SSI: Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, nhưng nợ xấu quý II lên mức cao nhất kể từ năm 2020

(TBTCO) - Dù lợi nhuận ngân hàng tiếp tục vượt kỳ vọng, SSI Research vẫn giữ quan điểm thận trọng khi chất lượng tài sản suy giảm rõ nét đằng sau bức tranh lợi nhuận khả quan. Tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 1,97%, cao nhất trong quý II kể từ năm 2020, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm còn 83%.
aa

Nợ xấu tăng nhanh, “bộ đệm” dự phòng chịu sức ép

PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập, “núi” nợ và lãi treo vẫn đè nặng Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn “đổi ngôi” ngoạn mục

Tại báo cáo chiến lược tháng 8/2026 mang tựa đề “Thuận dòng, rộng lối?” và báo cáo cập nhật ngành ngân hàng mới công bố, Trung tâm Phân tích và Tư vấn Đầu tư thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI Research) đánh giá, kết quả ngành ngân hàng tốt hơn kỳ vọng, được hỗ trợ bởi tăng trưởng tín dụng tích cực, biên lãi ròng (NIM) phục hồi và thu nhập từ phí cải thiện đáng kể.

Theo đó, các ngân hàng trong phạm vi nghiên cứu của SSI Research ghi nhận tổng lợi nhuận trước thuế đạt 95,7 nghìn tỷ đồng trong quý II/2026, tăng 27,6% so với cùng kỳ và 20,3% so với quý trước.

Tuy nhiên, nhóm phân tích vẫn giữ quan điểm thận trọng đối với ngành, khi những dấu hiệu về chất lượng tài sản suy giảm ngày càng trở nên rõ nét đằng sau bức tranh lợi nhuận khả quan.

Một số chỉ báo chất lượng tài sản chưa được cải thiện, cho thấy tăng trưởng lợi nhuận và chất lượng bảng cân đối đang bắt đầu phân hóa. Đáng chú ý, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành lên mức cao kỷ lục trong quý II, kể từ năm 2020, xu hướng suy giảm chất lượng tài sản lan rộng trên các ngân hàng và tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục giảm.

Áp lực lãi suất và nguy cơ vỡ nợ chéo

SSI Research duy trì quan điểm thận trọng đối với chất lượng tài sản của ngành ngân hàng trong nửa cuối năm 2026. Mặt bằng lãi suất cho vay vẫn ở mức cao 12 - 15%, đặc biệt ở phân khúc vay mua nhà, cùng với khả năng vỡ nợ chéo giữa các tổ chức tín dụng thông qua dữ liệu của Trung tâm Thông tin tín dụng quốc gia Việt Nam (CIC) trong những quý tới.

Theo đó, nợ xấu toàn ngành tăng 21,4% tính từ đầu năm và tăng 9,5% so với quý trước. Mức tăng chủ yếu tập trung tại VietinBank (tăng 21,8% so với quý trước), SACOMBANK (tăng 15,6%), BIDV (tăng 7,2%)... trong khi phần lớn các ngân hàng khác tương đối ổn định.

Theo đó, tỷ lệ nợ xấu toàn ngành tăng lên 1,97% trong quý II/2026, so với 1,88% trong quý I/2026, là mức tăng cao nhất của quý II kể từ năm 2020.

Nợ nhóm 2 cũng tăng đáng kể 31,6% tính từ đầu năm và tăng 17,5% so với quý trước, dẫn đầu bởi SACOMBANK (gấp 2,8 lần so với quý trước), VPBank (tăng 13,7%)...

SSI: Lợi nhuận ngân hàng vượt kỳ vọng, nhưng nợ xấu quý II lên mức cao nhất kể từ năm 2020
Nguồn: SSI Research.

Tương tự với chi phí dự phòng, trong khi nhóm ngân hàng thương mại nhà nước giảm trích lập dự phòng 26% so với quý trước, thì nhóm ngân hàng thương mại cổ phần lại tăng mạnh 33%, chủ yếu đến từ SACOMBANK (tăng 152%), OCB (tăng 85%) và ACB (tăng 55%).

Theo đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu tiếp tục giảm xuống 83% trong quý II/2026, từ mức 86% trong quý I/2026 và 95% cùng kỳ năm 2025.

