Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
aa

Lợi nhuận tài chính nhiều doanh nghiệp tăng mạnh hai chữ số

Mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức cao tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư tài chính, qua đó, đóng góp tích cực vào kết quả lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết.

Tổng lợi nhuận từ hoạt động tài chính của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt khoảng 3.800,5 tỷ đồng quý I/2026, tăng 14% cùng kỳ năm trước. Trong đó, Tập đoàn Bảo Việt dẫn đầu với 2.958,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 15,4%. Tuy nhiên, quy mô đầu tư của Bảo Việt vượt trội do gồm cả mảng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục
Nguồn: Báo cáo tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết. Đồ họa: Ánh Tuyết

Trong nhóm phi nhân thọ và tái bảo hiểm, PVI Holdings ghi nhận lợi nhuận từ hoạt động tài chính ở mức cao 271,9 tỷ đồng, tăng 17,4% cùng kỳ; Tái Bảo hiểm Quốc gia VINARE đạt 96,1 tỷ đồng, tăng 32,3%...

Ba doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận hoạt động tài chính sụt giảm trong quý I/2026 gồm: BSH, BIC và Bảo hiểm Bảo Long.

Trong đó, BSH giảm mạnh nhất khi lợi nhuận tài chính chỉ đạt 5,5 tỷ đồng, giảm 72,1% so với cùng kỳ. Nguyên nhân đáng chú ý là tổng các khoản đầu tư tài chính của BSH giảm 16%, xuống còn 2.418,6 tỷ đồng, khiến nền tài sản sinh lời thu hẹp rõ rệt.

Cơ cấu đầu tư của BSH trong quý I/2026 vẫn nghiêng mạnh về ngắn hạn, với tỷ trọng 70,7%. Đáng chú ý, doanh nghiệp bắt đầu gia tăng nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp dài hạn với quy mô 386,6 tỷ đồng.

BIC ghi nhận lợi nhuận hoạt động tài chính đạt 91,2 tỷ đồng, giảm 42,8% cùng kỳ, dù tổng các khoản đầu tư tài chính vẫn tăng 12% lên 7.415,9 tỷ đồng.

Linh hoạt phân bổ tài sản theo diễn biến thị trường

“Xét về chiến lược phân bổ tài sản, trong thời điểm này, khi lãi suất tiền gửi ở mức cao, chúng tôi cần chuyển dịch sang tiền gửi trước. Khi thị trường ổn định trở lại và khoảng chênh lệch giữa tiền gửi và trái phiếu đủ rộng, khi đó mới xem xét tăng tỷ trọng đầu tư trái phiếu. Tùy theo diễn biến của thị trường, chúng ta phải có cái cách phân bổ tài sản thế nào mà tối ưu nhất” - bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc PVI AM.

Lý giải sự sụt giảm lợi nhuận hoạt động tài chính, theo bà Đoàn Thị Thu Huyền - Tổng Giám đốc BIC, trong quý I/2025, BIC đã thực hiện chốt lời một khoản đầu tư cổ phiếu theo quyết định của Ủy ban Đầu tư và Hội đồng Quản trị, qua đó, ghi nhận lợi nhuận cho doanh nghiệp. Quyết định chốt lời được đưa ra đúng thời điểm, bởi sau đó giá cổ phiếu của doanh nghiệp này đã giảm rất sâu. Quý I năm nay, BIC chưa thực hiện các giao dịch tương tự nên lợi nhuận ghi nhận sự sụt giảm.

Cơ cấu đầu tư của BIC trong quý I/2026 tiếp tục thiên về ngắn hạn với tỷ trọng 74,6%, tương ứng 4.989,4 tỷ đồng. So với cùng kỳ, danh mục đầu tư ngắn hạn gần như đi ngang, còn đầu tư dài hạn tăng mạnh hơn 62%. Đồng thời, quy mô chứng khoán kinh doanh cũng tăng 17,5% lên 562,2 tỷ đồng, phản ánh xu hướng đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Còn Bảo hiểm Bảo Long có lợi nhuận tài chính 14 tỷ đồng, giảm 3,1%, trong khi tổng đầu tư tài chính tăng 9,7% lên 1.705,8 tỷ đồng. Về cơ cấu đầu tư, tỷ trọng đầu tư ngắn hạn của Bảo hiểm Bảo Long chỉ 27,4%, thuộc nhóm thấp nhất ngành. Trong khi mặt bằng lãi suất bắt đầu tăng mạnh từ quý IV/2025, Bảo Long mới đẩy mạnh dịch chuyển sang danh mục dài hạn từ đầu năm 2026, khiến khả năng tận dụng “sóng” lãi suất chưa thực sự rõ nét.

