"Cú bật" tăng trưởng của tài chính tiêu dùng, rủi ro nợ xấu vẫn đè nặng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau thời gian suy giảm, thị trường tín dụng tiêu dùng Việt Nam trên đà phục hồi, với nhiều dư địa phát triển. Tuy nhiên, rủi ro nợ xấu và hệ thống chấm điểm tín dụng vẫn "bỏ ngỏ" là những trở ngại lớn.
aa
Nguồn: Các ngân hàng, MBS Research Đồ họa: Tư liệu

Tài chính tiêu dùng là một lĩnh vực hấp dẫn với mô hình vay không cần tài sản đảm bảo hay chứng minh thu nhập. Hầu hết các khoản vay tiêu dùng hiện nay chủ yếu dựa vào lịch sử tín dụng và khả năng trả nợ của khách hàng, chỉ cần có căn cước công dân là có thể làm hồ sơ vay. Đối với khách hàng có lịch sử tín dụng "trắng", tức chưa từng vay trước đó, các công ty tài chính thường chỉ duyệt hạn mức vay thấp, dao động trong khoảng 10 - 20 triệu đồng.

Nhiều sức hútnhưng không ít trở ngại

Trao đổi với phóng viên, một nhân viên FE Credit cho biết, với gói vay 20 triệu đồng trong thời hạn 12 tháng, khách hàng thanh toán khoảng 2,225 triệu đồng/tháng, bao gồm cả gốc, lãi, phí bảo hiểm và phí thu hộ. Theo đó, nhân viên FE Credit này nhấn mạnh, khách hàng phải chi trả phí bảo hiểm bắt buộc, tương ứng khoảng 7,5% tổng khoản vay. Ngoài ra, khách hàng còn phải trả phí thu hộ từ 13.200 - 33.000 đồng/tháng.

Khoảng trống xếp hạng tín dụng cá nhân

"Tại Mỹ, các công ty có cơ chế và công cụ giúp giảm thiểu rủi ro này. Hầu hết công dân Mỹ đều có điểm tín dụng cá nhân, điều này giúp các công ty tài chính tiêu dùng, ngân hàng dễ dàng đánh giá khả năng trả nợ trước khi cấp tín dụng. Trong khi đó, tại Việt Nam, hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân chưa phát triển đầy đủ. Hiện chỉ có một số khách hàng có thông tin tín dụng được lưu trữ tại Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC) của Ngân hàng Nhà nước". TS. Nguyễn Trí Hiếu - Chuyên gia kinh tế.

Như vậy, tổng số tiền phải trả khoảng 26 triệu đồng, tương ứng lãi suất 33%/năm, tức trung bình khách vay trả khoảng 19.000 đồng/tháng cho mỗi 1 triệu đồng. Cũng theo nhân viên này, đây là mức lãi suất mềm hơn, bởi khi vay tín dụng đen, lãi phải trả có thể lên đến 30.000 - 40.000 đồng/tháng, tức lãi suất có thể lên gần 50%/năm.

Theo đánh giá của TS. Nguyễn Trí Hiếu - Chuyên gia kinh tế, tín dụng tiêu dùng là một lĩnh vực có nhiều rủi ro nhưng cũng rất hấp dẫn, song môi trường tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam vẫn còn sơ khai, chưa đủ minh bạch và chặt chẽ như tại các nền kinh tế phát triển. Điều này khiến các nhà đầu tư nước ngoài nhìn thấy tiềm năng, nhưng cũng phải đối mặt với thách thức trong việc quản lý rủi ro tín dụng.

"Nhiều tập đoàn tài chính quốc tế nhận thấy các công ty tài chính tiêu dùng trong nước dù thua lỗ, nhưng sẵn sàng mua lại với niềm tin họ có thể quản lý rủi ro tốt hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ngay cả các nhà đầu tư nước ngoài cũng gặp nhiều khó khăn và có nguy cơ thua lỗ khi tham gia vào thị trường này" - ông Hiếu bày tỏ.

Cũng theo ông Hiếu, một trong những điểm yếu của thị trường tài chính tiêu dùng là hệ thống chấm điểm tín dụng chưa phát triển và áp dụng một cách toàn diện. "Văn hóa trả nợ tại Việt Nam chưa hình thành rõ nét như tại các nước phát triển. Một bộ phận người vay chưa có thói quen hoặc không có áp lực phải duy trì lịch sử tín dụng tốt. Trong khi ở Mỹ, nợ ngân hàng và nợ thuế là hai khoản nợ mà người dân lo ngại nhất thì tại Việt Nam, vẫn tồn tại tình trạng "bùng nợ" hoặc chậm trả nợ mà không phải chịu hệ quả nghiêm trọng về lâu dài” - ông Hiếu lưu ý.

Theo đánh giá từ FiinRatings, trước mắt, con đường phục hồi của tín dụng tài chính tiêu dùng sẽ được hỗ trợ bởi các dấu hiệu tích cực từ môi trường kinh tế vĩ mô, từ sự hồi phục của các ngành sản xuất và xuất khẩu dự kiến sẽ cải thiện chất lượng tín dụng. Cùng với đó, nhu cầu tín dụng của công nhân, lao động động phổ thông, những người có thu nhập từ thấp đến trung bình là tập khách hàng chính của các công ty tài chính tiêu dùng cũng cải thiện và từ việc số hóa hành trình khách hàng, cải thiện trải nghiệm, tăng tỷ lệ giữ chân khách hàng.

