Tín dụng tạo lực kéo giúp thu nhập lãi thuần tăng 22%, MSB báo lãi hơn 3.400 tỷ đồng

(TBTCO) - MSB báo lãi trước thuế 6 tháng đầu năm 2026 đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ. Kết quả này được dẫn dắt bởi tăng trưởng tín dụng và thu nhập lãi thuần tăng 21,8%, trong khi MSB tiếp tục mở rộng quy mô cho vay vượt 230.000 tỷ đồng, đồng thời duy trì kỷ luật quản trị rủi ro và các chỉ số an toàn.
aa
Đại hội đồng cổ đông MSB: Đặt kế hoạch lãi kỷ lục 8.000 tỷ đồng, bước đi chiến lược thành tập đoàn tài chính ROX Living nâng sở hữu tại MSB vượt 1%, danh sách cổ đông lớn đón thêm nhiều tên tuổi mới MSB phát hành cổ phiếu tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 37.000 tỷ đồng

Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB - mã CK: MSB) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2026 và 6 tháng đầu năm 2026.

Trong quý II/2026, MSB ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.532,3 tỷ đồng, tương đương cùng kỳ. Động lực tăng trưởng trong kỳ tiếp tục đến từ hoạt động tín dụng, với thu nhập lãi thuần duy trì đà tăng tích cực, tăng 16,1% lên 3.001 tỷ đồng, bù đắp cho một số mảng thu ngoài lãi biến động trái chiều.

MSB duy trì tăng trưởng tín dụng hợp lý, chủ động điều phối cơ cấu tài sản sinh lời và nguồn vốn, đồng thời linh hoạt thích ứng với diễn biến lãi suất trên thị trường.

Bên cạnh lãi từ hoạt động khác tăng 37,2% lên 185 tỷ đồng, các mảng thu ngoài lãi khác chưa ghi nhận nhiều bứt phá, tính chung tổng thu nhập hoạt động quý II/2026 đạt 3.395 tỷ đồng. Cơ cấu thu nhập theo đó tiếp tục dịch chuyển theo hướng hoạt động tín dụng giữ vai trò động lực chính, tỷ trọng thu ngoài lãi còn 11,6% so với tỷ trọng cao 26,9% cùng kỳ.

Đồng thời, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng giảm 21,9% trong quý II/2026, góp phần duy trì lợi nhuận của MSB ở mức ổn định.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Đà tăng trưởng của MSB trong 6 tháng đầu năm được dẫn dắt bởi hoạt động cốt lõi, khi thu nhập lãi thuần tăng 21,8% lên 6.199 tỷ đồng, góp phần đưa tổng thu nhập hoạt động đạt 7.045 tỷ đồng, tăng 3,7% cùng kỳ.

Dù tỷ trọng thu ngoài lãi còn 12%, MSB vẫn duy trì đà tăng trưởng lợi nhuận nhờ nền tảng tín dụng tích cực, đồng thời chi phí dự phòng giảm 4,1% còn 1.038 tỷ đồng.

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026, lợi nhuận trước thuế của MSB đạt 3.423 tỷ đồng, tăng 7,9% so với cùng kỳ, được hỗ trợ bởi đà tăng trưởng từ quý I/2026. Biên lãi thuần (NIM) đạt mức 3,17%, có xu hướng giảm nhẹ trong bối cảnh NIM toàn ngành chịu áp lực thu hẹp.

Đại diện MSB chia sẻ, trong bối cảnh thị trường vẫn còn nhiều yếu tố khó dự báo, MSB tiếp tục đặt chất lượng và hiệu quả tăng trưởng lên hàng đầu. Kết quả 6 tháng đầu năm cho thấy, MSB đang duy trì được sự cân bằng giữa mở rộng quy mô, củng cố nguồn thu cốt lõi và bảo đảm các chỉ số an toàn.

Về quy mô hoạt động, đến ngày 30/6/2026, tổng tài sản hợp nhất của MSB đạt hơn 440.998 tỷ đồng, tăng 8,17% so với cuối năm 2025 và tăng 29,2% so với cùng kỳ. Quy mô tài sản tiếp tục được mở rộng trên cơ sở cân đối giữa tăng trưởng tín dụng, huy động vốn và các chỉ tiêu an toàn thanh khoản.

Hoạt động tín dụng duy trì đà tăng tích cực với dư nợ cho vay khách hàng của ngân hàng đạt hơn 224.196 tỷ đồng, tăng 10,4% so với đầu năm và 12,9% so với cùng kỳ; dư nợ hợp nhất đạt hơn 230.420 tỷ đồng.

Trong đó, tín dụng doanh nghiệp chiếm tỷ trọng lớn với 157.548 tỷ đồng, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các ngành ưu tiên theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước; trong khi dư nợ cho vay khách hàng cá nhân đạt 66.647 tỷ đồng.

Ở chiều huy động, tiền gửi khách hàng hợp nhất đạt hơn 204.674 tỷ đồng. Đáng chú ý, tiền gửi có kỳ hạn tăng 12,6% so với cuối năm 2025 và tăng 23,2% so với cùng kỳ, tiếp tục củng cố nguồn vốn ổn định cho hoạt động kinh doanh. Bên cạnh đó, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) duy trì trên 47.280 tỷ đồng, nhờ các giải pháp tài khoản như sinh lời không ngừng, sinh lời tự động, quản lý dòng tiền và hệ sinh thái số dành cho cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp.