Tận dụng cơ hội từ “sóng” lãi suất

Chia sẻ gần đây, bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý quỹ PVI (PVI AM) cho biết, trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động về lãi suất, chiến lược phân bổ tài sản của PVI AM trước hết là ưu tiên các tài sản có tính thanh khoản cao, bởi những biến động của thị trường cũng phần nào phản ánh sự thiếu ổn định về thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Giữa các loại tài sản truyền thống của PVI gồm: tiền gửi, trái phiếu và một phần nhỏ cổ phiếu, Công ty Quản lý quỹ PVI luôn xem xét chênh lệch lợi suất giữa các loại tài sản. Thông thường, chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi và trái phiếu vào khoảng 4%. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, đặc biệt là trong quý I/2026, khi lãi suất tiền gửi có thời điểm lên tới khoảng 9%, việc phân bổ vốn sang tiền gửi trở nên có lợi hơn cả về thanh khoản lẫn hiệu quả đầu tư, bởi khoảng cách lợi suất giữa trái phiếu và tiền gửi chỉ còn khoảng 2%.

Ngoài ra, trước những diễn biến của thị trường thời gian qua, hệ thống PVI cũng đã huy động các nguồn lực nhằm tối đa hóa dòng tiền và thực hiện khóa lãi suất ở các kỳ hạn dài, qua đó, tận dụng mức lãi suất tiền gửi dài hạn trong thời gian dài nhất có thể.

Lý giải việc gia tăng đầu tư dài hạn trong năm 2025, lãnh đạo Bảo hiểm BIC cho biết nguyên nhân đến từ việc tăng đầu tư trái phiếu dài hạn và tăng tỷ trọng tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.

“Cuối năm 2025, lãi suất tiền gửi bật tăng mạnh, BIC chủ động cơ cấu gửi tiền kỳ hạn dài hơn để tận dụng “sóng” lãi suất. Danh mục trái phiếu cuối năm 2025 là 1.043 tỷ đồng, tăng thêm gần 200 tỷ đồng so với cuối năm 2024 và chiếm khoảng 15% danh mục đầu tư của BIC” - lãnh đạo BIC thông tin.

Về cơ cấu danh mục trái phiếu, theo lãnh đạo Bảo hiểm BIC, 100% danh mục trái phiếu là đầu tư vào các trái phiếu tăng vốn cấp 2 của các ngân hàng thương mại lớn nên tính an toàn và thanh khoản tốt. Việc tăng đầu tư vào trái phiếu ngân hàng vì vậy không làm gia tăng rủi ro, mà còn giúp BIC cải thiện tỷ suất sinh lời của hoạt động đầu tư trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp trong suốt 9 tháng đầu năm 2025.

Hơn 350.000 tỷ đồng đầu tư tài chính, chiến lược phân bổ vốn ra sao?

Tổng các khoản đầu tư tài chính quý I/2026 của nhóm doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết đạt khoảng 357.758,7 tỷ đồng, tăng 20,7% cùng kỳ. Tập đoàn Bảo hiểm tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo với 290.399,3 tỷ đồng, tăng 22,7%, quy mô danh mục đầu tư lớn từ cả khối nhân thọ và phi nhân thọ.

PVI đứng thứ hai với 18.896,2 tỷ đồng đầu tư tài chính, tăng 16,6% cùng kỳ và bỏ xa các doanh nghiệp còn lại.

Nhóm doanh nghiệp có quy mô đầu tư tài chính trên 5.000 tỷ đồng gồm: BIC với 7.415,9 tỷ đồng, tăng 12%; VINARE đạt 6.304,7 tỷ đồng, tăng 11,3%; PJICO đạt 5.413,9 tỷ đồng, tăng 14,4%; MIC đạt 5.070 tỷ đồng, tăng 18,6%.

Cơ cấu phân bổ đầu tư tài chính ngắn hạn cũng cho thấy chiến lược khác nhau giữa các doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp duy trì tỷ trọng đầu tư ngắn hạn rất cao như: MIC và ABIC ở mức 100%; Bảo Minh 86,6%; PJICO 81,4%; PVI 75% hay PTI 74,7%.

Trong khi đó, Bảo Long chỉ phân bổ 27,4% tài sản đầu tư vào ngắn hạn, còn DBV, Hanoi Re và VINARE duy trì tỷ trọng quanh 50%.

