"Cú bật" tăng trưởng của tài chính tiêu dùng, rủi ro nợ xấu vẫn đè nặng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sau thời gian suy giảm, thị trường tín dụng tiêu dùng Việt Nam trên đà phục hồi, với nhiều dư địa phát triển. Tuy nhiên, rủi ro nợ xấu và hệ thống chấm điểm tín dụng vẫn "bỏ ngỏ" là những trở ngại lớn.
aa
Nguồn: Các ngân hàng, MBS Research Đồ họa: Tư liệu

Tài chính tiêu dùng là một lĩnh vực hấp dẫn với mô hình vay không cần tài sản đảm bảo hay chứng minh thu nhập. Hầu hết các khoản vay tiêu dùng hiện nay chủ yếu dựa vào lịch sử tín dụng và khả năng trả nợ của khách hàng, chỉ cần có căn cước công dân là có thể làm hồ sơ vay. Đối với khách hàng có lịch sử tín dụng "trắng", tức chưa từng vay trước đó, các công ty tài chính thường chỉ duyệt hạn mức vay thấp, dao động trong khoảng 10 - 20 triệu đồng.

Nhiều sức hútnhưng không ít trở ngại

Trao đổi với phóng viên, một nhân viên FE Credit cho biết, với gói vay 20 triệu đồng trong thời hạn 12 tháng, khách hàng thanh toán khoảng 2,225 triệu đồng/tháng, bao gồm cả gốc, lãi, phí bảo hiểm và phí thu hộ. Theo đó, nhân viên FE Credit này nhấn mạnh, khách hàng phải chi trả phí bảo hiểm bắt buộc, tương ứng khoảng 7,5% tổng khoản vay. Ngoài ra, khách hàng còn phải trả phí thu hộ từ 13.200 - 33.000 đồng/tháng.

Khoảng trống xếp hạng tín dụng cá nhân

"Tại Mỹ, các công ty có cơ chế và công cụ giúp giảm thiểu rủi ro này. Hầu hết công dân Mỹ đều có điểm tín dụng cá nhân, điều này giúp các công ty tài chính tiêu dùng, ngân hàng dễ dàng đánh giá khả năng trả nợ trước khi cấp tín dụng. Trong khi đó, tại Việt Nam, hệ thống xếp hạng tín dụng cá nhân chưa phát triển đầy đủ. Hiện chỉ có một số khách hàng có thông tin tín dụng được lưu trữ tại Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia (CIC) của Ngân hàng Nhà nước". TS. Nguyễn Trí Hiếu - Chuyên gia kinh tế.

Như vậy, tổng số tiền phải trả khoảng 26 triệu đồng, tương ứng lãi suất 33%/năm, tức trung bình khách vay trả khoảng 19.000 đồng/tháng cho mỗi 1 triệu đồng. Cũng theo nhân viên này, đây là mức lãi suất mềm hơn, bởi khi vay tín dụng đen, lãi phải trả có thể lên đến 30.000 - 40.000 đồng/tháng, tức lãi suất có thể lên gần 50%/năm.

Theo đánh giá của TS. Nguyễn Trí Hiếu - Chuyên gia kinh tế, tín dụng tiêu dùng là một lĩnh vực có nhiều rủi ro nhưng cũng rất hấp dẫn, song môi trường tín dụng tiêu dùng tại Việt Nam vẫn còn sơ khai, chưa đủ minh bạch và chặt chẽ như tại các nền kinh tế phát triển. Điều này khiến các nhà đầu tư nước ngoài nhìn thấy tiềm năng, nhưng cũng phải đối mặt với thách thức trong việc quản lý rủi ro tín dụng.

"Nhiều tập đoàn tài chính quốc tế nhận thấy các công ty tài chính tiêu dùng trong nước dù thua lỗ, nhưng sẵn sàng mua lại với niềm tin họ có thể quản lý rủi ro tốt hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, ngay cả các nhà đầu tư nước ngoài cũng gặp nhiều khó khăn và có nguy cơ thua lỗ khi tham gia vào thị trường này" - ông Hiếu bày tỏ.

