Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
aa

Lợi nhuận tài chính nhiều doanh nghiệp tăng mạnh hai chữ số

Mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức cao tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư tài chính, qua đó, đóng góp tích cực vào kết quả lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết.

Tổng lợi nhuận từ hoạt động tài chính của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt khoảng 3.800,5 tỷ đồng quý I/2026, tăng 14% cùng kỳ năm trước. Trong đó, Tập đoàn Bảo Việt dẫn đầu với 2.958,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 15,4%. Tuy nhiên, quy mô đầu tư của Bảo Việt vượt trội do gồm cả mảng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục
Nguồn: Báo cáo tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết. Đồ họa: Ánh Tuyết

Trong nhóm phi nhân thọ và tái bảo hiểm, PVI Holdings ghi nhận lợi nhuận từ hoạt động tài chính ở mức cao 271,9 tỷ đồng, tăng 17,4% cùng kỳ; Tái Bảo hiểm Quốc gia VINARE đạt 96,1 tỷ đồng, tăng 32,3%...

Ba doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận hoạt động tài chính sụt giảm trong quý I/2026 gồm: BSH, BIC và Bảo hiểm Bảo Long.

Trong đó, BSH giảm mạnh nhất khi lợi nhuận tài chính chỉ đạt 5,5 tỷ đồng, giảm 72,1% so với cùng kỳ. Nguyên nhân đáng chú ý là tổng các khoản đầu tư tài chính của BSH giảm 16%, xuống còn 2.418,6 tỷ đồng, khiến nền tài sản sinh lời thu hẹp rõ rệt.

Cơ cấu đầu tư của BSH trong quý I/2026 vẫn nghiêng mạnh về ngắn hạn, với tỷ trọng 70,7%. Đáng chú ý, doanh nghiệp bắt đầu gia tăng nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp dài hạn với quy mô 386,6 tỷ đồng.

BIC ghi nhận lợi nhuận hoạt động tài chính đạt 91,2 tỷ đồng, giảm 42,8% cùng kỳ, dù tổng các khoản đầu tư tài chính vẫn tăng 12% lên 7.415,9 tỷ đồng.

Linh hoạt phân bổ tài sản theo diễn biến thị trường

“Xét về chiến lược phân bổ tài sản, trong thời điểm này, khi lãi suất tiền gửi ở mức cao, chúng tôi cần chuyển dịch sang tiền gửi trước. Khi thị trường ổn định trở lại và khoảng chênh lệch giữa tiền gửi và trái phiếu đủ rộng, khi đó mới xem xét tăng tỷ trọng đầu tư trái phiếu. Tùy theo diễn biến của thị trường, chúng ta phải có cái cách phân bổ tài sản thế nào mà tối ưu nhất” - bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc PVI AM.

Lý giải sự sụt giảm lợi nhuận hoạt động tài chính, theo bà Đoàn Thị Thu Huyền - Tổng Giám đốc BIC, trong quý I/2025, BIC đã thực hiện chốt lời một khoản đầu tư cổ phiếu theo quyết định của Ủy ban Đầu tư và Hội đồng Quản trị, qua đó, ghi nhận lợi nhuận cho doanh nghiệp. Quyết định chốt lời được đưa ra đúng thời điểm, bởi sau đó giá cổ phiếu của doanh nghiệp này đã giảm rất sâu. Quý I năm nay, BIC chưa thực hiện các giao dịch tương tự nên lợi nhuận ghi nhận sự sụt giảm.

Cơ cấu đầu tư của BIC trong quý I/2026 tiếp tục thiên về ngắn hạn với tỷ trọng 74,6%, tương ứng 4.989,4 tỷ đồng. So với cùng kỳ, danh mục đầu tư ngắn hạn gần như đi ngang, còn đầu tư dài hạn tăng mạnh hơn 62%. Đồng thời, quy mô chứng khoán kinh doanh cũng tăng 17,5% lên 562,2 tỷ đồng, phản ánh xu hướng đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Còn Bảo hiểm Bảo Long có lợi nhuận tài chính 14 tỷ đồng, giảm 3,1%, trong khi tổng đầu tư tài chính tăng 9,7% lên 1.705,8 tỷ đồng. Về cơ cấu đầu tư, tỷ trọng đầu tư ngắn hạn của Bảo hiểm Bảo Long chỉ 27,4%, thuộc nhóm thấp nhất ngành. Trong khi mặt bằng lãi suất bắt đầu tăng mạnh từ quý IV/2025, Bảo Long mới đẩy mạnh dịch chuyển sang danh mục dài hạn từ đầu năm 2026, khiến khả năng tận dụng “sóng” lãi suất chưa thực sự rõ nét.

