PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập, "núi" nợ và lãi treo vẫn đè nặng

Tú Anh
PVcomBank báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 1.023 tỷ đồng, tăng 25,9%, phần lớn do chi phí dự phòng được cắt giảm đáng kể. Tuy nhiên, chất lượng tài sản vẫn chịu nhiều áp lực, với nợ xấu gần 4.600 tỷ đồng, phần lớn là nợ có khả năng mất vốn; bộ đệm dự phòng mỏng; hơn 23.200 tỷ đồng lãi, phí phải thu cùng hàng chục nghìn tỷ đồng nợ vẫn "treo" ngoại bảng chờ xử lý.
aa
PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Cắt giảm gần 86% chi phí dự phòng, nguồn thu ngoài lãi trồi sụt

Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.

Quý II/2026, PVcomBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 343,4 tỷ đồng, chỉ tăng 6% so với cùng kỳ, dù thu nhập lãi thuần tăng mạnh, gấp hơn 3 lần cùng kỳ, lên 1.535,5 tỷ đồng.

Bên cạnh lãi thuần dịch vụ tăng 178,5% lên 103,4 tỷ đồng, gần như toàn bộ các nguồn thu ngoài lãi còn lại đều suy giảm, khiến tỷ trọng đóng góp vào tổng thu nhập hoạt động rơi từ gần 80% xuống chỉ còn khoảng 6%. Trong đó, kinh doanh ngoại hối chuyển từ lãi sang lỗ 12 tỷ đồng, còn lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh giảm 20,4% xuống 40,7 tỷ đồng.

Đặc biệt, lãi thuần từ hoạt động khác đảo chiều từ lãi hơn 1.800 tỷ đồng sang lỗ gần 130 tỷ đồng, kéo tổng thu nhập hoạt động giảm 33,8% còn 1.635,7 tỷ đồng.

Đồ họa: Tú Anh.

Đà tăng lợi nhuận quý II/2026 chủ yếu được duy trì nhờ cắt giảm mạnh chi phí hoạt động 33,8% và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng 93,6%, trong bối cảnh nhiều nguồn thu ngoài lãi lao dốc. Điều này cho thấy, lợi nhuận của PVcomBank tăng chủ yếu nhờ yếu tố chi phí, thay vì đến từ sự cải thiện đồng đều của các mảng kinh doanh.

Việc cắt giảm mạnh 85,8% chi phí dự phòng rủi ro tín dụng xuống còn 181,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, thấp hơn đáng kể so với mức trích lập các năm gần đây, trở thành động lực chính giúp lợi nhuận trước thuế của PVcomBank vẫn tăng 25,9% so với cùng kỳ.

Tính chung lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, PVcomBank báo lãi trước thuế đạt 1.023,1 tỷ đồng, tăng 25,9% so với cùng kỳ và vượt xa kế hoạch đề ra (114,3 tỷ đồng).

Động lực tăng trưởng của PVcomBank chủ yếu đến từ thu nhập lãi thuần tăng 59,1% lên 2.716,6 tỷ đồng. Đáng chú ý, thu lãi cho vay tăng mạnh (46,2%) lên 9.520,1 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với mức tăng dư nợ cho vay (khoảng 7%), cho thấy tăng trưởng thu nhập lãi không chỉ đến từ mở rộng quy mô tín dụng, mà còn có thể phản ánh lãi suất cho vay tăng cao, hoặc cơ cấu danh mục cho vay.

Tuy nhiên, sự cải thiện của hoạt động tín dụng không đủ bù đắp sự suy giảm của các nguồn thu ngoài lãi. Dù các mảng chứng khoán ghi nhận kết quả tích cực, tổng thu nhập hoạt động vẫn giảm 9,8% còn 3.482 tỷ đồng, chủ yếu do nguồn thu từ hoạt động khác gần như “bốc hơi”.

Theo đó, lãi từ hoạt động khác chuyển từ gần 1.920 tỷ đồng cùng kỳ sang lỗ 12 tỷ đồng, đặc biệt khoản thu hồi các khoản nợ đã xử lý giảm từ 1.562 tỷ đồng xuống chỉ còn 59 tỷ đồng.