Cũng theo ông Hiếu, một trong những điểm yếu của thị trường tài chính tiêu dùng là hệ thống chấm điểm tín dụng chưa phát triển và áp dụng một cách toàn diện. "Văn hóa trả nợ tại Việt Nam chưa hình thành rõ nét như tại các nước phát triển. Một bộ phận người vay chưa có thói quen hoặc không có áp lực phải duy trì lịch sử tín dụng tốt. Trong khi ở Mỹ, nợ ngân hàng và nợ thuế là hai khoản nợ mà người dân lo ngại nhất thì tại Việt Nam, vẫn tồn tại tình trạng "bùng nợ" hoặc chậm trả nợ mà không phải chịu hệ quả nghiêm trọng về lâu dài” - ông Hiếu lưu ý.

Theo đánh giá từ FiinRatings, trước mắt, con đường phục hồi của tín dụng tài chính tiêu dùng sẽ được hỗ trợ bởi các dấu hiệu tích cực từ môi trường kinh tế vĩ mô, từ sự hồi phục của các ngành sản xuất và xuất khẩu dự kiến sẽ cải thiện chất lượng tín dụng. Cùng với đó, nhu cầu tín dụng của công nhân, lao động động phổ thông, những người có thu nhập từ thấp đến trung bình là tập khách hàng chính của các công ty tài chính tiêu dùng cũng cải thiện và từ việc số hóa hành trình khách hàng, cải thiện trải nghiệm, tăng tỷ lệ giữ chân khách hàng.

Về triển vọng trung và dài hạn của thị trường tài chính tiêu dùng, theo FiinRatings, thị trường tài chính tiêu dùng Việt Nam sở hữu tiềm năng tăng trưởng lớn nhờ tỷ lệ thâm nhập còn thấp. Ngoài ra, sau hàng loạt thương vụ mua bán và sáp nhập (M&A), xu hướng thoái vốn của một số ngân hàng nội địa khỏi các công ty tài chính tiêu dùng và đón nhận sự tham gia sâu rộng hơn của các nhà đầu tư nước ngoài, sẽ tạo ra sự tái cơ cấu mạnh mẽ trong ngành.

Cú bật sau khi chạm đáy

Nhìn lại một năm đầy thách thức với dư nợ cho vay giảm hơn 9%, chất lượng tín dụng suy giảm và tỷ lệ nợ xấu gia tăng do kinh tế tăng trưởng chậm cùng môi trường kinh doanh bất lợi, ngành tài chính tiêu dùng bước vào giai đoạn phục hồi trong năm 2024. Đáng chú ý, tăng trưởng tín dụng của M-credit cuối năm 2024 đạt 32,4% so với cùng kỳ, nhờ mức nền thấp của năm 2023 và việc tận dụng hiệu quả lợi thế từ các cổ đông chiến lược là Ngân hàng MB và Ngân hàng SBI Shinsei (Nhật Bản).

HDSaison ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng 13,2%, nhờ lợi thế chiếm khoảng 36% thị phần vay mua xe máy. Công ty tiếp tục dẫn đầu về lợi nhuận với 1.200 tỷ đồng, tăng mạnh 83,9% trong năm 2024. Trước triển vọng thị trường khả quan, HDSaison đặt mục tiêu đạt 1.500 tỷ đồng lợi nhuận vào năm 2025.

Công ty chiếm thị phần lớn nhất thị trường là FE Credit tăng trưởng tín dụng đạt 10,3% so với năm 2023, với tổng tài sản đạt 67.648 tỷ đồng, tăng 7% cùng kỳ. FE Credit bất ngờ ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 512 tỷ đồng trong năm 2024, nhờ quý IV/2024 bứt phá mạnh mẽ khi tăng trưởng cho vay tăng 10% cùng kỳ và lợi nhuận sau thuế đạt 950 tỷ đồng. Dù không đạt mục tiêu đề ra, song lợi nhuận dương trở lại sau nhiều năm lỗ chồng chất.

Theo báo cáo tài chính hợp nhất do VPBank công bố, trong năm 2024, doanh thu lãi của FE Credit đạt 14.365 tỷ đồng, giảm 3,3% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, chi phí lãi giảm mạnh xuống còn 3.194 tỷ đồng, tương ứng giảm 28,7% giúp thu nhập lãi thuần tăng 7,6% lên 11.171 tỷ đồng. Ngoài ra, thu nhập ngoài lãi cũng tăng trưởng mạnh, đạt 4.672 tỷ đồng, gấp 1,61 lần cùng kỳ.