Theo lãnh đạo Bảo hiểm BIC, định hướng chiến lược đầu tư của doanh nghiệp luôn là an toàn, thanh khoản, hiệu quả và quá trình ra quyết định được cân nhắc kỹ lưỡng bởi Ủy ban Đầu tư gồm các chuyên gia tài chính giàu kinh nghiệm đến từ BIDV, Fairfax và BIC.

Cùng chung quan điểm, Tổng Giám đốc PVI AM cũng nhấn mạnh nguyên tắc về quản lý đầu tư, các đơn vị bảo hiểm có đặc thù rất khác so với các tổ chức đầu tư khác như quỹ đầu tư.

Đối với hệ thống bảo hiểm PVI, yêu cầu quan trọng đầu tiên là phải đảm bảo tính thanh khoản của hệ thống và đảm bảo các nghĩa vụ chi trả cho các công ty bảo hiểm. Thứ hai là phải tuân thủ kỷ luật đầu tư, cũng như quản trị rủi ro. Đây là những nguyên tắc ưu tiên hàng đầu khi chúng tôi thực hiện các hoạt động đầu tư.

“Liên quan đến các hạn mức được phép đầu tư, chúng tôi duy trì chính sách phân bổ tài sản một cách linh hoạt theo diễn biến của thị trường” - bà Giao nêu rõ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/11: Giá vàng trong nước tăng, vàng thế giới quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/11: Giá vàng trong nước tăng, vàng thế giới quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về quanh 3.931 USD/ounce, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước tiếp tục tăng, có nơi lên đến 900.000 đồng/lượng.
Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

Bảo hiểm BSH "đảo chiều" lợi nhuận sau 9 tháng, sớm vượt kế hoạch năm

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Bảo hiểm BSH lãi trước thuế 61,9 tỷ đồng, đảo chiều so với cùng kỳ, hoàn thành 126% kế hoạch. Dù phí bảo hiểm gốc giảm, lợi nhuận gộp kinh doanh bảo hiểm vẫn gấp hơn 5,3 lần, đạt kỷ lục 114,4 tỷ đồng. Danh mục đầu tư tài chính gần 2.200 tỷ đồng tiếp tục đóng góp vào nguồn thu.
Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

Chuyển đổi số tài chính: Đổi mới phải đi cùng khả năng chống chịu

(TBTCO) - Công nghệ tài chính, trí tuệ nhân tạo (AI) và các mô hình tài chính số đang mở ra cơ hội nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ. Tuy nhiên, để đổi mới bền vững, hệ thống tài chính cần tăng cường quản trị rủi ro, bảo đảm an toàn vận hành và nâng cao khả năng phục hồi trước những sự cố công nghệ.
PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

PGBank gia hạn đăng ký mua cổ phiếu đến giữa tháng 12, dự kiến huy động 1.500 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank vừa gia hạn đăng ký và nộp tiền mua cổ phiếu đến ngày 14/12/2026. Trong đợt 1, ngân hàng dự kiến phát hành 150 triệu cổ phiếu với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, huy động tối đa 1.500 tỷ đồng. Động thái này diễn ra trong bối cảnh PGBank đang mở rộng quy mô hoạt động, lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 630 tỷ đồng, tăng 27%.
Dự kiến chấm điểm, xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân theo phương pháp mới từ năm 2028

Dự kiến chấm điểm, xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân theo phương pháp mới từ năm 2028

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng dự thảo Thông tư mới về xếp hạng quỹ tín dụng nhân dân, dự kiến thực hiện từ năm 2028 trên cơ sở số liệu kiểm toán năm 2027. Điểm mới là chuyển từ thang 100 điểm sang 4 điểm, kết hợp đánh giá định lượng và định tính, đồng thời bổ sung, điều chỉnh nhiều chỉ tiêu và trọng số đánh giá.
Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay 3/11: USD hạ nhiệt, hai ngân hàng trung ương lớn dự kiến tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 3/11, tỷ giá trung tâm giảm 1 đồng, xuống 25.630 đồng; USD ngân hàng đồng loạt giảm, trong khi DXY nhích 0,02%, lên 101,8 điểm. Thị trường hướng sự chú ý tới cuộc bầu cử giữa kỳ tại Mỹ cùng quyết định lãi suất của các ngân hàng trung ương, với dự báo Ngân hàng Dự trữ Australia (RBA) và Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) sẽ cùng tăng lãi suất thêm 25 điểm cơ bản.
Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 28 ngân hàng niêm yết đạt gần 312.000 tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 19,8% cùng kỳ. Đằng sau đà tăng trưởng là cuộc đua thứ hạng sôi động, với những màn bứt tốc, đổi ngôi ngay trong nhóm dẫn đầu. Tuy nhiên, bức tranh lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét khi 24 ngân hàng tăng lãi, 4 nhà băng đi lùi.
Mức hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn có thể phát sinh khoản tự chi trả

