Đại hội đồng cổ đông MSB: Đặt kế hoạch lãi kỷ lục 8.000 tỷ đồng, bước đi chiến lược thành tập đoàn tài chính

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Năm 2026, MSB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 8.000 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay; đồng thời, lên kế hoạch tăng trưởng tín dụng 18% và phát hành cổ phiếu 20% nâng vốn điều lệ lên 37.440 tỷ đồng. Lãnh đạo MSB nhấn mạnh chiến lược trở thành tập đoàn tài chính, chuyển đổi mô hình TNEX Finance và mở rộng sang chứng khoán, quản lý quỹ, khai thác tệp "tài nguyên quý" 8 triệu khách hàng cá nhân, cùng doanh nghiệp.
aa
Mạnh mẽ tái cấu trúc, tín dụng MSB bứt phá đầu năm hướng đến mục tiêu 20% MSB giữ nhịp tăng trưởng 2025, với lãi trước thuế hơn 7.000 tỷ đồng và tín dụng tăng 15,8% MSB quyết tâm tái cấu trúc và mở rộng hệ sinh thái, hướng tới lãi kỷ lục 8.000 tỷ đồng

Tín dụng tăng 18%, phát hành cổ phiếu 20% nâng vốn vượt 37.000 tỷ đồng

Ngày 24/4, Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB - mã Ck: MSB) tổ chức Đại hội đồng cổ đông (ĐHĐCĐ) thường niên 2026 tại Hà Nội. Tại thời điểm biểu quyết có 281 cổ đông tham dự trực tiếp và ủy quyền, đại diện 79,3% số cổ phần có quyền biểu quyết.

Đại hội đồng cổ đông MSB
Ngân hàng MSB tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026.

Năm 2026, ngân hàng MSB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 8.000 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay và tăng 13% so với thực hiện năm 2025.

Hướng đến mốc 8.000 lãi trước thuế

Ngân hàng MSB đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 8.000 tỷ đồng, cao nhất từ trước đến nay và tăng 13% so với thực hiện năm 2025. MSB dự kiến tăng trưởng tín dụng 18%, đưa tổng dư nợ tín dụng (bao gồm cho vay tổ chức kinh tế, cá nhân và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) lên 244.000 tỷ đồng, đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%.

Ngân hàng cũng đặt mục tiêu tổng tài sản đạt 460.000 tỷ đồng, tăng 13% so với đầu năm; vốn huy động tại thị trường 1 và trái phiếu huy động vốn đạt 280.000 tỷ đồng, tăng 24%.

Về phương án phân phối lợi nhuận, thông tin từ MSB cho thấy, lợi nhuận còn lại sau thuế và trích lập các quỹ của năm 2025 là 4.558 tỷ đồng.

Tỷ lệ phát hành cổ phiếu tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu tại 31/12/2025 sau khi trích lập các quỹ dự kiến 20%. Qua đó, nâng vốn điều lệ từ 31.200 tỷ đồng lên 37.440 tỷ đồng.

“Phát hành cổ phiếu để tăng vốn cổ phần từ nguồn vốn chủ sở hữu nhằm củng cố vị thế cạnh tranh của MSB nhờ tăng quy mô, nâng cao các chỉ tiêu an toàn tài chính, hỗ trợ nguồn vốn tín dụng trung và dài hạn, nâng cấp cơ sở vật chất và đầu tư hệ thống cho ngân hàng” - Chủ tịch MSB nêu rõ.

Đại hội đồng cổ đông MSB
Nguồn: MSB.

Tại đại hội đồng cổ đông thường niên, cổ đông MSB tập trung chất vấn nhiều nội dung xoay quanh chiến lược, hiệu quả kinh doanh và định hướng dài hạn của ngân hàng. Trong đó, các vấn đề được quan tâm gồm tiến độ chuyển trụ sở, kế hoạch trả cổ tức tiền mặt, cũng như lộ trình thoái vốn tại TNEX Finance.

Bên cạnh đó, cổ đông đặc biệt chú ý đến kết quả kinh doanh quý I/2026, kế hoạch xử lý và thu hồi nợ xấu, cũng như khả năng ứng phó với biến động lãi suất liên ngân hàng. Về chiến lược, việc MSB quyết định tái gia nhập lĩnh vực chứng khoán và quản lý quỹ trong bối cảnh cạnh tranh cao cũng nhận được nhiều câu hỏi. Ngoài ra, vấn đề định giá cổ phiếu MSB còn thấp so với các ngân hàng cùng ngành và kỳ vọng cải thiện giá trị thị trường cũng là nội dung được cổ đông quan tâm.