Nhiều chỉ tiêu tiến sát “lằn ranh đỏ”, áp lực chất lượng tài sản

Về quy mô hoạt động, tổng tài sản của PVcomBank đạt 278.431 tỷ đồng tính đến cuối tháng 6/2026, tăng 5,7% so với đầu năm. Động lực chủ yếu đến từ dư nợ cho vay khách hàng tăng 7,1% lên 160.111 tỷ đồng.

Tuy nhiên, chất lượng tín dụng vẫn còn nhiều áp lực trong bối cảnh ngân hàng mạnh tay cắt giảm chi phí dự phòng rủi ro.

PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập,
Dự kiến, cổ phiếu PCB sẽ chính thức giao dịch trên UPCoM từ ngày 12/8/2026. Ảnh minh họa.

PVcomBank từng nhận nhiều cảnh báo từ Ngân hàng Nhà nước về việc tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn vượt ngưỡng quy định. Ngân hàng này có thời điểm tăng trưởng tín dụng vượt mức được Ngân hàng Nhà nước thông báo. Đồng thời, tín dụng tập trung vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là kinh doanh bất động sản tăng nhanh.

Ngoài ra, một số chỉ tiêu cấp tín dụng cũng tiến sát giới hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Báo cáo của PVcomBank cho thấy, tổng mức cấp tín dụng đối với một khách hàng (bao gồm cả hạn mức chưa giải ngân) đạt 2.494 tỷ đồng, tương đương 13,71% vốn tự có, sát ngưỡng tối đa 14%. Đối với một khách hàng và người có liên quan, dư nợ cấp tín dụng đạt 3.957 tỷ đồng, tương đương 21,75% vốn tự có, tiến gần giới hạn 23% theo quy định.

Dù tốc độ tăng nợ xấu (nhóm 3 - 5) đã chậm lại, chỉ còn 2,5% so với mức gần 25% của năm trước, chất lượng tài sản của PVcomBank chưa cho thấy sự cải thiện thực chất. Quy mô nợ xấu vẫn tăng lên 4.598 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng mất vốn tăng gần 20% lên 3.855 tỷ đồng, chiếm tới 84% tổng nợ xấu, cho thấy áp lực xử lý các khoản nợ rủi ro cao vẫn rất lớn.

Việc tỷ lệ nợ xấu giảm so với tổng dư nợ cho vay khách hàng, chủ yếu nhờ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn nợ xấu, chứ chưa phản ánh chất lượng tín dụng được cải thiện.

Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu từ dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của PVcomBank chỉ đạt 49,8%, thấp hơn mức trên 50% của phần lớn giai đoạn 2020 - 2024 và ở mức thấp so với mặt bằng ngành, phản ánh bộ đệm dự phòng vẫn còn khá mỏng.

Trong cơ cấu tài sản, PVcomBank gần như rút khỏi danh mục chứng khoán kinh doanh khi quy mô giảm 78% xuống còn 2.547 tỷ đồng, đồng thời tăng mạnh 27,1% danh mục chứng khoán đầu tư lên 43.504 tỷ đồng.

Thông tin từ PVcomBank cho thấy, danh mục cổ phiếu đã được thu hẹp dần qua các năm, ngân hàng không đầu tư mới, mà tập trung xử lý các khoản đầu tư cũ, đa phần các mã chứng khoán niêm yết đều là các công ty con của PVN được mua từ giai đoạn IPO với giá vốn cao.

Tuy nhiên, mức giá thị trường của các cổ phiếu này chưa thể so với mức giá đầu tư ban đầu, dẫn đến mức trích lập dự phòng cao. Đơn cử, dự phòng chứng khoán đầu tư ở mức 86,6 tỷ đồng và dự phòng chứng khoán kinh doanh tăng lên 16,1 tỷ đồng. PVcomBank cho biết, chưa thực hiện trích lập dự phòng đủ theo quy định cho hoạt động này.

PVcomBank vừa được chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu trên UPCoM với mã PCB, tương ứng vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng. Ngày giao dịch đầu tiên dự kiến là 12/8/2026.

Dù chưa niêm yết, PVcomBank vẫn thuộc nhóm ngân hàng có quy mô lớn với tổng tài sản sát 280 nghìn tỷ đồng tại thời điểm cuối quý II/2026, vượt nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã niêm yết.

Được thành lập năm 2013 trên cơ sở hợp nhất Tổng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (WesternBank), PVcomBank phải xử lý nhiều tồn đọng từ giai đoạn trước, gồm các khoản nợ liên quan Vinashin, Vinalines. Đến cuối năm 2025, nhóm tài sản có khác chiếm khoảng 7,6% tổng tài sản, chủ yếu là các khoản phải thu từ hoạt động ủy thác đầu tư của PVFC trước đây./.

