PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập, "núi" nợ và lãi treo vẫn đè nặng

Tú Anh
PVcomBank báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 1.023 tỷ đồng, tăng 25,9%, phần lớn do chi phí dự phòng được cắt giảm đáng kể. Tuy nhiên, chất lượng tài sản vẫn chịu nhiều áp lực, với nợ xấu gần 4.600 tỷ đồng, phần lớn là nợ có khả năng mất vốn; bộ đệm dự phòng mỏng; hơn 23.200 tỷ đồng lãi, phí phải thu cùng hàng chục nghìn tỷ đồng nợ vẫn "treo" ngoại bảng chờ xử lý.
aa
PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Cắt giảm gần 86% chi phí dự phòng, nguồn thu ngoài lãi trồi sụt

Ngân hàng TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.

Quý II/2026, PVcomBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 343,4 tỷ đồng, chỉ tăng 6% so với cùng kỳ, dù thu nhập lãi thuần tăng mạnh, gấp hơn 3 lần cùng kỳ, lên 1.535,5 tỷ đồng.

Bên cạnh lãi thuần dịch vụ tăng 178,5% lên 103,4 tỷ đồng, gần như toàn bộ các nguồn thu ngoài lãi còn lại đều suy giảm, khiến tỷ trọng đóng góp vào tổng thu nhập hoạt động rơi từ gần 80% xuống chỉ còn khoảng 6%. Trong đó, kinh doanh ngoại hối chuyển từ lãi sang lỗ 12 tỷ đồng, còn lãi từ mua bán chứng khoán kinh doanh giảm 20,4% xuống 40,7 tỷ đồng.

Đặc biệt, lãi thuần từ hoạt động khác đảo chiều từ lãi hơn 1.800 tỷ đồng sang lỗ gần 130 tỷ đồng, kéo tổng thu nhập hoạt động giảm 33,8% còn 1.635,7 tỷ đồng.

Đồ họa: Tú Anh.

Đà tăng lợi nhuận quý II/2026 chủ yếu được duy trì nhờ cắt giảm mạnh chi phí hoạt động 33,8% và chi phí dự phòng rủi ro tín dụng 93,6%, trong bối cảnh nhiều nguồn thu ngoài lãi lao dốc. Điều này cho thấy, lợi nhuận của PVcomBank tăng chủ yếu nhờ yếu tố chi phí, thay vì đến từ sự cải thiện đồng đều của các mảng kinh doanh.

Việc cắt giảm mạnh 85,8% chi phí dự phòng rủi ro tín dụng xuống còn 181,6 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm 2026, thấp hơn đáng kể so với mức trích lập các năm gần đây, trở thành động lực chính giúp lợi nhuận trước thuế của PVcomBank vẫn tăng 25,9% so với cùng kỳ.

Tính chung lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, PVcomBank báo lãi trước thuế đạt 1.023,1 tỷ đồng, tăng 25,9% so với cùng kỳ và vượt xa kế hoạch đề ra (114,3 tỷ đồng).

Động lực tăng trưởng của PVcomBank chủ yếu đến từ thu nhập lãi thuần tăng 59,1% lên 2.716,6 tỷ đồng. Đáng chú ý, thu lãi cho vay tăng mạnh (46,2%) lên 9.520,1 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với mức tăng dư nợ cho vay (khoảng 7%), cho thấy tăng trưởng thu nhập lãi không chỉ đến từ mở rộng quy mô tín dụng, mà còn có thể phản ánh lãi suất cho vay tăng cao, hoặc cơ cấu danh mục cho vay.

Tuy nhiên, sự cải thiện của hoạt động tín dụng không đủ bù đắp sự suy giảm của các nguồn thu ngoài lãi. Dù các mảng chứng khoán ghi nhận kết quả tích cực, tổng thu nhập hoạt động vẫn giảm 9,8% còn 3.482 tỷ đồng, chủ yếu do nguồn thu từ hoạt động khác gần như “bốc hơi”.