Về chất lượng tài sản, tổng nợ xấu của MSB cuối quý II/2026 đạt 5.826 tỷ đồng, nhờ tín dụng tăng trưởng tích cực, tỷ lệ nợ xấu trên dư nợ giảm từ 2,69% xuống 2,53%.

Tại thời điểm kết thúc tháng 6/2026, tỷ lệ nợ xấu riêng lẻ của MSB ở mức 1,64%; tỷ lệ nợ xấu hợp nhất ở mức 1,83%. Việc duy trì chất lượng tài sản trong vùng kiểm soát thể hiện nỗ lực của Ngân hàng trong công tác thẩm định, giám sát sau giải ngân, nhận diện sớm rủi ro và chủ động triển khai các phương án xử lý phù hợp.

Bên cạnh tăng trưởng các chỉ tiêu kinh doanh, MSB tiếp tục duy trì nền tảng quản trị rủi ro và thanh khoản ở mức an toàn. Đơn cử, tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) ở mức 66,76% và tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn ở mức 26,89%./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

Thanh tra chỉ rõ nhiều tồn tại, hạn chế trong hoạt động kinh doanh vàng tại Mi Hồng Bà Chiểu

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 vừa ban hành kết luận thanh tra đối với Công ty TNHH Mi Hồng Bà Chiểu, chỉ ra một số tồn tại trong công tác phòng, chống rửa tiền và việc xác định giá trị gia tăng trong hoạt động mua, bán, chế tác vàng trang sức mỹ nghệ.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

Hơn 267 triệu cổ phiếu sắp chào bán, PGBank tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa được chấp thuận chào bán thêm gần 267,3 triệu cổ phiếu ra công chúng, tổng giá trị hơn 2.672,9 tỷ đồng, chia thành 2 đợt. Nếu hoàn tất kế hoạch, vốn điều lệ ngân hàng sẽ cán mốc 10.000 tỷ đồng, tạo dư địa cho PGBank mở rộng hoạt động kinh doanh và thực hiện các kế hoạch đầu tư giai đoạn tới.
TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

TPBank hoàn tất nền tảng triển khai IRB, tự tin bước vào giai đoạn chuyển đổi theo Thông tư 14

(TBTCO) - Sở hữu các chỉ số tài chính mạnh là bệ phóng vững chắc để TPBank mở rộng quy mô một cách an toàn, hiệu quả và tối ưu hóa việc sử dụng vốn. Sau khi sớm hoàn tất phương pháp Tiêu chuẩn (SA), TPBank đã hoàn thiện các nền tảng trọng yếu về vốn, dữ liệu, mô hình đo lường rủi ro, công nghệ và quản trị để sẵn sàng trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam hoàn thành Giai đoạn chuyển đổi sang phương pháp Xếp hạng nội bộ (IRB) vào năm 2027 theo quy định Thông tư 14 của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).
Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

Nhóm Ngân hàng Thế giới huy động vốn tư nhân ở mức kỷ lục cho các nước đang phát triển

(TBTCO) - Trong năm tài khóa 2026, Nhóm Ngân hàng Thế giới đã huy động được nguồn vốn tư nhân cao nhất từ trước đến nay, đồng thời phát hành bảo lãnh ở mức cao kỷ lục để hỗ trợ các nền kinh tế đang phát triển.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 146,600
Hà Nội - PNJ 143,600 146,600
Đà Nẵng - PNJ 143,600 146,600
Miền Tây - PNJ 143,600 146,600
Tây Nguyên - PNJ 143,600 146,600
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 146,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,360 14,660
Miếng SJC Nghệ An 14,360 14,660
Miếng SJC Thái Bình 14,360 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,310 14,660
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,310 14,660
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,970 14,570
Trang sức 99.99 13,980 14,580
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,436 14,662
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,436 14,663
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 1,461
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 1,462
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,406 1,451
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 143,663
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,186 108,986
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,028 98,828
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,887 8,867
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,952 84,752
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,863 60,663
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,436 1,466
Cập nhật: 22/09/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18010 18284 18863
CAD 18027 18302 18920
CHF 30987 31365 32012
CNY 0 3842 3939
EUR 29231 29451 30532
GBP 34006 34396 35331
HKD 0 3185 3387
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14580 15167
SGD 19853 20135 20707
THB 697 760 813
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,254 29,277 30,663
JPY 160.86 161.15 170.9
GBP 34,157 34,249 35,434
AUD 18,187 18,253 18,945
CAD 18,206 18,264 18,936
CHF 31,179 31,276 32,201
SGD 19,961 20,023 20,810
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.37 18.11 19.71
THB 744.24 753.43 806.71
NZD 14,537 14,672 15,108
SEK - 2,598 2,689
DKK - 3,923 4,062
NOK - 2,708 2,808
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,963.02 - 6,730.53
TWD 739.18 - 894.99
SAR - 6,805.73 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18184 18284 19214
CAD 18201 18301 19315
CHF 31202 31232 32806
CNY 3824.9 3849.9 3985
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29404 29434 31159
GBP 34304 34354 36112
HKD 0 3305 0
JPY 161.88 162.38 172.92
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14692 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20006 20136 20868
THB 0 726.4 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Cập nhật: 22/09/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30