Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
aa

Lợi nhuận tài chính nhiều doanh nghiệp tăng mạnh hai chữ số

Mặt bằng lãi suất huy động duy trì ở mức cao tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư tài chính, qua đó, đóng góp tích cực vào kết quả lợi nhuận trước thuế của các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết.

Tổng lợi nhuận từ hoạt động tài chính của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt khoảng 3.800,5 tỷ đồng quý I/2026, tăng 14% cùng kỳ năm trước. Trong đó, Tập đoàn Bảo Việt dẫn đầu với 2.958,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 15,4%. Tuy nhiên, quy mô đầu tư của Bảo Việt vượt trội do gồm cả mảng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục
Nguồn: Báo cáo tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết. Đồ họa: Ánh Tuyết

Trong nhóm phi nhân thọ và tái bảo hiểm, PVI Holdings ghi nhận lợi nhuận từ hoạt động tài chính ở mức cao 271,9 tỷ đồng, tăng 17,4% cùng kỳ; Tái Bảo hiểm Quốc gia VINARE đạt 96,1 tỷ đồng, tăng 32,3%...

Ba doanh nghiệp ghi nhận lợi nhuận hoạt động tài chính sụt giảm trong quý I/2026 gồm: BSH, BIC và Bảo hiểm Bảo Long.

Trong đó, BSH giảm mạnh nhất khi lợi nhuận tài chính chỉ đạt 5,5 tỷ đồng, giảm 72,1% so với cùng kỳ. Nguyên nhân đáng chú ý là tổng các khoản đầu tư tài chính của BSH giảm 16%, xuống còn 2.418,6 tỷ đồng, khiến nền tài sản sinh lời thu hẹp rõ rệt.

Cơ cấu đầu tư của BSH trong quý I/2026 vẫn nghiêng mạnh về ngắn hạn, với tỷ trọng 70,7%. Đáng chú ý, doanh nghiệp bắt đầu gia tăng nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp dài hạn với quy mô 386,6 tỷ đồng.

BIC ghi nhận lợi nhuận hoạt động tài chính đạt 91,2 tỷ đồng, giảm 42,8% cùng kỳ, dù tổng các khoản đầu tư tài chính vẫn tăng 12% lên 7.415,9 tỷ đồng.

Linh hoạt phân bổ tài sản theo diễn biến thị trường

“Xét về chiến lược phân bổ tài sản, trong thời điểm này, khi lãi suất tiền gửi ở mức cao, chúng tôi cần chuyển dịch sang tiền gửi trước. Khi thị trường ổn định trở lại và khoảng chênh lệch giữa tiền gửi và trái phiếu đủ rộng, khi đó mới xem xét tăng tỷ trọng đầu tư trái phiếu. Tùy theo diễn biến của thị trường, chúng ta phải có cái cách phân bổ tài sản thế nào mà tối ưu nhất” - bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc PVI AM.

Lý giải sự sụt giảm lợi nhuận hoạt động tài chính, theo bà Đoàn Thị Thu Huyền - Tổng Giám đốc BIC, trong quý I/2025, BIC đã thực hiện chốt lời một khoản đầu tư cổ phiếu theo quyết định của Ủy ban Đầu tư và Hội đồng Quản trị, qua đó, ghi nhận lợi nhuận cho doanh nghiệp. Quyết định chốt lời được đưa ra đúng thời điểm, bởi sau đó giá cổ phiếu của doanh nghiệp này đã giảm rất sâu. Quý I năm nay, BIC chưa thực hiện các giao dịch tương tự nên lợi nhuận ghi nhận sự sụt giảm.

Cơ cấu đầu tư của BIC trong quý I/2026 tiếp tục thiên về ngắn hạn với tỷ trọng 74,6%, tương ứng 4.989,4 tỷ đồng. So với cùng kỳ, danh mục đầu tư ngắn hạn gần như đi ngang, còn đầu tư dài hạn tăng mạnh hơn 62%. Đồng thời, quy mô chứng khoán kinh doanh cũng tăng 17,5% lên 562,2 tỷ đồng, phản ánh xu hướng đa dạng hóa danh mục đầu tư.

