Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 3 - 7/8) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng qua kênh OMO, góp phần hạ nhiệt thanh khoản sau cú tăng sốc của lãi suất qua đêm từ 0,75% lên 5,72%/năm cuối tháng 7. Cùng việc nới quy định tính LDR, áp lực thanh khoản ngắn hạn dịu bớt. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm tăng mạnh 125 đồng, lên kỷ lục 25.463 đồng.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa “cuộc đua” lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất MBS dự báo tỷ giá USD/VND có thể hướng mốc 27.000 đồng cuối năm 2026

Lãi suất qua đêm tăng sốc từ 0,75% lên gần 6%, bơm ròng hạ nhiệt thanh khoản

Trên kênh thị trường mở (OMO) tuần qua, từ ngày 3 - 7/8, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều tiết thanh khoản theo hướng bơm ròng.

Cụ thể, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 76.040,07 tỷ đồng, ở đa dạng kỳ hạn 7 ngày, 42 ngày, 63 ngày và 91 ngày, với lãi suất giữ nguyên 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn thấp hơn, đạt 51.313,34 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng 24.726,73 tỷ đồng ra thị trường thông qua kênh OMO, tiếp nối đà bơm ròng tuần trước. Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh thị trường mở đạt 197.257,09 tỷ đồng.

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Trên thị trường liên ngân hàng, thanh khoản có diễn biến đáng chú ý khi lãi suất qua đêm chốt phiên ngày 6/8 giảm còn 4,6%/năm, thấp hơn 1,12 điểm phần trăm so với cuối tuần trước.

Các kỳ hạn dài hơn cũng đồng loạt hạ nhiệt. Lãi suất kỳ hạn 2 tuần giảm 0,09 điểm phần trăm xuống 5,9%/năm; kỳ hạn 1 tháng giảm 0,03 điểm phần trăm xuống 6,9%/năm và kỳ hạn 3 tháng giảm 0,31 điểm phần trăm xuống 7,00%/năm. Riêng kỳ hạn 1 tuần tăng 0,37 điểm phần trăm, lên 5,2%/năm.

Về thanh khoản giao dịch, doanh số giao dịch qua đêm trên thị trường liên ngân hàng chốt ngày 5/8 đạt 878.722 tỷ đồng, giảm 204.383 tỷ đồng so với phiên cuối tuần trước (tại ngày 31/7 đạt 1.083.105 tỷ đồng), cho thấy nhu cầu vay mượn vốn ngắn hạn đã hạ nhiệt đáng kể.

Diễn biến này trái ngược với phiên cuối tháng 7, khi thanh khoản trên thị trường liên ngân hàng bất ngờ căng thẳng, lãi suất tăng vọt chỉ trong một phiên sau nhiều phiên duy trì ở mức thấp.

Khi đó, lãi suất qua đêm bật tăng mạnh lên 5,72%/năm từ mức chỉ 0,75%/năm của ngày trước đó, đồng thời, doanh số giao dịch qua đêm vượt 1 triệu tỷ đồng, phản ánh nhu cầu vốn ngắn hạn tăng đột biến.

Bước sang tuần đầu tháng 8, việc Ngân hàng Nhà nước duy trì bơm ròng qua OMO đã góp phần ổn định thanh khoản hệ thống, giúp mặt bằng lãi suất liên ngân hàng hạ nhiệt trở lại.

“Với quyết định tăng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước tại ngân hàng thương mại khi tính chỉ số LDR có thể tác động tích cực đối với xu hướng của lãi suất trên thị trường 1, tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, lãi suất huy động và cho vay sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao trong quý III/2026” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

Tại báo cáo chiến lược tháng 8/2026 mới phát hành, Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI Research) cho biết, tăng trưởng tín dụng vẫn mạnh và ngân hàng vẫn còn khả năng cho vay, nhưng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 tháng vẫn quanh 7%.

Cùng với đó, cạnh tranh huy động tiếp diễn, nhu cầu vốn kỳ hạn dài hơn tăng lên và tín dụng tiếp tục tăng nhanh hơn tiền gửi.