Cùng với đó, theo nhóm phân tích, cơ cấu tín dụng dịch chuyển sang các khoản cho vay với kỳ hạn dài hơn. Trong 13 ngân hàng thuộc phạm vi theo dõi của SSI Research, dư nợ trung và dài hạn tăng 6% so với quý trước, trong khi dư nợ ngắn hạn chỉ tăng 3,8% so với quý trước.

Tuy nhiên, cơ chế định giá hiện nay có thể làm gia tăng áp lực trả nợ đối với khách hàng trong các quý tới. Nếu xu hướng này kéo dài, chất lượng tài sản có thể sẽ dần suy yếu, thể hiện qua việc nợ xấu hình thành mới và chi phí tín dụng gia tăng.

“Kỳ vọng lợi nhuận ngành ngân hàng sẽ tăng trưởng tích cực trong nửa cuối năm 2026, nhưng mức độ phân hóa giữa các ngân hàng sẽ rõ hơn, tùy thuộc vào sức mạnh nguồn vốn, chất lượng tài sản và khả năng trích lập dự phòng của từng ngân hàng” - SSI Research nêu quan điểm./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 7/11: Giá vàng thế giới giảm, trong nước mất tới 2 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 7/11: Giá vàng thế giới giảm, trong nước mất tới 2 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 16 USD/ounce, còn 4.072 USD. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,5 đến 2 triệu đồng/lượng.
SHB hợp tác cùng Bệnh viện Bạch Mai, kết nối nguồn lực tài chính và y tế

SHB hợp tác cùng Bệnh viện Bạch Mai, kết nối nguồn lực tài chính và y tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) và Bệnh viện Bạch Mai ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, hướng tới ứng dụng các giải pháp tài chính và công nghệ vào quản trị bệnh viện, thanh toán viện phí, nâng cao trải nghiệm người bệnh, đồng thời phối hợp triển khai các hoạt động chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Phát huy vai trò bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới trong bảo đảm an toàn giao thông

Phát huy vai trò bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới trong bảo đảm an toàn giao thông

(TBTCO) - Đơn giản hóa thủ tục bồi thường, tăng cường liên thông dữ liệu và đổi mới truyền thông..., là những giải pháp được đề xuất tại Hội thảo khoa học cấp Bộ về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới, tổ chức mới đây tại đặc khu Phú Quốc, tỉnh An Giang.
Tỷ giá USD hôm nay 5/11: USD đồng loạt giảm, DXY chạm đáy 5 tuần sau bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay 5/11: USD đồng loạt giảm, DXY chạm đáy 5 tuần sau bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 5/11, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng, xuống 25.623 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, chỉ số DXY mất 0,25% còn 101,29 điểm, sát mốc 101 điểm. Đồng bạc xanh có lúc chạm đáy 5 tuần sau chiến thắng bất ngờ của đảng Dân chủ trong bầu cử giữa nhiệm kỳ Mỹ, trong khi giá dầu WTI lùi sát 87 USD/thùng.
Đề xuất cắt giảm 5 điều kiện kinh doanh với doanh nghiệp môi giới, chậm trả tiền bảo hiểm sẽ bị phạt

Đề xuất cắt giảm 5 điều kiện kinh doanh với doanh nghiệp môi giới, chậm trả tiền bảo hiểm sẽ bị phạt

Bộ Tài chính đề xuất bãi bỏ một số quy định xử phạt không còn phù hợp; bổ sung chế tài đối với nhiều hành vi như: chậm trả tiền bảo hiểm, vi phạm thời hạn bồi thường, cung cấp bảo hiểm trực tuyến... Đồng thời, dự kiến cắt giảm, đơn giản hóa 5 điều kiện kinh doanh và một thủ tục hành chính với doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 5/11: Vàng thế giới vượt 4.000 USD, trong nước tăng mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 5/11: Vàng thế giới vượt 4.000 USD, trong nước tăng mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng gần 130 USD/ounce, vượt mốc 4.000 USD, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt đi lên.
Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

Tiền gửi tăng gần 11% sau 9 tháng "bám đuổi" đà tăng cho vay, chứng chỉ tiền gửi tiếp sức cuộc đua