Mức hưởng bảo hiểm y tế 100% vẫn có thể phát sinh khoản tự chi trả

Mức hưởng bảo hiểm y tế (BHYT) 80%, 95% hoặc 100% được áp dụng đối với chi phí trong phạm vi được hưởng và theo điều kiện thanh toán của pháp luật BHYT, không mặc nhiên tính trên toàn bộ hóa đơn viện phí. Quyền lợi thực tế phụ thuộc vào phạm vi chi trả, danh mục thuốc, vật tư y tế, điều kiện thanh toán và hình thức khám, chữa bệnh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 135,200 ▲300K 139,200 ▲300K
Hà Nội - PNJ 135,200 ▲300K 139,200 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 135,200 ▲300K 139,200 ▲300K
Miền Tây - PNJ 135,200 ▲300K 139,200 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 135,200 ▲300K 139,200 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 135,200 ▲300K 139,200 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,820 ▲60K 14,120 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 13,820 ▲60K 14,120 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 13,820 ▲60K 14,120 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,570 ▲40K 13,970 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,570 ▲40K 13,970 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,570 ▲40K 13,970 ▲40K
Trang sức 99.9 13,250 ▲40K 13,850 ▲40K
Trang sức 99.99 13,260 ▲40K 13,860 ▲40K
Vàng 99.9 12,650
Vàng 99.99 12,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,382 ▲6K 14,122 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,382 ▲6K 14,123 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,343 ▲6K 1,383 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,343 ▲6K 1,384 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,323 ▲6K 1,373 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,941 ▲594K 135,941 ▲594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 93,335 ▲450K 103,135 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,723 ▲408K 93,523 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,111 ▲366K 83,911 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,404 ▲350K 80,204 ▲350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,761 ▲25K 5,741 ▲25K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,382 ▲6K 1,412 ▲6K
Cập nhật: 04/11/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17398 17670 18245
CAD 17887 18162 18778
CHF 30928 31305 31954
CNY 0 3809 3904
EUR 28299 28516 29593
GBP 33847 34236 35164
HKD 0 3150 3352
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14087 14671
SGD 19573 19853 20419
THB 679 742 795
USD (1,2) 25475 0 0
USD (5,10,20) 25512 0 0
USD (50,100) 25539 25553 25918
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,575 25,575 25,955
USD(1-2-5) 24,552 - -
USD(10-20) 24,552 - -
EUR 28,354 28,377 29,728
JPY 158.27 158.56 168.18
GBP 34,010 34,102 35,297
AUD 17,627 17,691 18,364
CAD 18,078 18,136 18,810
CHF 31,136 31,233 32,154
SGD 19,707 19,768 20,545
CNY - 3,787 3,933
HKD 3,217 3,227 3,362
KRW 17.67 18.43 20.05
THB 727.79 736.78 788.98
NZD 14,094 14,225 14,652
SEK - 2,594 2,687
DKK - 3,804 3,939
NOK - 2,732 2,830
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,912.24 - 6,675.79
TWD 708.73 - 858.75
SAR - 6,745.28 7,106.76
KWD - 81,381 86,608
AED - 6,761 7,286
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,550 25,580 25,960
EUR 28,312 28,454 29,683
GBP 33,980 34,151 35,187
HKD 3,211 3,230 3,347
CHF 30,923 31,078 32,026
JPY 157.83 159.42 167.40
AUD 17,585 17,709 18,304
SGD 19,674 19,853 20,449
THB 732 747 784
CAD 18,028 18,155 18,752
NZD 14,167 14,720
KRW 18.50 20.46
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25550 25550 25920
AUD 17580 17680 18603
CAD 18080 18180 19194
CHF 31240 31270 32852
CNY 3791.9 3816.9 3952.3
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28513 28543 30268
GBP 34166 34216 35974
HKD 0 3300 0
JPY 159.76 160.26 170.78
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14212 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19736 19866 20587
THB 0 708 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13850000 13850000 14150000
SBJ 12000000 12000000 14150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,455 25,575 25,900
USD20 25,425 25,575 25,900
USD1 24,346 25,575 25,900
AUD 17,550 17,700 18,874
EUR 28,295 28,395 30,062
CAD 18,027 18,127 19,439
SGD 19,820 19,970 20,531
JPY 159.86 161.36 166.93
GBP 34,053 34,203 35,274
XAU 13,818,000 0 14,122,000
CNY 0 3,779 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/11/2026 11:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30