Mạnh mẽ tái cấu trúc, tín dụng MSB bứt phá đầu năm hướng đến mục tiêu 20%

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bước vào năm 2025, ngân hàng mạnh mẽ tái cấu trúc và triển khai hàng loạt kế hoạch chiến lược: tăng vốn, thoái vốn khỏi công ty tài chính và lấn sân sang lĩnh vực chứng khoán. Theo lãnh đạo MSB, ngân hàng đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng 20% năm 2025, mức cao so với trung bình và kỳ vọng lợi nhuận tăng bình quân 18 - 20% trong 5 năm tới.
aa
Cổ đông lớn muốn bán hơn 24 triệu cổ phiếu ngân hàng MSB MSB bận rộn với nhiều kế hoạch tăng vốn, thoái vốn và lấn sân sang chứng khoán "Cú bật" tăng trưởng của tài chính tiêu dùng, rủi ro nợ xấu vẫn đè nặng

Ngày 21/4, Ngân hàng TMCP Hàng Hải Việt Nam (mã Ck: MSB) tổ chức thành công Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 và thông qua việc triển khai hàng loạt kế hoạch chiến lược quan trọng trong năm.

Tập trung vào chiến lược tái cấu trúc và lấn sân lĩnh vực mới

Năm 2025, MSB đặt mục tiêu tổng tài sản đạt 350 nghìn tỷ đồng, tăng 9% so với đầu năm. Tổng huy động từ thị trường 1 và phát hành trái phiếu dự kiến đạt 202 nghìn tỷ đồng, tăng 15%, trong khi tổng dư nợ (bao gồm cho vay và đầu tư trái phiếu doanh nghiệp) dự kiến đạt 212.000 tỷ đồng, tăng trưởng 20%. Về lợi nhuận, MSB phấn đấu đạt 8.000 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong năm 2025, tăng 16% so với năm 2024 (6.903,8 tỷ đồng).

Ngân hàng định hướng kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%. Trước đó, tỷ lệ nợ xấu cuối 2024 ở mức 2,68%. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu được cải thiện lên 64%, tuy vẫn thấp hơn mức 95% từng đạt vào năm 2021.

Mạnh mẽ tái cấu trúc, tín dụng MSB bứt phá đầu năm hướng đến mục tiêu 20%
Nguồn: Báo Tài chính - Đầu tư tổng hợp.
Về tăng vốn, MSB dự kiến phát hành tối đa 520 triệu cổ phiếu để chia cổ tức (tỷ lệ 20%), sử dụng nguồn lợi nhuận chưa chia và lợi nhuận sau trích lập quỹ. Nếu thành công, vốn điều lệ sẽ tăng từ 26.000 tỷ đồng lên 31.200 tỷ đồng. Trước đó năm 2024, ngân hàng đã tăng vốn từ 20.000 tỷ đồng lên 26.000 tỷ đồng theo hình thức tương tự.

Năm 2025, MSB tái khởi động kế hoạch thoái vốn khỏi công ty con TNEX Finance (tiền thân là FCCOM), sau nỗ lực bất thành năm 2021 khi dự định bán 100% vốn cho đối tác nước ngoài. TNEX Finance, với vốn điều lệ 500 tỷ đồng, hiện cung cấp nhiều sản phẩm cho vay tiêu dùng, song có kết quả kinh doanh ở mức khiêm tốn.

Năm 2024, tổng tài sản TNEX Finance đạt 3.807 tỷ đồng, dư nợ cho vay 1.774 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế khoảng 5 tỷ đồng. MSB dự kiến chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn tại TNEX Finance, nhằm tìm kiếm đối tác chiến lược có năng lực, qua đó thu về nguồn lực để tập trung cho hoạt động cốt lõi.

Song song đó, MSB định hướng mở rộng sang lĩnh vực chứng khoán và quản lý quỹ, đón đầu cơ hội từ quá trình nâng hạng thị trường tài chính Việt Nam và dòng vốn ngoại đổ vào. Ngân hàng lên kế hoạch đầu tư vào công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ để phát triển ngân hàng đầu tư và dịch vụ tài chính trọn gói, hướng tới xây dựng mô hình tài chính toàn diện trong tương lai.