Đây là kết quả của quá trình tái cấu trúc toàn diện trong hai năm và sự trợ lực từ hai cổ đông mẹ là Ngân hàng VPBank và Công ty Tài chính tiêu dùng SMBC (SMBCCF) - công ty con của Tập đoàn Sumitomo Mitsui Financial Group và nhờ nhu cầu tiêu dùng dần cải thiện. Ban lãnh đạo VPBank kỳ vọng từ năm 2025, lợi nhuận của FE Credit sẽ phục hồi về mức 3.000 - 4.000 tỷ đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

Giải mã nhận diện mới của SHB: Khi thiết kế kể câu chuyện ngân hàng đồng hành cùng đất nước, hòa nhịp cùng thời đại trong vận hội mới

(TBTCO) - Ngay khi Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố bộ nhận diện thương hiệu mới tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, cộng đồng khách hàng và giới quan sát thị trường đã nhanh chóng bày tỏ nhiều phản hồi tích cực.
Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 6/5: Giá vàng thế giới tăng lên ngưỡng 4.586 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới sáng 6/5 giao dịch quanh mức 4.586 USD/ounce, tăng 31 USD/ounce so với hôm qua và thấp hơn giá vàng miếng trong nước gần 20 triệu đồng/lượng.
Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

Thanh toán không dùng tiền mặt tiếp đà tăng tốc, số máy ATM giảm hơn 3%

(TBTCO) - Thông tin từ Ngân hàng Nhà nước cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển mạnh. Giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp khoảng 28 lần GDP, trong quý I/2026, số lượng giao dịch tăng 37,98% và giá trị tăng 14,22% cùng kỳ. Đáng chú ý, nhiều tổ chức tín dụng ghi nhận hơn 90% giao dịch thực hiện qua kênh số, phản ánh xu hướng số hóa ngày càng rõ nét.
Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

Hệ thống SIMO triển khai tại 149 đơn vị, chặn hơn 4.300 tỷ đồng giao dịch rủi ro qua ngân hàng

(TBTCO) - Theo Ngân hàng Nhà nước, công tác đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán luôn được quan tâm chú trọng, song hành với chuyển đổi số. Hệ thống SIMO đã triển khai tới 149 đơn vị, cảnh báo hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, giúp ngăn chặn giao dịch rủi ro trị giá trên 4,3 nghìn tỷ đồng. Đồng thời, dữ liệu từ 156,6 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu, làm sạch.
Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

Ngân hàng lãi lớn vượt 94.000 tỷ đồng quý I/2026, vẫn có 8 nhà băng "đi ngược"

(TBTCO) - Bức tranh lợi nhuận quý I/2026 của 27 ngân hàng niêm yết đã lộ diện, với tổng lợi nhuận trước thuế đạt 94.200 tỷ đồng, tăng 14,1% cùng kỳ. Tuy nhiên, sự phân hóa diễn ra rõ nét khi 19 ngân hàng giữ đà tăng trưởng, có nơi bứt phá bằng lần; ngược lại, không ít nhà băng giảm sâu, kéo theo biến động mạnh trên bảng xếp hạng toàn ngành.
Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (5/5): Tỷ giá trong nước cùng lùi nhẹ, USD giữ sức chờ tín hiệu đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 5/5, tỷ giá trung tâm giảm nhẹ 1 đồng xuống 25.111 đồng, tỷ giá USD tự do lùi nhẹ 10 đồng, trong khi DXY nhích lên 98,49 điểm. Đồng bạc xanh duy trì sức mạnh khi căng thẳng tại eo biển Hormuz chưa hạ nhiệt, đe dọa nguồn cung dầu toàn cầu, dù đàm phán Mỹ - Iran có tín hiệu tiến triển giúp giá dầu tạm điều chỉnh giảm.
Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

Moody’s nâng Triển vọng HDBank lên “Tích cực”, mở ra khả năng tiếp tục nâng hạng tín nhiệm

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng tín nhiệm toàn cầu Moody’s Ratings vừa công bố kết quả rà soát định kỳ đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HOSE: HDB), trong đó duy trì các mức xếp hạng chủ chốt và nâng Triển vọng xếp hạng từ “Ổn định” lên “Tích cực”.
Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