“Khối băng chìm” lãi dự thu và nợ ngoại bảng

Tính đến cuối quý II/2026, lãi, phí phải thu của PVcomBank tiếp tục tăng 18,3% lên 23.206 tỷ đồng. Quy mô khoản mục này cao gần gấp đôi thu nhập lãi ghi nhận trong 6 tháng (11.927 tỷ đồng) và thuộc nhóm cao trong hệ thống ngân hàng, chỉ đứng sau hai “ông lớn”, dù quy mô tài sản và dư nợ của PVcomBank nhỏ hơn đáng kể. Điều này cho thấy lượng thu nhập đã ghi nhận, nhưng chưa thu bằng tiền vẫn ở mức lớn, là chỉ tiêu cần tiếp tục theo dõi về chất lượng tài sản và khả năng hiện thực hóa dòng tiền.

Ngoài ra, các chỉ tiêu ngoại bảng cũng cho thấy áp lực về chất lượng tín dụng chưa giảm. Lãi và phí phải thu chưa thu được tăng lên 9.280 tỷ đồng, lọt top 5 toàn ngành. Trong khi đó, tổng nợ đã xử lý rủi ro, nhưng vẫn “treo” ngoại bảng đạt hơn 28.151 tỷ đồng, tăng 7,7%. Điều này phản ánh khối lượng các khoản nợ cần tiếp tục theo dõi và thu hồi của PVcomBank vẫn ở mức rất lớn./.

Tú Anh

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 4/8: Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng nay giảm hơn 20 USD/ounce, lùi về 4.051 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường vàng trong nước ghi nhận diễn biến trái chiều khi giá vàng miếng tăng nhẹ ở chiều mua vào, còn vàng nhẫn điều chỉnh khác nhau giữa các doanh nghiệp.
SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

SJ Group ghi nhận lợi nhuận 526 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm

(TBTCO) - SJ Group ghi nhận lợi nhuận trước thuế 526,3 tỷ đồng sau nửa đầu năm, tăng 143,1% so với cùng kỳ. Doanh thu trong kỳ chủ yếu đến từ các hợp đồng đã ký và khoản thanh toán theo tiến độ tại dự án Nam An Khánh trong năm 2025.
Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

Bảo hiểm BIC báo lãi tăng mạnh trong quý II, mở rộng danh mục đầu tư lên gần 7.500 tỷ đồng

(TBTCO) - Bảo hiểm BIC báo lãi trước thuế quý II/2026 đạt 169,6 tỷ đồng, tăng mạnh 42,3% so với quý trước, song lũy kế 6 tháng mới đạt 288,8 tỷ đồng, chịu tác động khi không còn khoản chốt lời chứng khoán lớn như cùng kỳ. Dù vậy, phí bảo hiểm gốc của BIC duy trì đà tăng 5,7% lên 2.832,8 tỷ đồng cùng kỳ; danh mục đầu tư được mở rộng lên gần 7.500 tỷ đồng.
Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

Prudential Việt Nam: Trong kỷ nguyên AI, con người và niềm tin vẫn là trọng tâm của tương lai bảo hiểm

(TBTCO) - Hội nghị Cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026 vừa diễn ra tại Đà Nẵng với chủ đề "Tái định hình tương lai bảo hiểm với dữ liệu, AI và chuyển đổi bền vững" do Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam phối hợp tổ chức. Đây là diễn đàn thường niên quy tụ các nhà hoạch định chính sách, lãnh đạo doanh nghiệp cùng đông đảo chuyên gia uy tín trong và ngoài nước nhằm trao đổi về những xu hướng định hình động lực tăng trưởng mới của thị trường.
Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI tái định hình ngành bảo hiểm, mở ra chu kỳ tăng trưởng mới

Dữ liệu và AI đang trở thành động lực tăng trưởng mới và năng lực cốt lõi của ngành bảo hiểm. Tại Hội nghị cấp cao Bảo hiểm Việt Nam 2026, các đại biểu nhấn mạnh, việc tạo môi trường thuận lợi để nghiên cứu, ứng dụng AI và các công nghệ mới trong hoạt động bảo hiểm được đặt trong yêu cầu phải đi đôi với quản trị rủi ro và niềm tin làm nền tảng.
Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 3/8: Vàng thế giới neo quanh 4.041 USD/ounce, vàng trong nước đi ngang

