PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập, "núi" nợ và lãi treo vẫn đè nặng

Tú Anh
PVcomBank báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 1.023 tỷ đồng, tăng 25,9%, phần lớn do chi phí dự phòng được cắt giảm đáng kể. Tuy nhiên, chất lượng tài sản vẫn chịu nhiều áp lực, với nợ xấu gần 4.600 tỷ đồng, phần lớn là nợ có khả năng mất vốn; bộ đệm dự phòng mỏng; hơn 23.200 tỷ đồng lãi, phí phải thu cùng hàng chục nghìn tỷ đồng nợ vẫn "treo" ngoại bảng chờ xử lý.
aa
PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Cắt giảm gần 86% chi phí dự phòng, nguồn thu ngoài lãi trồi sụt

Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.

Quý II/2026, PVcomBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 343,4 tỷ đồng, chỉ tăng 6% so với cùng kỳ, dù thu nhập lãi thuần tăng mạnh, gấp hơn 3 lần cùng kỳ, lên 1.535,5 tỷ đồng.

Bên cạnh lãi thuần dịch vụ tăng 178,5% lên 103,4 tỷ đồng, gần như toàn bộ các nguồn thu ngoài lãi còn lại đều suy giảm, khiến tỷ trọng đóng góp vào tổng thu nhập hoạt động rơi từ gần 80% xuống chỉ còn khoảng 6%. Trong đó, kinh doanh ngoại hối chuyển từ lãi sang lỗ 12 tỷ đồng, còn lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh giảm 20,4% xuống 40,7 tỷ đồng.

Đặc biệt, lãi thuần từ hoạt động khác đảo chiều từ lãi hơn 1.800 tỷ đồng sang lỗ gần 130 tỷ đồng, kéo tổng thu nhập hoạt động giảm 33,8% còn 1.635,7 tỷ đồng.

Đồ họa: Tú Anh.

Đà tăng lợi nhuận quý II/2026 chủ yếu được duy trì nhờ cắt giảm mạnh chi phí hoạt động 33,8% và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng 93,6%, trong bối cảnh nhiều nguồn thu ngoài lãi lao dốc. Điều này cho thấy, lợi nhuận của PVcomBank tăng chủ yếu nhờ yếu tố chi phí, thay vì đến từ sự cải thiện đồng đều của các mảng kinh doanh.

Việc cắt giảm mạnh 85,8% chi phí dự phòng rủi ro tín dụng xuống còn 181,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, thấp hơn đáng kể so với mức trích lập các năm gần đây, trở thành động lực chính giúp lợi nhuận trước thuế của PVcomBank vẫn tăng 25,9% so với cùng kỳ.

Tính chung lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, PVcomBank báo lãi trước thuế đạt 1.023,1 tỷ đồng, tăng 25,9% so với cùng kỳ và vượt xa kế hoạch đề ra (114,3 tỷ đồng).

Động lực tăng trưởng của PVcomBank chủ yếu đến từ thu nhập lãi thuần tăng 59,1% lên 2.716,6 tỷ đồng. Đáng chú ý, thu lãi cho vay tăng mạnh (46,2%) lên 9.520,1 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với mức tăng dư nợ cho vay (khoảng 7%), cho thấy tăng trưởng thu nhập lãi không chỉ đến từ mở rộng quy mô tín dụng, mà còn có thể phản ánh lãi suất cho vay tăng cao, hoặc cơ cấu danh mục cho vay.

Tuy nhiên, sự cải thiện của hoạt động tín dụng không đủ bù đắp sự suy giảm của các nguồn thu ngoài lãi. Dù các mảng chứng khoán ghi nhận kết quả tích cực, tổng thu nhập hoạt động vẫn giảm 9,8% còn 3.482 tỷ đồng, chủ yếu do nguồn thu từ hoạt động khác gần như “bốc hơi”.

Theo đó, lãi từ hoạt động khác chuyển từ gần 1.920 tỷ đồng cùng kỳ sang lỗ 12 tỷ đồng, đặc biệt khoản thu hồi các khoản nợ đã xử lý giảm từ 1.562 tỷ đồng xuống chỉ còn 59 tỷ đồng.

Nhiều chỉ tiêu tiến sát “lằn ranh đỏ”, áp lực chất lượng tài sản

Về quy mô hoạt động, tổng tài sản của PVcomBank đạt 278.431 tỷ đồng tính đến cuối tháng 6/2026, tăng 5,7% so với đầu năm. Động lực chủ yếu đến từ dư nợ cho vay khách hàng tăng 7,1% lên 160.111 tỷ đồng.