“Nguồn vốn sẵn có hơn, nhưng chưa thật sự dồi dào” - SSI Research đánh giá.

Hơn nữa, theo SSI Research, chính sách đang hỗ trợ hệ thống ngân hàng chủ yếu thông qua nới một số quy định an toàn, thay vì cắt giảm lãi suất. Tuy nhiên, biện pháp liên quan đến tiền gửi Kho bạc cần được nhìn nhận đúng bản chất.

“Đây là hỗ trợ tạm thời, có thời hạn, chủ yếu tác động đến các ngân hàng thương mại nhà nước đang nắm gần như toàn bộ khoản tiền gửi này và ở gần ngưỡng quy định nhất. Biện pháp này chỉ nới một phần ràng buộc cho một nhóm ngân hàng cụ thể, không phải là tín hiệu nới lỏng vốn trên toàn hệ thống” - SSI Research lưu ý.

Đánh giá về quy định này, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta) cho rằng, Ngân hàng Nhà nước quyết định tăng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc tại ngân hàng thương mại khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) từ 20% lên 50%, hiệu lực từ ngày 1/8/2026, giúp các ngân hàng thương mại có thêm dư địa mở rộng tín dụng khoảng 160 - 180 nghìn tỷ đồng, tương đương 6 - 6,5% tổng room tín dụng năm 2026.

“Đây là biện pháp kỹ thuật giúp hạ nhiệt căng thẳng thanh khoản hệ thống trong ngắn hạn, đặc biệt khi số thu ngân sách nửa đầu năm tăng mạnh và giải ngân đầu tư công thấp hơn kỳ vọng khiến tiền gửi Kho bạc Nhà nước neo ở mức cao” - Chứng khoán Yuanta nêu rõ.

Tỷ giá trung tâm neo đỉnh lịch sử, song áp lực găm giữ USD giảm dần

Trên thị trường ngoại hối, trong tuần qua, diễn biến tỷ giá USD/VND tiếp tục phân hóa giữa tỷ giá điều hành và tỷ giá giao dịch trên thị trường.

Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố tăng mạnh 125 đồng, lên 25.463 đồng trong phiên cuối tuần (ngày 7/8), mức điều chỉnh rất mạnh so với nhiều tháng gần đây và neo đỉnh lịch sử.

Thị trường tiền tệ tuần 3 - 7/8: Bơm ròng gần 25.000 tỷ đồng qua kênh OMO, tỷ giá trung tâm tăng mạnh lên đỉnh lịch sử

Trong khi đó, tỷ giá USD đồng loạt giảm tại nhiều nhà băng lớn. Đơn cử, tại Vietcombank, tỷ giá USD giảm 80 đồng ở cả hai chiều, xuống còn 26.000 - 26.410 VND/USD. Tại BIDV, tỷ giá USD cũng giảm 65 đồng, xuống 26.025 - 26.405 VND/USD.

Ở thị trường tự do, tỷ giá USD giảm mạnh hơn, với mức giảm tới 180 đồng, xuống còn 26.070 - 26.100 VND/USD, mạnh hơn nhiều so với mức giảm 80 đồng của tuần trước. Đà giảm sâu của tỷ giá trên thị trường tự do cũng khiến chênh lệch giữa thị trường tự do và ngân hàng thương mại thu hẹp đáng kể.

Theo Chứng khoán Yuanta, việc tỷ giá ngân hàng giảm, dù tỷ giá trung tâm được điều chỉnh tăng cho thấy, cung - cầu ngoại tệ trong hệ thống tương đối thuận lợi và áp lực nắm giữ USD ngoài thị trường đã hạ nhiệt, trong bối cảnh giá vàng trong nước thấp hơn so với giá vàng thế giới.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - tăng 0,28% lên 99,69 điểm.

Cục Thống kê Lao động Mỹ (BLS) sắp công bố báo cáo việc làm tháng 7, bao gồm dữ liệu Bảng lương phi nông nghiệp. Đây được xem là một trong những dữ liệu kinh tế quan trọng nhất đối với thị trường tài chính.