Theo đó, lãi từ hoạt động khác chuyển từ gần 1.920 tỷ đồng cùng kỳ sang lỗ 12 tỷ đồng, đặc biệt khoản thu hồi các khoản nợ đã xử lý giảm từ 1.562 tỷ đồng xuống chỉ còn 59 tỷ đồng.

Nhiều chỉ tiêu tiến sát “lằn ranh đỏ”, áp lực chất lượng tài sản

Về quy mô hoạt động, tổng tài sản của PVcomBank đạt 278.431 tỷ đồng tính đến cuối tháng 6/2026, tăng 5,7% so với đầu năm. Động lực chủ yếu đến từ dư nợ cho vay khách hàng tăng 7,1% lên 160.111 tỷ đồng.

Tuy nhiên, chất lượng tín dụng vẫn còn nhiều áp lực trong bối cảnh ngân hàng mạnh tay cắt giảm chi phí dự phòng rủi ro.

PVcomBank lãi đậm hơn 1.000 tỷ đồng nhờ giảm trích lập,
Dự kiến, cổ phiếu PCB sẽ chính thức giao dịch trên UPCoM từ ngày 12/8/2026. Ảnh minh họa.

PVcomBank từng nhận nhiều cảnh báo từ Ngân hàng Nhà nước về việc tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn vượt ngưỡng quy định. Ngân hàng này có thời điểm tăng trưởng tín dụng vượt mức được Ngân hàng Nhà nước thông báo. Đồng thời, tín dụng tập trung vào lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, đặc biệt là kinh doanh bất động sản tăng nhanh.

Ngoài ra, một số chỉ tiêu cấp tín dụng cũng tiến sát giới hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Báo cáo của PVcomBank cho thấy, tổng mức cấp tín dụng đối với một khách hàng (bao gồm cả hạn mức chưa giải ngân) đạt 2.494 tỷ đồng, tương đương 13,71% vốn tự có, sát ngưỡng tối đa 14%. Đối với một khách hàng và người có liên quan, dư nợ cấp tín dụng đạt 3.957 tỷ đồng, tương đương 21,75% vốn tự có, tiến gần giới hạn 23% theo quy định.

Dù tốc độ tăng nợ xấu (nhóm 3 - 5) đã chậm lại, chỉ còn 2,5% so với mức gần 25% của năm trước, chất lượng tài sản của PVcomBank chưa cho thấy sự cải thiện thực chất. Quy mô nợ xấu vẫn tăng lên 4.598 tỷ đồng, trong đó, nợ có khả năng mất vốn tăng gần 20% lên 3.855 tỷ đồng, chiếm tới 84% tổng nợ xấu, cho thấy áp lực xử lý các khoản nợ rủi ro cao vẫn rất lớn.

Việc tỷ lệ nợ xấu giảm so với tổng dư nợ cho vay khách hàng, chủ yếu nhờ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn nợ xấu, chứ chưa phản ánh chất lượng tín dụng được cải thiện.

Trong khi đó, tỷ lệ bao phủ nợ xấu từ dự phòng rủi ro cho vay khách hàng của PVcomBank chỉ đạt 49,8%, thấp hơn mức trên 50% của phần lớn giai đoạn 2020 - 2024 và ở mức thấp so với mặt bằng ngành, phản ánh bộ đệm dự phòng vẫn còn khá mỏng.

Trong cơ cấu tài sản, PVcomBank gần như rút khỏi danh mục chứng khoán kinh doanh khi quy mô giảm 78% xuống còn 2.547 tỷ đồng, đồng thời tăng mạnh 27,1% danh mục chứng khoán đầu tư lên 43.504 tỷ đồng.