Còn Bảo hiểm Bảo Long có lợi nhuận tài chính 14 tỷ đồng, giảm 3,1%, trong khi tổng đầu tư tài chính tăng 9,7% lên 1.705,8 tỷ đồng. Về cơ cấu đầu tư, tỷ trọng đầu tư ngắn hạn của Bảo hiểm Bảo Long chỉ 27,4%, thuộc nhóm thấp nhất ngành. Trong khi mặt bằng lãi suất bắt đầu tăng mạnh từ quý IV/2025, Bảo Long mới đẩy mạnh dịch chuyển sang danh mục dài hạn từ đầu năm 2026, khiến khả năng tận dụng “sóng” lãi suất chưa thực sự rõ nét.

Tận dụng cơ hội từ “sóng” lãi suất

Chia sẻ gần đây, bà Trịnh Quỳnh Giao - Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Quản lý quỹ PVI (PVI AM) cho biết, trong bối cảnh thị trường có nhiều biến động về lãi suất, chiến lược phân bổ tài sản của PVI AM trước hết là ưu tiên các tài sản có tính thanh khoản cao, bởi những biến động của thị trường cũng phần nào phản ánh sự thiếu ổn định về thanh khoản của hệ thống ngân hàng.

Giữa các loại tài sản truyền thống của PVI gồm: tiền gửi, trái phiếu và một phần nhỏ cổ phiếu, Công ty Quản lý quỹ PVI luôn xem xét chênh lệch lợi suất giữa các loại tài sản. Thông thường, chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi và trái phiếu vào khoảng 4%. Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua, đặc biệt là trong quý I/2026, khi lãi suất tiền gửi có thời điểm lên tới khoảng 9%, việc phân bổ vốn sang tiền gửi trở nên có lợi hơn cả về thanh khoản lẫn hiệu quả đầu tư, bởi khoảng cách lợi suất giữa trái phiếu và tiền gửi chỉ còn khoảng 2%.

Ngoài ra, trước những diễn biến của thị trường thời gian qua, hệ thống PVI cũng đã huy động các nguồn lực nhằm tối đa hóa dòng tiền và thực hiện khóa lãi suất ở các kỳ hạn dài, qua đó, tận dụng mức lãi suất tiền gửi dài hạn trong thời gian dài nhất có thể.

Lý giải việc gia tăng đầu tư dài hạn trong năm 2025, lãnh đạo Bảo hiểm BIC cho biết nguyên nhân đến từ việc tăng đầu tư trái phiếu dài hạn và tăng tỷ trọng tiền gửi kỳ hạn từ 12 tháng trở lên.

“Cuối năm 2025, lãi suất tiền gửi bật tăng mạnh, BIC chủ động cơ cấu gửi tiền kỳ hạn dài hơn để tận dụng “sóng” lãi suất. Danh mục trái phiếu cuối năm 2025 là 1.043 tỷ đồng, tăng thêm gần 200 tỷ đồng so với cuối năm 2024 và chiếm khoảng 15% danh mục đầu tư của BIC” - lãnh đạo BIC thông tin.

Về cơ cấu danh mục trái phiếu, theo lãnh đạo Bảo hiểm BIC, 100% danh mục trái phiếu là đầu tư vào các trái phiếu tăng vốn cấp 2 của các ngân hàng thương mại lớn nên tính an toàn và thanh khoản tốt. Việc tăng đầu tư vào trái phiếu ngân hàng vì vậy không làm gia tăng rủi ro, mà còn giúp BIC cải thiện tỷ suất sinh lời của hoạt động đầu tư trong bối cảnh mặt bằng lãi suất duy trì ở mức thấp trong suốt 9 tháng đầu năm 2025.

Hơn 350.000 tỷ đồng đầu tư tài chính, chiến lược phân bổ vốn ra sao?

Tổng các khoản đầu tư tài chính quý I/2026 của nhóm doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết đạt khoảng 357.758,7 tỷ đồng, tăng 20,7% cùng kỳ. Tập đoàn Bảo hiểm tiếp tục chiếm tỷ trọng áp đảo với 290.399,3 tỷ đồng, tăng 22,7%, quy mô danh mục đầu tư lớn từ cả khối nhân thọ và phi nhân thọ.

PVI đứng thứ hai với 18.896,2 tỷ đồng đầu tư tài chính, tăng 16,6% cùng kỳ và bỏ xa các doanh nghiệp còn lại.