Về triển vọng trung và dài hạn của thị trường tài chính tiêu dùng, theo FiinRatings, thị trường tài chính tiêu dùng Việt Nam sở hữu tiềm năng tăng trưởng lớn nhờ tỷ lệ thâm nhập còn thấp. Ngoài ra, sau hàng loạt thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A), xu hướng thoái vốn của một số ngân hàng nội địa khỏi các công ty tài chính tiêu dùng và đón nhận sự tham gia sâu rộng hơn của các nhà đầu tư nước ngoài, sẽ tạo ra sự tái cơ cấu mạnh mẽ trong ngành.

Cú bật sau khi chạm đáy

Nhìn lại một năm đầy thách thức với dư nợ cho vay giảm hơn 9%, chất lượng tín dụng suy giảm và tỷ lệ nợ xấu gia tăng do kinh tế tăng trưởng chậm cùng môi trường kinh doanh bất lợi, ngành tài chính tiêu dùng bước vào giai đoạn phục hồi trong năm 2024. Đáng chú ý, tăng trưởng tín dụng của M-credit cuối năm 2024 đạt 32,4% so với cùng kỳ, nhờ mức nền thấp của năm 2023 và việc tận dụng hiệu quả lợi thế từ các cổ đông chiến lược là Ngân hàng MB và Ngân hàng SBI Shinsei (Nhật Bản).

HDSaison ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng 13,2%, nhờ lợi thế chiếm khoảng 36% thị phần vay mua xe máy. Công ty tiếp tục dẫn đầu về lợi nhuận với 1.200 tỷ đồng, tăng mạnh 83,9% trong năm 2024. Trước triển vọng thị trường khả quan, HDSaison đặt mục tiêu đạt 1.500 tỷ đồng lợi nhuận vào năm 2025.

Công ty chiếm thị phần lớn nhất thị trường là FE Credit tăng trưởng tín dụng đạt 10,3% so với năm 2023, với tổng tài sản đạt 67.648 tỷ đồng, tăng 7% cùng kỳ. FE Credit bất ngờ ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 512 tỷ đồng trong năm 2024, nhờ quý IV/2024 bứt phá mạnh mẽ khi tăng trưởng cho vay tăng 10% cùng kỳ và lợi nhuận sau thuế đạt 950 tỷ đồng. Dù không đạt mục tiêu đề ra, song lợi nhuận dương trở lại sau nhiều năm lỗ chồng chất.

Theo báo cáo tài chính hợp nhất do VPBank công bố, trong năm 2024, doanh thu lãi của FE Credit đạt 14.365 tỷ đồng, giảm 3,3% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, chi phí lãi giảm mạnh xuống còn 3.194 tỷ đồng, tương ứng giảm 28,7% giúp thu nhập lãi thuần tăng 7,6% lên 11.171 tỷ đồng. Ngoài ra, thu nhập ngoài lãi cũng tăng trưởng mạnh, đạt 4.672 tỷ đồng, gấp 1,61 lần cùng kỳ.

Đây là kết quả của quá trình tái cấu trúc toàn diện trong hai năm và sự trợ lực từ hai cổ đông mẹ là Ngân hàng VPBank và Công ty Tài chính tiêu dùng SMBC (SMBCCF) - công ty con của Tập đoàn Sumitomo Mitsui Financial Group và nhờ nhu cầu tiêu dùng dần cải thiện. Ban lãnh đạo VPBank kỳ vọng từ năm 2025, lợi nhuận của FE Credit sẽ phục hồi về mức 3.000 - 4.000 tỷ đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

Ngành Ngân hàng: Lợi nhuận tăng tốc, cơn “khát” vốn vẫn dai dẳng

(TBTCO) - Theo ông Đỗ Thanh Tùng - Phó phòng Phân tích Ngành và Doanh nghiệp - Trung tâm Phân tích Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), ngành ngân hàng nửa đầu năm 2026 ghi nhận sự tăng tốc của lợi nhuận, nhờ tín dụng cao và NIM phục hồi, song đằng sau bức tranh tích cực này, huy động vốn vẫn là "điểm nghẽn". Trong bối cảnh đó, tỷ giá có thể được “lỏng tay” hơn để hỗ trợ ổn định lãi suất.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giữ đà trên 4.600 USD/ounce, trong khi vàng trong nước đi ngang, vàng miếng duy trì mức bán ra 147,6 triệu đồng/lượng.
SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

(TBTCO) - Ngày 21/8, theo công bố của FTSE Russell, SHB là một trong 8 cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam nằm trong FTSE Global All Cap - một cấu phần của FTSE Global Equity Index Series (GEIS). Đây là danh mục được công bố ngay trước thềm chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

(TBTCO) - Những thỏa thuận mới giữa Shinhan Life Việt Nam - Nam A Bank, Hanwha Life Việt Nam - ABBank…, cùng xu hướng mở rộng các hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm cho thấy kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) vẫn còn nhiều dư địa. Những “cái bắt tay” mới đang đưa hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, với trọng tâm chuyển từ mở rộng doanh số sang nâng cao chất lượng tư vấn, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững của hợp đồng.
Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

(TBTCO) - Nghị định 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Những thay đổi mới về đối tượng phải mua bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu, nguyên tắc xác định phí và trách nhiệm của chủ đầu tư đang đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần chủ động hơn trong quản trị rủi ro công trình.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 21:30
Ngân hàng