Thông tin từ PVcomBank cho thấy, danh mục cổ phiếu đã được thu hẹp dần qua các năm, ngân hàng không đầu tư mới, mà tập trung xử lý các khoản đầu tư cũ, đa phần các mã chứng khoán niêm yết đều là các công ty con của PVN được mua từ giai đoạn IPO với giá vốn cao.

Tuy nhiên, mức giá thị trường của các cổ phiếu này chưa thể so với mức giá đầu tư ban đầu, dẫn đến mức trích lập dự phòng cao. Đơn cử, dự phòng chứng khoán đầu tư ở mức 86,6 tỷ đồng và dự phòng chứng khoán kinh doanh tăng lên 16,1 tỷ đồng. PVcomBank cho biết, chưa thực hiện trích lập dự phòng đủ theo quy định cho hoạt động này.

PVcomBank vừa được chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu trên UPCoM với mã PCB, tương ứng vốn điều lệ 9.000 tỷ đồng. Ngày giao dịch đầu tiên dự kiến là 12/8/2026.

Dù chưa niêm yết, PVcomBank vẫn thuộc nhóm ngân hàng có quy mô lớn với tổng tài sản sát 280 nghìn tỷ đồng tại thời điểm cuối quý II/2026, vượt nhiều ngân hàng thương mại cổ phần đã niêm yết.

Được thành lập năm 2013 trên cơ sở hợp nhất Tổng Công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và Ngân hàng TMCP Phương Tây (WesternBank), PVcomBank phải xử lý nhiều tồn đọng từ giai đoạn trước, gồm các khoản nợ liên quan Vinashin, Vinalines. Đến cuối năm 2025, nhóm tài sản có khác chiếm khoảng 7,6% tổng tài sản, chủ yếu là các khoản phải thu từ hoạt động ủy thác đầu tư của PVFC trước đây./.

“Khối băng chìm” lãi dự thu và nợ ngoại bảng

Tính đến cuối quý II/2026, lãi, phí phải thu của PVcomBank tiếp tục tăng 18,3% lên 23.206 tỷ đồng. Quy mô khoản mục này cao gần gấp đôi thu nhập lãi ghi nhận trong 6 tháng (11.927 tỷ đồng) và thuộc nhóm cao trong hệ thống ngân hàng, chỉ đứng sau hai “ông lớn”, dù quy mô tài sản và dư nợ của PVcomBank nhỏ hơn đáng kể. Điều này cho thấy lượng thu nhập đã ghi nhận, nhưng chưa thu bằng tiền vẫn ở mức lớn, là chỉ tiêu cần tiếp tục theo dõi về chất lượng tài sản và khả năng hiện thực hóa dòng tiền.

Ngoài ra, các chỉ tiêu ngoại bảng cũng cho thấy áp lực về chất lượng tín dụng chưa giảm. Lãi và phí phải thu chưa thu được tăng lên 9.280 tỷ đồng, lọt top 5 toàn ngành. Trong khi đó, tổng nợ đã xử lý rủi ro, nhưng vẫn “treo” ngoại bảng đạt hơn 28.151 tỷ đồng, tăng 7,7%. Điều này phản ánh khối lượng các khoản nợ cần tiếp tục theo dõi và thu hồi của PVcomBank vẫn ở mức rất lớn./.

Tú Anh

Đọc thêm

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng, bảo đảm thu - nộp đúng quy định, quản lý chặt nguồn tiền và quyền lợi người tham gia.
Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

(TBTCO) - Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, hưu trí tự nguyện được kỳ vọng bổ sung một lớp an sinh cho người lao động. Đồng thời trở thành công cụ phúc lợi giúp doanh nghiệp thu hút, giữ chân nhân tài.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 19/09/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18006 18280 18856
CAD 18045 18320 18939
CHF 30891 31268 31915
CNY 0 3842 3938
EUR 29219 29439 30519
GBP 33950 34340 35278
HKD 0 3186 3388
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14562 15149
SGD 19817 20099 20679
THB 696 759 812
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 19/09/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30