Tuy nhiên, chất lượng tín dụng vẫn còn nhiều áp lực trong bối cảnh ngân hàng mạnh tay cắt giảm chi phí dự phòng rủi ro.

PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập,
Dự kiến, cổ phiếu PCB sẽ chính thức giao dịch trên UPCoM từ ngày 12/8/2026. Ảnh minh họa.

PVcomBank từng nhận nhiều cảnh báo từ Ngân hàng Nhà nước về việc tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn vượt ngưỡng quy định. Ngân hàng này có thời điểm tăng trưởng tín dụng vượt mức được Ngân hàng Nhà nước thông báo. Đồng thời, tín dụng tập trung vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là kinh doanh bất động sản tăng nhanh.

Ngoài ra, một số chỉ tiêu cấp tín dụng cũng tiến sát giới hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Báo cáo của PVcomBank cho thấy, tổng mức cấp tín dụng đối với một khách hàng (bao gồm cả hạn mức chưa giải ngân) đạt 2.494 tỷ đồng, tương đương 13,71% vốn tự có, sát ngưỡng tối đa 14%. Đối với một khách hàng và người có liên quan, dư nợ cấp tín dụng đạt 3.957 tỷ đồng, tương đương 21,75% vốn tự có, tiến gần giới hạn 23% theo quy định.

Dù tốc độ tăng nợ xấu (nhóm 3 - 5) đã chậm lại, chỉ còn 2,5% so với mức gần 25% của năm trước, chất lượng tài sản của PVcomBank chưa cho thấy sự cải thiện thực chất. Quy mô nợ xấu vẫn tăng lên 4.598 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng mất vốn tăng gần 20% lên 3.855 tỷ đồng, chiếm tới 84% tổng nợ xấu, cho thấy áp lực xử lý các khoản nợ rủi ro cao vẫn rất lớn.

Việc tỷ lệ nợ xấu giảm so với tổng dư nợ cho vay khách hàng, chủ yếu nhờ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn nợ xấu, chứ chưa phản ánh chất lượng tín dụng được cải thiện.

Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu từ dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của PVcomBank chỉ đạt 49,8%, thấp hơn mức trên 50% của phần lớn giai đoạn 2020 - 2024 và ở mức thấp so với mặt bằng ngành, phản ánh bộ đệm dự phòng vẫn còn khá mỏng.

Trong cơ cấu tài sản, PVcomBank gần như rút khỏi danh mục chứng khoán kinh doanh khi quy mô giảm 78% xuống còn 2.547 tỷ đồng, đồng thời tăng mạnh 27,1% danh mục chứng khoán đầu tư lên 43.504 tỷ đồng.

Thông tin từ PVcomBank cho thấy, danh mục cổ phiếu đã được thu hẹp dần qua các năm, ngân hàng không đầu tư mới, mà tập trung xử lý các khoản đầu tư cũ, đa phần các mã chứng khoán niêm yết đều là các công ty con của PVN được mua từ giai đoạn IPO với giá vốn cao.

Tuy nhiên, mức giá thị trường của các cổ phiếu này chưa thể so với mức giá đầu tư ban đầu, dẫn đến mức trích lập dự phòng cao. Đơn cử, dự phòng chứng khoán đầu tư ở mức 86,6 tỷ đồng và dự phòng chứng khoán kinh doanh tăng lên 16,1 tỷ đồng. PVcomBank cho biết, chưa thực hiện trích lập dự phòng đủ theo quy định cho hoạt động này.

PVcomBank vừa được chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu trên UPCoM với mã PCB, tương ứng vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng. Ngày giao dịch đầu tiên dự kiến là 12/8/2026.

Dù chưa niêm yết, PVcomBank vẫn thuộc nhóm ngân hàng có quy mô lớn với tổng tài sản sát 280 nghìn tỷ đồng tại thời điểm cuối quý II/2026, vượt nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã niêm yết.

Được thành lập năm 2013 trên cơ sở hợp nhất Tổng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (WesternBank), PVcomBank phải xử lý nhiều tồn đọng từ giai đoạn trước, gồm các khoản nợ liên quan Vinashin, Vinalines. Đến cuối năm 2025, nhóm tài sản có khác chiếm khoảng 7,6% tổng tài sản, chủ yếu là các khoản phải thu từ hoạt động ủy thác đầu tư của PVFC trước đây./.