Tận dụng cơ hội từ “sóng” lãi suất

Chia sẻ gần đây, bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý quỹ PVI (PVI AM) cho biết, trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động về lãi suất, chiến lược phân bổ tài sản của PVI AM trước hết là ưu tiên các tài sản có tính thanh khoản cao, bởi những biến động của thị trường cũng phần nào phản ánh sự thiếu ổn định về thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Giữa các loại tài sản truyền thống của PVI gồm: tiền gửi, trái phiếu và một phần nhỏ cổ phiếu, Công ty Quản lý quỹ PVI luôn xem xét chênh lệch lợi suất giữa các loại tài sản. Thông thường, chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi và trái phiếu vào khoảng 4%. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, đặc biệt là trong quý I/2026, khi lãi suất tiền gửi có thời điểm lên tới khoảng 9%, việc phân bổ vốn sang tiền gửi trở nên có lợi hơn cả về thanh khoản lẫn hiệu quả đầu tư, bởi khoảng cách lợi suất giữa trái phiếu và tiền gửi chỉ còn khoảng 2%.

Ngoài ra, trước những diễn biến của thị trường thời gian qua, hệ thống PVI cũng đã huy động các nguồn lực nhằm tối đa hóa dòng tiền và thực hiện khóa lãi suất ở các kỳ hạn dài, qua đó, tận dụng mức lãi suất tiền gửi dài hạn trong thời gian dài nhất có thể.

Lý giải việc gia tăng đầu tư dài hạn trong năm 2025, lãnh đạo Bảo hiểm BIC cho biết nguyên nhân đến từ việc tăng đầu tư trái phiếu dài hạn và tăng tỷ trọng tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.

“Cuối năm 2025, lãi suất tiền gửi bật tăng mạnh, BIC chủ động cơ cấu gửi tiền kỳ hạn dài hơn để tận dụng “sóng” lãi suất. Danh mục trái phiếu cuối năm 2025 là 1.043 tỷ đồng, tăng thêm gần 200 tỷ đồng so với cuối năm 2024 và chiếm khoảng 15% danh mục đầu tư của BIC” - lãnh đạo BIC thông tin.

Về cơ cấu danh mục trái phiếu, theo lãnh đạo Bảo hiểm BIC, 100% danh mục trái phiếu là đầu tư vào các trái phiếu tăng vốn cấp 2 của các ngân hàng thương mại lớn nên tính an toàn và thanh khoản tốt. Việc tăng đầu tư vào trái phiếu ngân hàng vì vậy không làm gia tăng rủi ro, mà còn giúp BIC cải thiện tỷ suất sinh lời của hoạt động đầu tư trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp trong suốt 9 tháng đầu năm 2025.

Hơn 350.000 tỷ đồng đầu tư tài chính, chiến lược phân bổ vốn ra sao?

Tổng các khoản đầu tư tài chính quý I/2026 của nhóm doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết đạt khoảng 357.758,7 tỷ đồng, tăng 20,7% cùng kỳ. Tập đoàn Bảo hiểm tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo với 290.399,3 tỷ đồng, tăng 22,7%, quy mô danh mục đầu tư lớn từ cả khối nhân thọ và phi nhân thọ.

PVI đứng thứ hai với 18.896,2 tỷ đồng đầu tư tài chính, tăng 16,6% cùng kỳ và bỏ xa các doanh nghiệp còn lại.

Nhóm doanh nghiệp có quy mô đầu tư tài chính trên 5.000 tỷ đồng gồm: BIC với 7.415,9 tỷ đồng, tăng 12%; VINARE đạt 6.304,7 tỷ đồng, tăng 11,3%; PJICO đạt 5.413,9 tỷ đồng, tăng 14,4%; MIC đạt 5.070 tỷ đồng, tăng 18,6%.

Cơ cấu phân bổ đầu tư tài chính ngắn hạn cũng cho thấy chiến lược khác nhau giữa các doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp duy trì tỷ trọng đầu tư ngắn hạn rất cao như: MIC và ABIC ở mức 100%; Bảo Minh 86,6%; PJICO 81,4%; PVI 75% hay PTI 74,7%.

Trong khi đó, Bảo Long chỉ phân bổ 27,4% tài sản đầu tư vào ngắn hạn, còn DBV, Hanoi Re và VINARE duy trì tỷ trọng quanh 50%.