(TBTCO) - Sau cuộc đua lãi suất, tiền gửi tại 28 ngân hàng niêm yết tăng tốc qua từng quý, đạt hơn 14,38 triệu tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 10,56%, dần thu hẹp khoảng cách với tăng trưởng tín dụng. Khi lãi suất huy động buộc phải hạ nhiệt, việc phát hành giấy tờ có giá, đặc biệt chứng chỉ tiền gửi với lãi suất hấp dẫn giúp "giữ chân" dòng tiền.
Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

Tập đoàn Bảo Việt được vinh danh trong danh sách Fortune Southeast Asia 500

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt tiếp tục ghi danh trong Fortune Southeast Asia 500, khẳng định vị thế Tập đoàn tài chính - bảo hiểm hàng đầu Việt Nam.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,300 140,300
Hà Nội - PNJ 136,300 140,300
Đà Nẵng - PNJ 136,300 140,300
Miền Tây - PNJ 136,300 140,300
Tây Nguyên - PNJ 136,300 140,300
Đông Nam Bộ - PNJ 136,300 140,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,800 14,100
Miếng SJC Nghệ An 13,800 14,100
Miếng SJC Thái Bình 13,800 14,100
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,650 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,650 14,050
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,650 14,050
Trang sức 99.9 13,330 13,930
Trang sức 99.99 13,340 13,940
Vàng 99.9 12,750
Vàng 99.99 12,900
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 138 14,102
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 138 14,103
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 1,405
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,345 1,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,119 138,119
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,985 104,785
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,219 95,019
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,454 85,254
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,687 81,487
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,527 58,327
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 138 141
Cập nhật: 08/11/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17027 17297 17886
CAD 17575 17848 18467
CHF 30535 30911 31550
CNY 0 3789 3885
EUR 27881 28096 29178
GBP 33351 33739 34676
HKD 0 3132 3335
JPY 154 158 165
KRW 0 18 20
NZD 0 13876 14463
SGD 19398 19678 20258
THB 678 741 794
USD (1,2) 25323 0 0
USD (5,10,20) 25359 0 0
USD (50,100) 25387 25400 25770
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,395 25,395 25,775
USD(1-2-5) 24,380 - -
USD(10-20) 24,380 - -
EUR 28,083 28,105 29,445
JPY 157.64 157.92 167.53
GBP 33,746 33,837 35,010
AUD 17,327 17,390 18,054
CAD 17,881 17,938 18,605
CHF 30,914 31,010 31,939
SGD 19,568 19,629 20,406
CNY - 3,762 3,907
HKD 3,198 3,208 3,344
KRW 17.35 18.09 19.69
THB 728.06 737.05 789.6
NZD 13,928 14,057 14,475
SEK - 2,556 2,648
DKK - 3,767 3,901
NOK - 2,698 2,795
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,889.42 - 6,649.1
TWD 700.88 - 849.32
SAR - 6,698.34 7,058.04
KWD - 80,861 86,063
AED - 6,713 7,235
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,370 25,400 25,780
EUR 28,050 28,191 29,414
GBP 33,715 33,884 34,916
HKD 3,192 3,211 3,329
CHF 30,744 30,898 31,843
JPY 157.26 158.85 166.81
AUD 17,268 17,390 17,982
SGD 19,541 19,718 20,312
THB 732 747 785
CAD 17,838 17,964 18,556
NZD 13,987 14,538
KRW 18.20 20.18
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25400 25400 25760
AUD 17229 17329 18259
CAD 17828 17928 18945
CHF 30857 30887 32469
CNY 3774.9 3799.9 3935
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28138 28168 29893
GBP 33747 33797 35554
HKD 0 3300 0
JPY 158.07 158.57 169.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 13981 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19587 19717 20439
THB 0 707.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12500000 12500000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,270 25,390 25,750
USD20 25,240 25,390 25,750
USD1 24,335 25,390 26,895
AUD 17,120 17,318 18,510
EUR 27,850 28,003 29,703
CAD 17,705 17,855 19,186
SGD 19,600 19,800 20,384
JPY 157.95 159.95 165.75
GBP 33,565 33,765 34,889
XAU 13,798,000 0 14,102,000
CNY 0 3,751 0
THB 0 743 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/11/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30