(TBTCO) - Vàng thế giới duy trì quanh mốc 4.041 USD/ounce, còn giá vàng trong nước không ghi nhận biến động so với phiên trước. Chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới hiện ở khoảng 12 triệu đồng/lượng.
"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

"Động cơ" mới gắn liền điểm tựa cốt lõi, tạo chuyển biến cho thị trường bảo hiểm

(TBTCO) - Không chỉ đặt mục tiêu mở rộng độ bao phủ bảo hiểm, Đề án Cải cách tổng thể thị trường tài chính đến năm 2045 còn định hướng tái cấu trúc thị trường theo chiều sâu. Ông Nguyễn Đức Thắng - Chủ tịch GAMA Global-Vietnam kỳ vọng, việc xây dựng Trung tâm Dữ liệu Bảo hiểm quốc gia và triển khai sandbox sẽ tạo động lực đổi mới, song muốn chuyển biến bền vững phải gắn chặt hai “điểm tựa” cốt lõi của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/8: Vàng thế giới giữ mốc 4.040 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng nhẹ và tiếp tục giữ trên ngưỡng 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm trong phiên cuối tuần.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Hà Nội - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đà Nẵng - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Miền Tây - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Tây Nguyên - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 ▲100K 140,200 ▼700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,050 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,050 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,050 ▼100K
NL 99.99 12,900
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,800
Trang sức 99.9 13,360 ▼30K 13,960 ▼30K
Trang sức 99.99 13,370 ▼30K 13,970 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,052 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,053 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,365 140 ▼1265K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,365 1,401 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 ▼1201K 1,385
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,129 137,129
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 94,235 104,035
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,539 94,339
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,843 84,643
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,104 80,904
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,811 5,791
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,405 ▲1264K
Cập nhật: 04/08/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17905 18179 18760
CAD 18175 18451 19067
CHF 31770 32151 32794
CNY 0 3849 3941
EUR 29590 29811 30890
GBP 34499 34890 35823
HKD 0 3218 3420
JPY 159 163 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15106 15691
SGD 19914 20196 20774
THB 701 764 817
USD (1,2) 26000 0 0
USD (5,10,20) 26041 0 0
USD (50,100) 26070 26079 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,080 26,080 26,460
USD(1-2-5) 25,037 - -
USD(10-20) 25,037 - -
EUR 29,638 29,662 31,065
JPY 161.92 162.21 172
GBP 34,663 34,757 35,954
AUD 18,105 18,170 18,853
CAD 18,355 18,414 19,092
CHF 32,029 32,129 33,079
SGD 20,041 20,103 20,889
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,282 3,292 3,429
KRW 16.91 17.63 19.18
THB 749.71 758.97 812.52
NZD 15,082 15,222 15,671
SEK - 2,700 2,795
DKK - 3,975 4,115
NOK - 2,709 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,993.67 - 6,764.12
TWD 731.12 - 885.63
SAR - 6,874.63 7,240.41
KWD - 83,204 88,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,080 26,100 26,480
EUR 29,700 29,819 31,015
GBP 34,673 34,812 35,844
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 31,902 32,030 32,958
JPY 162.64 163.29 171.23
AUD 18,083 18,156 18,754
SGD 20,140 20,221 20,816
THB 767 770 806
CAD 18,381 18,455 19,039
NZD 15,173 15,720
KRW 17.65 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26085 26085 26445
AUD 18098 18198 19123
CAD 18357 18457 19471
CHF 32009 32039 33621
CNY 3828.7 3853.7 3989.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29769 29799 31522
GBP 34788 34838 36601
HKD 0 3355 0
JPY 162.77 163.27 173.81
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15217 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20078 20208 20931
THB 0 730.4 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13750000 13750000 14050000
SBJ 12500000 12500000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,110 26,160 26,480
USD20 26,060 26,160 26,599
USD1 24,111 26,160 26,649
AUD 18,141 18,241 19,348
EUR 29,593 29,693 31,349
CAD 18,310 18,410 19,716
SGD 20,183 20,333 20,945
JPY 163.73 165.23 170.76
GBP 34,678 34,828 35,890
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,739 0
THB 0 766 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/08/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80