Cũng theo ông Trần Anh Tuấn - Chủ tịch Hội đồng Quản trị MSB, dự kiến từ năm sau, ngân hàng sẽ tổ chức Đại hội đồng cổ đông tại trụ sở mới. Hiện nay, các thủ tục cần thiết về cơ bản đã hoàn tất. Ông Tuấn cũng nhấn mạnh, hiếm có tổ chức nào sở hữu một trụ sở khang trang và hiện đại như MSB.

Tập trung vào hoạt động cốt lõi, đẩy mạnh tín dụng

Trả lời câu hỏi của cổ đông về các kế hoạch trọng tâm triển khai năm 2025, ông Nguyễn Hoàng Linh - Tổng Giám đốc cho biết, từ năm 2022 đến nay, thị trường cho vay tài chính tiêu dùng vẫn chưa có nhiều khởi sắc. Cùng lúc phát triển nhiều mục tiêu nhiều phân khúc gây khó khăn cho hoạt động cốt lõi của ngân hàng nên MSB quyết định thoái vốn khỏi TNEX Finance. Ngân hàng quyết định tập trung nguồn lực cho các hoạt động cốt lõi và hướng đến phục vụ các phân khúc khách hàng cao cấp hơn. Hiện công ty này đang có 2 - 3 đối tác quan tâm, MSB tiến hành sàng lọc và tuân thủ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước (NHNN).

MSB cũng đang xúc tiến tìm kiếm các công ty chứng khoán, quản lý quỹ có quy mô vốn 300-500 tỷ đồng, sau đó lên kế hoạch tăng vốn sau, giúp MSB tạo ra mô hình tài chính toàn diện.

Ngân hàng MSB Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025.
Toàn cảnh Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 của Ngân hàng MSB. Ảnh: Ánh Tuyết.

Tín dụng bật tăng khả quan 9% quý đầu năm

"Mục tiêu tăng trưởng tín dụng 20% là mục tiêu tăng trưởng cao so với trung bình ngành, tuy nhiên, nếu nhìn vào kết quả năm 2024, MSB đã được mức tăng trưởng 18,25%, điều này cho thấy con số này rất khả thi. Hết quý I, MSB đạt mức tăng trưởng gần 9% , có nghĩa còn lại ba quý chỉ còn lại 11% nữa. Theo định hướng của NHNN, MSB năm nay sẽ tập trung vào các ngành thúc đẩy cơ sở hạ tầng, tài chính xanh và các ngành mũi nhọn thúc đẩy cho sự phát triển kinh tế" - Tổng Giám đốc MSB thông tin.

Tổng Giám đốc cũng cho biết MSB đặt mục tiêu lợi nhuận tăng trưởng bình quân từ 18 - 20% trong giai đoạn 2025 - 2030. Tài sản cũng phải gia tăng tương ứng để đạt mục tiêu tăng trưởng kể trên mỗi năm.

Đánh giá mức độ ảnh hưởng của thuế quan, ông Nguyễn Hoàng Linh - Tổng Giám đốc cho biết, tính đến thời điểm hiện tại, dư nợ tín dụng của MSB đạt khoảng 191.000 tỷ đồng.

Trong đó, một số ngành nghề như: sản phẩm gỗ, cá tra, dệt may, hóa chất, điện thoại, thiết bị di động, hạt điều và một số lĩnh vực khác có dư nợ tương đối nhỏ, với tổng giá trị khoảng 3.900 tỷ đồng. Đối với các doanh nghiệp thuộc các ngành này, MSB đã tiến hành rà soát toàn bộ, đánh giá lại năng lực hoạt động cũng như khả năng tiếp cận và mở rộng thị trường.

"Danh mục này tương đối tốt và nếu có rủi ro xảy ra, tỷ lệ nợ xấu chỉ khoảng 2,34% và thấp hơn giới hạn 3% do NHNN quy định" - ông Linh đánh giá./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,750 ▼300K 17,050 ▼300K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17767 18041 18614
CAD 18517 18794 19412
CHF 32591 32975 33624
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30084 31114
GBP 34376 34767 35701
HKD 0 3239 3440
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15549
SGD 19985 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26077 0 0
USD (5,10,20) 26118 0 0
USD (50,100) 26146 26166 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80