đó, lãi suất qua đêm bật tăng mạnh lên 5,72%/năm từ mức chỉ 0,75%/năm của ngày trước đó, đồng thời, doanh số giao dịch qua đêm vượt 1 triệu tỷ đồng, phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn tăng đột biến.

Bước sang tuần đầu tháng 8, việc Ngân hàng Nhà nước duy trì bơm ròng qua OMO đã góp phần ổn định thanh khoản hệ thống, giúp mặt bằng lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt trở lại.

“Với quyết định tăng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại ngân hàng thương mại khi tính chỉ số LDR có thể tác động tích cực đối với xu hướng của lãi suất trên thị trường 1, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, lãi suất huy động và cho vay sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong quý III/2026” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

Tại báo cáo chiến lược tháng 8/2026 mới phát hành, Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI Research) cho biết, tăng trưởng tín dụng vẫn mạnh và ngân hàng vẫn còn khả năng cho vay, nhưng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng vẫn quanh 7%.

Cùng với đó, cạnh tranh huy động tiếp diễn, nhu cầu vốn kỳ hạn dài hơn tăng lên và tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn tiền gửi.

“Nguồn vốn sẵn có hơn, nhưng chưa thật sự dồi dào” - SSI Research đánh giá.

Hơn nữa, theo SSI Research, chính sách đang hỗ trợ hệ thống ngân hàng chủ yếu thông qua nới một số quy định an toàn, thay vì cắt giảm lãi suất. Tuy nhiên, biện pháp liên quan đến tiền gửi Kho bạc cần được nhìn nhận đúng bản chất.

“Đây là hỗ trợ tạm thời, có thời hạn, chủ yếu tác động đến các ngân hàng thương mại nhà nước đang nắm gần như toàn bộ khoản tiền gửi này và ở gần ngưỡng quy định nhất. Biện pháp này chỉ nới một phần ràng buộc cho một nhóm ngân hàng cụ thể, không phải là tín hiệu nới lỏng vốn trên toàn hệ thống” - SSI Research lưu ý.

Đánh giá về quy định này, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc tại ngân hàng thương mại khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) từ 20% lên 50%, hiệu lực từ ngày 1/8/2026, giúp các ngân hàng thương mại có thêm dư địa mở rộng tín dụng khoảng 160 - 180 nghìn tỷ đồng, tương đương 6 - 6,5% tổng room tín dụng năm 2026.

“Đây là biện pháp kỹ thuật giúp hạ nhiệt căng thẳng thanh khoản hệ thống trong ngắn hạn, đặc biệt khi số thu ngân sách nửa đầu năm tăng mạnh và giải ngân đầu tư công thấp hơn kỳ vọng khiến tiền gửi Kho bạc Nhà nước neo ở mức cao” - Chứng khoán Yuanta nêu rõ.

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh lịch sử, song áp lực găm giữ USD giảm dần

Trên thị trường ngoại hối, trong tuần qua, diễn biến tỷ giá USD/VND tiếp tục phân hóa giữa tỷ giá điều hành và tỷ giá giao dịch trên thị trường.

Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng mạnh 125 đồng, lên 25.463 đồng trong phiên cuối tuần (ngày 7/8), mức điều chỉnh rất mạnh so với nhiều tháng gần đây và neo đỉnh lịch sử.

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Trong khi đó, tỷ giá USD đồng loạt giảm tại nhiều nhà băng lớn. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD giảm 80 đồng ở cả hai chiều, xuống còn 26.000 - 26.410 VND/USD. Tại BIDV, tỷ giá USD cũng giảm 65 đồng, xuống 26.025 - 26.405 VND/USD.

Ở thị trường tự do, tỷ giá USD giảm mạnh hơn, với mức giảm tới 180 đồng, xuống còn 26.070 - 26.100 VND/USD, mạnh hơn nhiều so với mức giảm 80 đồng của tuần trước. Đà giảm sâu của tỷ giá trên thị trường tự do cũng khiến chênh lệch giữa thị trường tự do và ngân hàng thương mại thu hẹp đáng kể.

Theo Chứng khoán Yuanta, việc tỷ giá ngân hàng giảm, dù tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng cho thấy, cung - cầu ngoại tệ trong hệ thống tương đối thuận lợi và áp lực nắm giữ USD ngoài thị trường đã hạ nhiệt, trong bối cảnh giá vàng trong nước thấp hơn so với giá vàng thế giới.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tăng 0,28% lên 99,69 điểm.

Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS) sắp công bố báo cáo việc làm tháng 7, bao gồm dữ liệu Bảng lương phi nông nghiệp. Đây được xem là một trong những dữ liệu kinh tế quan trọng nhất đối với thị trường tài chính.