Theo lãnh đạo Bảo hiểm BIC, định hướng chiến lược đầu tư của doanh nghiệp luôn là an toàn, thanh khoản, hiệu quả và quá trình ra quyết định được cân nhắc kỹ lưỡng bởi Ủy ban Đầu tư gồm các chuyên gia tài chính giàu kinh nghiệm đến từ BIDV, Fairfax và BIC.

Cùng chung quan điểm, Tổng Giám đốc PVI AM cũng nhấn mạnh nguyên tắc về quản lý đầu tư, các đơn vị bảo hiểm có đặc thù rất khác so với các tổ chức đầu tư khác như quỹ đầu tư.

Đối với hệ thống bảo hiểm PVI, yêu cầu quan trọng đầu tiên là phải đảm bảo tính thanh khoản của hệ thống và đảm bảo các nghĩa vụ chi trả cho các công ty bảo hiểm. Thứ hai là phải tuân thủ kỷ luật đầu tư, cũng như quản trị rủi ro. Đây là những nguyên tắc ưu tiên hàng đầu khi chúng tôi thực hiện các hoạt động đầu tư.

“Liên quan đến các hạn mức được phép đầu tư, chúng tôi duy trì chính sách phân bổ tài sản một cách linh hoạt theo diễn biến của thị trường” - bà Giao nêu rõ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

Tỷ giá USD hôm nay (24/7): USD đồng loạt tăng khi Mỹ áp thuế mới với hơn 60 đối tác, trong đó có Việt Nam

(TBTCO) - Sáng 24/7, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng mạnh 11 đồng lên 25.283 đồng, trong khi USD tại các ngân hàng đồng loạt đi lên. Chỉ số DXY tăng lên 101,44 điểm, tiến sát đỉnh một năm. Cùng lúc, Mỹ áp thuế nhập khẩu mới 10 - 12,5% với hơn 60 đối tác thương mại, trong đó có Việt Nam; còn Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) giữ nguyên lãi suất.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▼100K
Trang sức 99.9 13,490 ▲150K 14,190 ▲150K
Trang sức 99.99 13,500 ▲150K 14,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1236K 14,302 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1236K 14,303 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,385 ▲1248K 1,425 ▲1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,385 ▲1248K 1,426 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,355 ▲1221K 1,405 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,109 ▲1485K 139,109 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,736 ▲86275K 105,536 ▲95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 859 ▼84020K 957 ▼93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,064 ▲916K 85,864 ▲916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,227 ▼64168K 8,207 ▼72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,944 ▲625K 58,744 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cập nhật: 27/07/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17889 18163 18736
CAD 18153 18429 19042
CHF 31636 32016 32657
CNY 0 3847 3939
EUR 29381 29602 30678
GBP 34334 34725 35657
HKD 0 3225 3426
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14951 15535
SGD 19857 20139 20714
THB 700 763 816
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26128 26492
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,515
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,517 29,541 30,950
JPY 156.55 156.83 166.3
GBP 34,528 34,621 35,812
AUD 18,076 18,141 18,828
CAD 18,348 18,407 19,085
CHF 31,916 32,015 32,961
SGD 19,999 20,061 20,845
CNY - 3,816 3,961
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.56 17.27 18.78
THB 747.71 756.94 810.33
NZD 14,933 15,072 15,522
SEK - 2,675 2,770
DKK - 3,948 4,087
NOK - 2,702 2,802
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.95 - 6,801.44
TWD 734.45 - 889.64
SAR - 6,890.77 7,261.64
KWD - 83,190 88,505
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,520
EUR 29,478 29,596 30,788
GBP 34,544 34,683 35,713
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 31,779 31,907 32,829
JPY 156.93 157.56 165.40
AUD 18,076 18,149 18,746
SGD 20,074 20,155 20,746
THB 764 767 803
CAD 18,370 18,444 19,022
NZD 15,037 15,581
KRW 17.20 19.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26495
AUD 18075 18175 19100
CAD 18346 18446 19461
CHF 31911 31941 33527
CNY 3827.9 3852.9 3988.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29580 29610 31332
GBP 34658 34708 36463
HKD 0 3355 0
JPY 157.41 157.91 168.45
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15062 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20036 20166 20889
THB 0 729.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13900000 13900000 14300000
SBJ 12800000 12800000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,510
USD20 26,135 26,185 26,510
USD1 24,029 26,185 26,557
AUD 18,103 18,203 19,336
EUR 29,348 29,448 31,146
CAD 18,283 18,383 19,716
SGD 20,103 20,253 20,835
JPY 157.79 159.29 165.07
GBP 34,522 34,672 35,781
XAU 13,748,000 0 14,152,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80