“Khối băng chìm” lãi dự thu và nợ ngoại bảng

Tính đến cuối quý II/2026, lãi, phí phải thu của PVcomBank tiếp tục tăng 18,3% lên 23.206 tỷ đồng. Quy mô khoản mục này cao gần gấp đôi thu nhập lãi ghi nhận trong 6 tháng (11.927 tỷ đồng) và thuộc nhóm cao trong hệ thống ngân hàng, chỉ đứng sau hai “ông lớn”, dù quy mô tài sản và dư nợ của PVcomBank nhỏ hơn đáng kể. Điều này cho thấy lượng thu nhập đã ghi nhận, nhưng chưa thu bằng tiền vẫn ở mức lớn, là chỉ tiêu cần tiếp tục theo dõi về chất lượng tài sản và khả năng hiện thực hóa dòng tiền.

Ngoài ra, các chỉ tiêu ngoại bảng cũng cho thấy áp lực về chất lượng tín dụng chưa giảm. Lãi và phí phải thu chưa thu được tăng lên 9.280 tỷ đồng, lọt top 5 toàn ngành. Trong khi đó, tổng nợ đã xử lý rủi ro, nhưng vẫn “treo” ngoại bảng đạt hơn 28.151 tỷ đồng, tăng 7,7%. Điều này phản ánh khối lượng các khoản nợ cần tiếp tục theo dõi và thu hồi của PVcomBank vẫn ở mức rất lớn./.

Tú Anh

Đọc thêm

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

SHB giảm lãi suất cho vay, góp phần thúc đẩy các động lực tăng trưởng của nền kinh tế

(TBTCO) - Hưởng ứng tích cực định hướng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước trong việc thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, ngay từ đầu năm 2026, Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) đã chủ động lập kế hoạch kinh doanh, trong đó dành 45.000 tỷ đồng tín dụng ưu đãi cho khách hàng SME, cá nhân và hộ kinh doanh với lãi suất giảm tới 2%/năm. Để tiếp tục thúc đẩy tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, SHB bổ sung thêm 2.000 tỷ đồng cho khách hàng mới thuộc các lĩnh vực sản xuất, xuất khẩu, công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, nông nghiệp, đổi mới sáng tạo… với mức giảm lãi suất 0,5-0,7% so với hiện hành.
Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/8: Vàng trong nước đồng loạt tăng, vàng nhẫn lên 145,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới vượt mốc 4.400 USD/ounce, trong khi vàng trong nước tăng mạnh, vàng nhẫn có nơi đạt 145,5 triệu đồng/lượng.
Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

Nghiệm thu công trình do Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới tài trợ tại Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa

(TBTCO) - Lãnh đạo Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với đại diện của Tổng Công ty Cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO) tiến hành nghiệm thu công trình “Đề phòng hạn chế tổn thất tai nạn giao thông đường bộ trên tuyến đường từ trung tâm xã Bát Mọt đi bản Vịn và bản Đục xã Bát Mọt, tỉnh Thanh Hóa”.
Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

Lãi suất cho vay hạ nhiệt nhanh hơn huy động, áp lực cuối năm còn lớn

(TBTCO) - Lãi suất cho vay phát tín hiệu giảm rõ nét hơn lãi suất huy động, khi nhiều ngân hàng tung các gói tín dụng ưu đãi với mức giảm tới 2,5%/năm. Tuy nhiên, dư địa giảm sâu vẫn chịu nhiều sức ép những tháng cuối năm, dù nhà điều hành yêu cầu kiểm soát mặt bằng lãi suất, thậm chí có thể giảm room tín dụng với ngân hàng không thực hiện đúng chỉ đạo.
KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

KienlongBank tăng cường lá chắn số, tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận

(TBTCO) - Nhằm đối phó với các thủ đoạn lừa đảo ngày càng tinh vi, Ngân hàng TMCP Kiên Long (KienlongBank) chính thức ra mắt tính năng cảnh báo rủi ro - tự động cảnh báo và chặn giao dịch khi phát hiện tài khoản thụ hưởng có dấu hiệu gian lận từ ngày 17/08/2026. KienlongBank là một trong những ngân hàng đầu tiên trên thị trường hoàn tất tích hợp, đưa tính năng vào phục vụ khách hàng.
Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