Nhóm doanh nghiệp có quy mô đầu tư tài chính trên 5.000 tỷ đồng gồm: BIC với 7.415,9 tỷ đồng, tăng 12%; VINARE đạt 6.304,7 tỷ đồng, tăng 11,3%; PJICO đạt 5.413,9 tỷ đồng, tăng 14,4%; MIC đạt 5.070 tỷ đồng, tăng 18,6%.

Cơ cấu phân bổ đầu tư tài chính ngắn hạn cũng cho thấy chiến lược khác nhau giữa các doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp duy trì tỷ trọng đầu tư ngắn hạn rất cao như: MIC và ABIC ở mức 100%; Bảo Minh 86,6%; PJICO 81,4%; PVI 75% hay PTI 74,7%.

Trong khi đó, Bảo Long chỉ phân bổ 27,4% tài sản đầu tư vào ngắn hạn, còn DBV, Hanoi Re và VINARE duy trì tỷ trọng quanh 50%.

Theo lãnh đạo Bảo hiểm BIC, định hướng chiến lược đầu tư của doanh nghiệp luôn là an toàn, thanh khoản, hiệu quả và quá trình ra quyết định được cân nhắc kỹ lưỡng bởi Ủy ban Đầu tư gồm các chuyên gia tài chính giàu kinh nghiệm đến từ BIDV, Fairfax và BIC.

Cùng chung quan điểm, Tổng Giám đốc PVI AM cũng nhấn mạnh nguyên tắc về quản lý đầu tư, các đơn vị bảo hiểm có đặc thù rất khác so với các tổ chức đầu tư khác như quỹ đầu tư.

Đối với hệ thống bảo hiểm PVI, yêu cầu quan trọng đầu tiên là phải đảm bảo tính thanh khoản của hệ thống và đảm bảo các nghĩa vụ chi trả cho các công ty bảo hiểm. Thứ hai là phải tuân thủ kỷ luật đầu tư, cũng như quản trị rủi ro. Đây là những nguyên tắc ưu tiên hàng đầu khi chúng tôi thực hiện các hoạt động đầu tư.

“Liên quan đến các hạn mức được phép đầu tư, chúng tôi duy trì chính sách phân bổ tài sản một cách linh hoạt theo diễn biến của thị trường” - bà Giao nêu rõ.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

Tỷ giá USD hôm nay (10/7): Tỷ giá trung tâm tăng nhẹ, thị trường chờ động thái tiếp theo của Fed và ECB

(TBTCO) - Sáng 10/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.214 đồng, tăng 3 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY giảm 0,13% xuống 100,94 điểm, trong bối cảnh Fed tiếp tục đánh giá các kịch bản khi lạm phát tại Mỹ vẫn ở mức quá cao, trong khi khả năng ECB tăng lãi suất vào tháng 9 vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

(TBTCO) - Agribank sẽ được bổ sung 29.690 tỷ đồng vốn điều lệ trong giai đoạn 2025 - 2027, nâng vốn điều lệ lên 81.328 tỷ đồng, tương ứng tăng 57,5%. Việc tăng vốn giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, đáp ứng các tỷ lệ an toàn, tạo dư địa mở rộng tín dụng, nhất là đối với lĩnh vực "tam nông".
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 14,990
Kim TT/AVPL 14,500 14,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 14,900
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 149,200
Hà Nội - PNJ 145,700 149,200
Đà Nẵng - PNJ 145,700 149,200
Miền Tây - PNJ 145,700 149,200
Tây Nguyên - PNJ 145,700 149,200
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 149,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 14,990
Miếng SJC Nghệ An 14,690 14,990
Miếng SJC Thái Bình 14,690 14,990
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,500 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,500 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,500 14,900
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 14,790
Trang sức 99.99 14,100 14,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 14,992
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 14,993
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 1,494
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 1,495
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 1,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 145,941
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 110,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 100,392
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 90,073
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 86,093
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 61,622
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cập nhật: 11/07/2026 05:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17984 18571
CAD 18008 18283 18901
CHF 31901 32282 32939
CNY 0 3835 3929
EUR 29394 29615 30695
GBP 34470 34861 35810
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14841 15431
SGD 19804 20086 20662
THB 704 767 820
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/07/2026 05:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80