Trong bối cảnh nhà đầu tư giảm bớt kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào tháng 9 do áp lực lạm phát hạ nhiệt, kết quả báo cáo việc làm, đặc biệt là số lượng việc làm mới, tỷ lệ thất nghiệp và tăng trưởng tiền lương, sẽ có ảnh hưởng lớn đến kỳ vọng về lộ trình chính sách tiền tệ của Fed.

Qua đó, dữ liệu này cũng có thể tác động mạnh đến diễn biến của đồng USD và các thị trường tài chính toàn cầu./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

Thị trường tiền tệ tuần 27 - 31/7: Nâng tỷ lệ tiền gửi Kho bạc lên 50% giải tỏa thanh khoản, lãi suất qua đêm lao dốc

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua (từ ngày 27 - 31/7) cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng hơn 12.300 tỷ đồng, cùng việc nâng tỷ lệ tính tiền gửi Kho bạc Nhà nước khi tính LDR lên 50% từ ngày 1/8, giúp thanh khoản hệ thống dồi dào. Trong khi đó, tỷ giá trung tâm lập đỉnh 25.338 đồng/USD, lãi suất qua đêm lao dốc mạnh.
Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

Chuyên gia SSI Research: Fed giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp, thị trường tiếp tục chờ tín hiệu mới

(TBTCO) - Trước quyết định giữ nguyên lãi suất lần thứ 5 liên tiếp của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), chuyên gia từ SSI Research nhận định, các quyết định chính sách của Fed trong thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào diễn biến dữ liệu kinh tế, trong khi khả năng tăng lãi suất từ nay đến cuối năm vẫn cần được theo dõi.
ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

ABIC hoàn thành 65% kế hoạch lợi nhuận sau 6 tháng, hưởng lợi từ lãi suất tiền gửi tăng

(TBTCO) - Bảo hiểm Agribank (ABIC) ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 227,7 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026, tăng 24,6% và hoàn thành 65% kế hoạch năm. Kết quả được hỗ trợ bởi phí bảo hiểm gốc tăng 8,2%, chi phí bồi thường được kiểm soát hiệu quả, cùng hoạt động đầu tư tài chính khởi sắc khi mặt bằng lãi suất tiền gửi cải thiện, góp phần gia tăng nguồn thu tài chính.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

Thị trường tiền tệ tuần 13 - 17/7: Hút ròng gần 20.000 tỷ đồng, tỷ giá trung tâm áp sát đỉnh lịch sử

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 13 - 17/7, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng hơn 19.921 tỷ đồng qua kênh thị trường mở (OMO), trong bối cảnh thanh khoản hệ thống cải thiện rõ sau thời điểm cuối quý, lãi suất qua đêm duy trì 4,16%/năm. Tỷ giá trung tâm tăng 10 tuần liên tiếp, sát đỉnh lịch sử, còn tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do hạ nhiệt.
Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 7/2026

(TBTCO) - Thời điểm hiện tại, dù lãi suất huy động được niêm yết cao nhất chỉ quanh 7%/năm, song nhiều ngân hàng "đua ngầm" cộng lãi, cộng thưởng, đưa lãi suất tiết kiệm ưu đãi lên tới 12%/năm. Nhiều ý kiến cho rằng, mặt bằng lãi suất đã gần đỉnh, nhưng khó giảm trong nửa cuối năm 2026.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 142,200
Hà Nội - PNJ 138,500 142,200
Đà Nẵng - PNJ 138,500 142,200
Miền Tây - PNJ 138,500 142,200
Tây Nguyên - PNJ 138,500 142,200
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 142,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,920 14,220
Miếng SJC Nghệ An 13,920 14,220
Miếng SJC Thái Bình 13,920 14,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,220
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,392 14,222
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,392 14,223
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,387 1,418
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Cập nhật: 08/08/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17898 18172 18751
CAD 18151 18427 19046
CHF 31682 32062 32714
CNY 0 3840 3940
EUR 29568 29789 30870
GBP 34398 34790 35728
HKD 0 3208 3411
JPY 158 162 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15058 15645
SGD 19908 20190 20760
THB 708 771 824
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 08/08/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80