Nới dư địa thanh khoản để kéo giảm lãi suất, đón tín dụng tăng tốc cuối năm

(TBTCO) - Theo dữ liệu của VNDIRECT, Ngân hàng Nhà nước kéo dài kỳ hạn phát hành trên kênh OMO, trong đó kỳ hạn 63 ngày và 91 ngày chiếm 32% và 13% tổng lượng phát hành, nhằm chuẩn bị thanh khoản, hạn chế biến động lãi suất liên ngân hàng khi tín dụng tăng tốc cuối năm. Cùng phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, mặt bằng lãi suất được kỳ vọng giảm dần từ quý IV/2026.
Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

Áp dụng tỷ lệ an toàn khác: Phải rõ tiêu chí, tránh lạm dụng

(TBTCO) - Về việc Ngân hàng nhà nước cho phép áp dụng tỷ lệ an toàn khác với mức quy định, Chủ tịch Quốc hội yêu cầu phải có hướng dẫn, tiêu chí xác định trường hợp để thực hiện yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tránh bị lạm dụng và đặc biệt phải có cơ chế giám sát, kiểm soát rủi ro.
Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

Làm rõ cơ chế bù đắp khi Ngân hàng nhà nước chi lớn hơn thu

(TBTCO) - Về cơ chế thu chi của Ngân hàng Nhà nước, Uỷ ban Kinh tế và Tài chính đề nghị nghiên cứu nguyên tắc bù đắp chênh lệch chi lớn hơn thu bằng Quỹ dự phòng tài chính và các khoản dự phòng rủi ro. Khi quỹ và các khoản dự phòng rủi ro không còn, cần có cơ chế bù đắp phần chênh lệch.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Hà Nội - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Miền Tây - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,700 ▲200K 144,200 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▲10K 14,430 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,130 ▲10K 14,480 ▲10K
NL 99.99 13,500 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,400 ▲50K
Trang sức 99.9 13,790 ▲10K 14,390 ▲10K
Trang sức 99.99 13,800 ▲10K 14,400 ▲10K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▲1K 14,432 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▲1K 14,433 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▲1K 1,438 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▲1K 1,439 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1K 1,423 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲99K 140,891 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲75K 106,886 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲68K 96,924 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲61K 86,962 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲58K 83,119 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲42K 59,495 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▲1K 1,443 ▲1K
Cập nhật: 18/08/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18070 18345 18924
CAD 18341 18617 19234
CHF 31588 31968 32616
CNY 0 3830 3940
EUR 29673 29895 30979
GBP 34605 34997 35938
HKD 0 3207 3410
JPY 157 160 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15083 15671
SGD 19948 20230 20801
THB 707 770 823
USD (1,2) 25917 0 0
USD (5,10,20) 25957 0 0
USD (50,100) 25986 26000 26370
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,995 25,995 26,375
USD(1-2-5) 24,956 - -
USD(10-20) 24,956 - -
EUR 29,708 29,732 31,140
JPY 159.64 159.93 169.57
GBP 34,808 34,902 36,105
AUD 18,256 18,322 19,015
CAD 18,523 18,582 19,266
CHF 31,870 31,969 32,912
SGD 20,067 20,129 20,915
CNY - 3,808 3,954
HKD 3,270 3,280 3,418
KRW 17.11 17.84 19.41
THB 755.63 764.96 818.99
NZD 15,077 15,217 15,669
SEK - 2,703 2,799
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,729 2,831
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,031.54 - 6,813.12
TWD 742.37 - 899.32
SAR - 6,854.96 7,220.03
KWD - 82,987 88,296
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,970 26,000 26,380
EUR 29,747 29,866 31,062
GBP 34,825 34,965 36,000
HKD 3,271 3,284 3,401
CHF 31,718 31,845 32,769
JPY 159.96 160.60 168.54
AUD 18,253 18,326 18,925
SGD 20,139 20,220 20,817
THB 772 775 812
CAD 18,534 18,608 19,201
NZD 15,157 15,703
KRW 17.72 19.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26360
AUD 18250 18350 19281
CAD 18525 18625 19639
CHF 31844 31874 33452
CNY 3822.6 3847.6 3982.9
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29855 29885 31610
GBP 34920 34970 36728
HKD 0 3330 0
JPY 160.49 160.99 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.104 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15188 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20104 20234 20966
THB 0 736.1 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14100000 14100000 14400000
SBJ 12500000 12500000 14400000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,008 26,058 26,380
USD20 25,958 26,058 26,809
USD1 25,908 26,058 26,859
AUD 18,289 18,389 19,494
EUR 29,643 29,743 31,399
CAD 18,468 18,568 19,880
SGD 20,182 20,332 20,886
JPY 160.9 162.4 167.93
GBP 34,798 34,948 36,023
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,732 0
THB 0 771 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/08/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80