Trả lời thắc mắc của cổ đông về việc trả cổ tức bằng tiền mặt, Tổng giám đốc MSB Nguyễn Hoàng Linh cho biết, thời gian gần đây, thanh khoản cổ phiếu MSB khá tốt, giá cổ phiếu tiệm cận giá trị sổ sách. Trung bình hàng năm, ngân hàng đều chia cổ tức ở mức 20%. Với đặc thù thanh khoản cổ phiếu tốt, việc chia cổ tức bằng cổ phiếu được đánh giá mang lại lợi ích kinh tế cao hơn cho cổ đông so với chia bằng tiền mặt.

Cũng theo lãnh đạo MSB, định hướng chiến lược trong thời gian tới, MSB cần tiếp tục củng cố vốn điều lệ để phục vụ các kế hoạch mở rộng như đầu tư vào công ty con, hoặc xem xét mở thêm chi nhánh tại các Trung tâm tài chính quốc tế tại Đà Nẵng hoặc TP. Hồ Chí Minh.

Sau đợt chia cổ tức này, vốn điều lệ của MSB dự kiến tiệm cận mức gần 40.000 tỷ đồng, qua đó tạo nền tảng tốt hơn cho hoạt động dài hạn cũng như các kế hoạch đầu tư trong tương lai.

Về thời điểm chuyển sang trụ sở mới, Tổng giám đốc MSB cho biết, công trình đang được xây dựng và dự kiến ngân hàng sẽ chuyển sang trong khoảng 3 tháng tới, vào khoảng tháng 6/2026.

Tăng trưởng quý I/2026 tích cực, khai thác “tài nguyên” 8 triệu khách hàng

Thông tin về kết quả kinh doanh năm 2026, Tổng giám đốc MSB cho biết, tổng tài sản tính đến cuối quý I đạt 412.900 tỷ đồng, tức tăng 31,2% so với cuối năm 2025. Dư nợ cho vay khách hàng đạt khoảng 205.000 tỷ đồng, tăng gần 10.000 tỷ đồng.

“Tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của MSB theo khống chế của Ngân hàng Nhà nước đạt 3,81%, đây là tăng trưởng hợp nhất bao gồm MSB và công ty TNex Finance” - ông Linh nêu rõ.

Lợi nhuận quý I/2026 đạt khoảng 1.890 tỷ đồng, tăng khoảng 15,9% so với cùng kỳ. Các chỉ tiêu rủi ro tiếp tục được kiểm soát trong giới hạn cho phép, trong đó tỷ lệ LDR (tỷ lệ cho vay/tổng huy động) ở mức 42,9%, thấp hơn quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đảm bảo thanh khoản an toàn.

Đại hội đồng cổ đông MSB
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Một nội dung đáng chú ý khác tại đại hội là kế hoạch chuyển đổi Công ty Tài chính TNHH MTV TNEX (TNEX Finance) từ mô hình công ty tài chính chuyên ngành sang công ty tài chính tổng hợp đã được ĐHĐCĐ thông qua. Hiện TNEX Finance là tổ chức tín dụng phi ngân hàng do MSB sở hữu 100% và hoạt động theo giấy phép dành cho công ty tài chính tín dụng tiêu dùng.

Trước đó, năm 2025, MSB từng lên kế hoạch thoái vốn khỏi TNEX Finance nhằm tập trung vào các hoạt động cốt lõi của ngân hàng và đã ghi nhận sự quan tâm từ một số đối tác.

Hướng tới mô hình tập đoàn tài chính

“MSB xác định sẽ trở thành tập đoàn tài chính. Đối với tập đoàn tài chính, để phục vụ cho đầy đủ các nhu cầu của khách hàng doanh nghiệp, cá nhân, đặc biệt là khách hàng Priority Banking (khách hàng ưu tiên), chúng tôi phải hoàn thiện hệ sinh thái, bao gồm công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, thậm chí là công ty bảo hiểm nếu có thể..., còn công ty tài chính tiêu dùng hiện nay chúng ta có”.