Trong bối cảnh nhà đầu tư giảm bớt kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào tháng 9 do áp lực lạm phát hạ nhiệt, kết quả báo cáo việc làm, đặc biệt là số lượng việc làm mới, tỷ lệ thất nghiệp và tăng trưởng tiền lương, sẽ có ảnh hưởng lớn đến kỳ vọng về lộ trình chính sách tiền tệ của Fed.

Qua đó, dữ liệu này cũng có thể tác động mạnh đến diễn biến của đồng USD và các thị trường tài chính toàn cầu./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 9/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 16/9 cho thấy, lãi suất huy động chưa giảm rõ nét, chiều tăng lại nhỉnh hơn, trong khi lãi suất thực tế kỳ hạn 12 tháng lên tới 8,8 - 9,5%/năm. Không chỉ cạnh tranh lãi suất, các ngân hàng tung nhiều “chiêu” hút tiền gửi, trong bối cảnh áp lực cân đối nguồn vốn, đặc biệt là vốn dài hạn, khiến lãi suất khó giảm.
Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

Thị trường tiền tệ tuần 7 - 11/9: USD hạ sâu, hút ròng mạnh 33.000 tỷ đồng nhưng lãi suất qua đêm vẫn dưới 2%

(TBTCO) - Tỷ giá trung tâm giảm tuần thứ hai, USD ngân hàng hạ sâu, song sự “im lặng” của Fed khiến triển vọng lãi suất khó đoán. Dù Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 33.000 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm giảm mạnh về 1,68%/năm, song áp lực nguồn vốn kỳ hạn dài vẫn hiện hữu.
UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

CPI Mỹ tháng 8 công bố ngày 11/9 được dự báo tác động lớn đến kỳ vọng lãi suất trước cuộc họp FOMC tháng 9. Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất hết năm 2026, khi áp lực lạm phát mang tính tạm thời và dự báo chỉ số DXY trên đà giảm về 95 điểm.
Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng 60,2 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, khi nhu cầu vốn ngắn hạn tăng. Cùng với các điều chỉnh về LDR, cơ cấu nguồn vốn và tiền gửi Kho bạc Nhà nước, cơ chế tái cấp vốn dự kiến tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn huy động.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,100 ▼500K 146,100 ▼500K
Hà Nội - PNJ 143,100 ▼500K 146,100 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 143,100 ▼500K 146,100 ▼500K
Miền Tây - PNJ 143,100 ▼500K 146,100 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 143,100 ▼500K 146,100 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,100 ▼500K 146,100 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,310 ▼50K 14,610 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,310 ▼50K 14,610 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,310 ▼50K 14,610 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,260 ▼50K 14,610 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,260 ▼50K 14,610 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,260 ▼50K 14,610 ▼50K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,920 ▼50K 14,520 ▼50K
Trang sức 99.99 13,930 ▼50K 14,530 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,431 ▼5K 14,612 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,431 ▼5K 14,613 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,426 ▼5K 1,456 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,426 ▼5K 1,457 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,401 ▼5K 1,446 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▼495K 143,168 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,811 ▼375K 108,611 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,688 ▼340K 98,488 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,565 ▲70678K 88,365 ▲79498K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,466 ▼67486K 8,446 ▼76306K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,654 ▼209K 60,454 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,431 ▼5K 1,461 ▼5K
Cập nhật: 22/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17978 18252 18833
CAD 18008 18283 18899
CHF 31049 31427 32076
CNY 0 3842 3938
EUR 29210 29429 30506
GBP 33993 34383 35315
HKD 0 3186 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14599 15187
SGD 19850 20132 20699
THB 698 761 814
USD (1,2) 25755 0 0
USD (5,10,20) 25794 0 0
USD (50,100) 25822 25836 26202
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,252 29,275 30,661
JPY 160.8 161.09 170.82
GBP 34,163 34,255 35,442
AUD 18,176 18,242 18,931
CAD 18,191 18,249 18,923
CHF 31,306 31,403 32,331
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,811 3,957
HKD 3,249 3,259 3,396
KRW 17.61 18.37 20
THB 746.77 755.99 808.96
NZD 14,510 14,645 15,084
SEK - 2,598 2,692
DKK - 3,923 4,062
NOK - 2,709 2,805
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 741.52 - 898.38
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26200
AUD 18173 18273 19204
CAD 18188 18288 19302
CHF 31291 31321 32903
CNY 3825 3850 3985.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29386 29416 31138
GBP 34288 34338 36096
HKD 0 3305 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14653 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20009 20139 20860
THB 0 727.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14300000 14300000 14600000
SBJ 13000000 13000000 14600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,725 25,845 26,210
USD20 25,695 25,845 26,210
USD1 25,675 25,845 26,210
AUD 18,230 18,330 19,435
EUR 29,200 29,300 30,956
CAD 18,141 18,241 19,547
SGD 20,096 20,246 20,800
JPY 162.19 163.69 169.25
GBP 34,205 34,355 35,428
XAU 14,308,000 0 14,612,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/09/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30