Tập đoàn Bảo Việt (BVH): Lợi nhuận trước thuế hợp nhất quý I/2026 đạt 1.006 tỷ đồng, tăng trưởng 18,7%

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo Việt công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 (trước soát xét), theo đó công ty mẹ và các đơn vị thành viên ghi nhận mức tăng trưởng khả quan với tổng doanh thu hợp nhất đạt 15.610 tỷ đồng, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Kim TT/AVPL 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 15,250 ▲160K 15,450 ▲160K
Nguyên Liệu 99.9 15,200 ▲160K 15,400 ▲160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,050 ▲160K 16,450 ▲160K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,000 ▲160K 16,400 ▲160K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,930 ▲160K 16,380 ▲160K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Hà Nội - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đà Nẵng - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Miền Tây - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Tây Nguyên - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
Đông Nam Bộ - PNJ 163,000 ▲1300K 166,000 ▲1300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,300 ▲100K 16,600 ▲100K
NL 99.90 14,950 ▲150K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,000 ▲150K
Trang sức 99.9 15,790 ▲100K 16,490 ▲100K
Trang sức 99.99 15,800 ▲100K 16,500 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 163 ▲163K 16,602 ▲16602K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 163 ▲163K 16,603 ▲16603K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,625 ▲1625K 1,655 ▲1655K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,625 ▲1625K 1,656 ▲1656K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,605 ▲1605K 164 ▲164K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,876 ▲155876K 162,376 ▲162376K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 114,262 ▲114262K 123,162 ▲123162K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,781 ▲102781K 111,681 ▲111681K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 913 ▲913K 1,002 ▲1002K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,872 ▲86872K 95,772 ▲95772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,645 ▲59645K 68,545 ▲68545K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 163 ▲163K 166 ▲166K
Cập nhật: 06/05/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18573 18850 19428
CAD 18832 19110 19724
CHF 33142 33528 34174
CNY 0 3824 3915
EUR 30359 30633 31661
GBP 35056 35450 36384
HKD 0 3228 3430
JPY 162 166 172
KRW 0 16 18
NZD 0 15399 15987
SGD 20220 20503 21033
THB 733 796 849
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26145 26368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,128 26,128 26,368
USD(1-2-5) 25,083 - -
USD(10-20) 25,083 - -
EUR 30,429 30,453 31,736
JPY 162.98 163.27 172.19
GBP 35,207 35,302 36,336
AUD 18,723 18,791 19,405
CAD 19,060 19,121 19,719
CHF 33,382 33,486 34,292
SGD 20,314 20,377 21,069
CNY - 3,793 3,917
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.71 17.43 18.86
THB 776.17 785.76 836.73
NZD 15,293 15,435 15,808
SEK - 2,812 2,897
DKK - 4,072 4,193
NOK - 2,810 2,899
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,249.65 - 7,017.37
TWD 756.3 - 911.27
SAR - 6,919.3 7,248.53
KWD - 83,885 88,771
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,118 26,138 26,368
EUR 30,290 30,412 31,593
GBP 35,110 35,251 36,263
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 33,107 33,240 34,183
JPY 163.10 163.75 171.17
AUD 18,663 18,738 19,336
SGD 20,326 20,408 20,992
THB 792 795 830
CAD 19,010 19,086 19,667
NZD 15,335 15,870
KRW 17.30 19.03
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26368
AUD 18763 18863 19788
CAD 19018 19118 20129
CHF 33391 33421 35004
CNY 3804.4 3829.4 3964.5
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30545 30575 32301
GBP 35362 35412 37173
HKD 0 3355 0
JPY 165.3 165.8 176.31
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15512 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20386 20516 21239
THB 0 762.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16300000 16300000 16600000
SBJ 14000000 14000000 16600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,368
USD20 26,155 26,205 26,368
USD1 26,155 26,205 26,368
AUD 18,754 18,854 19,963
EUR 30,553 30,553 31,964
CAD 18,957 19,057 20,365
SGD 20,370 20,520 21,075
JPY 163.75 165.25 169.81
GBP 35,118 35,468 36,600
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,710 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 06/05/2026 23:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80