Ông Nguyễn Hoàng Linh - Tổng giám đốc MSB.

Trả lời cổ đông về kế hoạch với TNEX Finance, lãnh đạo MSB cho biết, Trong thời gian tới MSB sẽ chưa thoái vốn khỏi TNEX.

Trong dài hạn 5 - 7 năm tới, kỳ vọng có thể định giá TNEX ở mức từ 1 - 2 tỷ USD, dựa trên nền tảng công nghệ, quy mô khách hàng và khả năng sinh lời của mảng tài chính tiêu dùng.

Song song với đó, ĐHĐCĐ MSB tiếp tục thông qua kế hoạch góp vốn, mua cổ phần tại một công ty quản lý quỹ để đưa đơn vị này trở thành công ty con, qua đó, mở rộng hiện diện sang lĩnh vực chứng khoán và quản lý tài sản.

Trước đó, năm 2025, ĐHĐCĐ MSB cũng đã phê duyệt chủ trương góp vốn, mua cổ phần công ty quản lý quỹ. MSB dự kiến tìm kiếm các công ty chứng khoán, quản lý quỹ có quy mô vốn 300 - 500 tỷ đồng, sau đó, lên kế hoạch tăng vốn sau, giúp MSB tạo ra mô hình tài chính toàn diện.

Tổng giám đốc Nguyễn Hoàng Linh cho biết, MSB đã từng có công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ, nhưng ở giai đoạn đó chiến lược có sự thay đổi. Hiện nay, ngân hàng quay trở lại để phát triển theo định hướng tập đoàn tài chính, với kỳ vọng các mảng này sẽ tăng trưởng bền vững và hiệu quả nhờ nền tảng khách hàng sẵn có, khi MSB hiện đang sở hữu khoảng 8 triệu khách hàng cá nhân - một nguồn “tài nguyên” quý để hỗ trợ hoạt động của công ty chứng khoán. Còn để vấn cho khách hàng cao cấp, ngân hàng cũng không thể thiếu được hoạt động đầu tư quỹ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

Tín dụng tiếp đà tăng, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện dần từ cuối năm 2026

(TBTCO) - Thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực khi tín dụng tăng 5,71% tính đến cuối tháng 5, vượt xa tốc độ huy động vốn và khiến chênh lệch giữa tín dụng - huy động ngày càng nới rộng. Tuy nhiên, giới phân tích kỳ vọng, nguồn vốn huy động sẽ cải thiện dần từ cuối năm 2026 nhờ sự hỗ trợ của nhiều động lực trong và ngoài hệ thống.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Kim TT/AVPL 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,430 ▼450K 13,830 ▼550K
Nguyên Liệu 99.99 13,350 ▼450K 13,550 ▼450K
Nguyên Liệu 99.9 13,300 ▼450K 13,500 ▼450K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,400 ▼400K 13,800 ▼500K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,350 ▼400K 13,750 ▼500K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,280 ▼400K 13,730 ▼500K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Nghệ An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
Miếng SJC Thái Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,330 ▼550K 13,830 ▼550K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,020 ▼550K 13,720 ▼550K
Trang sức 99.99 13,030 ▼550K 13,730 ▼550K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,332 ▼54K 1,382 ▼54K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,332 ▼54K 1,383 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,312 ▼54K 1,367 ▼54K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,347 ▼5346K 135,347 ▼5346K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,185 ▼4051K 102,685 ▼4051K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,615 ▼3673K 93,115 ▼3673K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,045 ▲66311K 83,545 ▲74861K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,354 ▼3149K 79,854 ▼3149K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,766 ▼45146K 5,716 ▼53696K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 20:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17916 18191 18770
CAD 18359 18635 19256
CHF 32297 32680 33334
CNY 0 3842 3935
EUR 29769 29992 31075
GBP 34437 34829 35767
HKD 0 3228 3430
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14988 15578
SGD 19896 20178 20759
THB 715 778 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26148 26148 26410
AUD 18096 18196 19121
CAD 18545 18645 19660
CHF 32542 32572 34162
CNY 3822.3 3847.3 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29962 29992 31715
GBP 34752 34802 36562
HKD 0 3355 0
JPY 160.51 161.01 171.52
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15098 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20057 20187 20920
THB 0 744.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 11000000 11000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 20:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80