Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trên thị trường tiền tệ tuần qua (15 - 19/6), Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh hơn 54.515,22 tỷ đồng qua kênh OMO, nâng tổng quy mô hút ròng từ đầu tháng 6 lên 106.621 tỷ đồng; dù vậy, lãi suất qua đêm quanh 4%. Trong khi đó, trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm tăng 6 tuần liên tiếp, USD tự do tăng gần 300 đồng và chỉ số DXY lên mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài

Trong tuần qua, từ ngày 15 - 19/6, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng trên kênh thị trường mở (OMO) với quy mô lớn, qua đó kéo dài xu hướng điều tiết thanh khoản đã diễn ra từ đầu tháng 6.

Theo đó, qua kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 27.544,16 tỷ đồng trong tuần qua, toàn bộ ở kỳ hạn dài là 35 ngày và 56 ngày. Lãi suất tiếp tục được giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn ở mức rất cao, lên tới 82.059,38 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng mạnh 54.515,22 tỷ đồng khỏi hệ thống ngân hàng thông qua kênh thị trường mở. Đây là tuần thứ ba liên tiếp cơ quan điều hành thực hiện hút ròng thanh khoản. Tính từ đầu tháng 6 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng khoảng 106.621 tỷ đồng qua kênh OMO.

Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh OMO giảm xuống còn 225.690,83 tỷ đồng. Mặc dù thanh khoản được rút bớt khỏi hệ thống, thị trường liên ngân hàng chưa xuất hiện dấu hiệu căng thẳng rõ nét.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất VND qua đêm chốt ngày 18/6 ở mức 4%/năm, tăng 0,49 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; lãi suất 1 tuần lên 5,6%/năm, tăng 1,29 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài hơn cũng đồng loạt tăng mạnh và dao động quanh 8%, trong đó, kỳ hạn 2 tuần lên 7,55%/năm, tăng 1,81 điểm phần trăm; kỳ hạn 1 tháng lên 8,2%/năm, tăng 1,44 điểm phần trăm và kỳ hạn 3 tháng lên 8,15%/năm, tăng 0,77 điểm phần trăm.

Dù mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tăng đáng kể trong tuần, doanh số giao dịch vẫn duy trì ở mức thấp hơn ngưỡng 800.000 tỷ đồng, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng chưa quá căng thẳng. Điều này cho thấy việc Ngân hàng Nhà nước hút ròng thanh khoản chủ yếu nhằm điều tiết lượng vốn dư thừa trong hệ thống hơn là phản ánh áp lực thiếu hụt thanh khoản diện rộng.

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài
“Trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục xu hướng tăng đầu tuần sau đó nhanh chóng hạ nhiệt. Các kỳ hạn 1 - 6 tháng khả năng vẫn neo cao hơn khi nhu cầu vốn trung hạn chưa hoàn toàn hạ nhiệt. Mặt bằng lãi suất trên thị trường 1 vẫn duy trì ổn định trong tuần trước, dù áp lực tăng ngày càng lớn trong những tháng tới” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta dự báo.

Xu hướng này đảo chiều so với lượng bơm ròng gần 22,7 nghìn tỷ đồng trong tháng 5/2026, qua đó đưa lượng OMO lưu hành trong hệ thống lên mức hơn 332.3 nghìn tỷ đồng, theo tính toán của nhóm nghiên cứu Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS).

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), trạng thái căng thanh khoản ở kỳ hạn rất ngắn vẫn xuất hiện vào đầu tuần dù không kéo dài.

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 6 tháng vẫn neo quanh 7,6 - 8,1%, cho thấy nhu cầu cân đối vốn trung hạn còn hiện hữu, nhất là khi tăng trưởng tín dụng bước vào giai đoạn giữa năm.

“Một số tín hiệu gần đây cho thấy tín dụng vào bất động sản khu vực ưu tiên có thể sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng vài tháng tới, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 vẫn duy trì ở mức cao” - Chứng khoán Yuanta đánh giá xu hướng.

Cũng theo đánh giá của nhóm nghiên cứu MBS, việc Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay khiến lãi suất huy động khó tăng mạnh như giai đoạn đầu năm. Điều này đã phần nào tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất liên ngân hàng, tương tự diễn biến trong năm 2025, nhất là khi lãi suất trên thị trường này đang hình thành mặt bằng mới ở mức cao hơn.

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 6 liên tiếp

Trong tuần qua, tỷ giá USD tiếp tục tăng trên cả thị trường chính thức và tự do, dù mức độ biến động có sự phân hóa. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố chốt tuần ở 25.181 đồng, tăng 26 đồng so với cuối tuần trước, đánh dấu tuần tăng thứ 06 liên tiếp và cũng là mức tăng mạnh nhất kể từ đầu chuỗi tăng này.

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên. Ảnh: Đức Thanh.

USD tự do tăng vọt gần 300 đồng

Tỷ giá USD tự do ghi nhận biến động mạnh nhất, lên 26.520 - 26.540 đồng, tăng 280 đồng chiều mua vào và 270 đồng chiều bán ra chỉ trong một tuần. Trong khi tuần trước tỷ giá tự do giảm 140 đồng, tuần này thị trường đã đảo chiều tăng mạnh, đưa giá USD tự do vượt xa mặt bằng niêm yết tại các ngân hàng thương mại.

Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cũng biến động tương ứng. Đơn cử, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 26.090 - 26.440 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 2 đồng chiều mua, trong khi chiều bán ra tăng 28 đồng. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.120 - 26.440 VND/USD, giảm 12 đồng ở chiều mua vào và tăng 28 đồng ở chiều bán ra.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do đang gia tăng trong bối cảnh đồng bạc xanh phục hồi mạnh trên thị trường quốc tế, với chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - lên 100,8 điểm và ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.

Mặc dù đã lùi khỏi vùng đỉnh hơn một năm trên 101 điểm, DXY vẫn duy trì trên mốc 100 điểm và đang hướng tới mức tăng khoảng 1% trong tuần.

Xét trong bức tranh tổng thể, xu hướng tăng của đồng USD vẫn được duy trì nhờ kỳ vọng ngày càng lớn rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể tiếp tục nâng lãi suất ít nhất một lần trong năm nay. Sau cuộc họp chính sách tháng 6, Fed phát đi thông điệp mang tính “diều hâu” hơn dự kiến, củng cố quan điểm duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt để kiểm soát lạm phát.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Fed Kevin Warsh tái khẳng định cam kết đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2%, qua đó, làm giảm những nghi ngờ trước đó về khả năng nới lỏng chính sách dưới thời lãnh đạo mới./.

Áp lực tỷ giá tăng trong quý II/2026, USD có thể lên 26.700 đồng

Nhận định về áp lực lên tỷ giá trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu MBS chỉ rõ một là, việc giá dầu thế giới dao động ở mức cao dự kiến sẽ tiếp tục là yếu tố thúc đẩy đà tăng của đồng USD và tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá USD/VND.

Thêm vào đó, đồng USD cũng được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục trì hoãn việc giảm lãi suất, thậm chí, một số quan chức Fed đã bày tỏ sự ủng hộ đối với việc tăng lãi suất nếu lạm phát chưa hạ nhiệt như kỳ vọng.

Hai là, thặng dư thương mại thu hẹp khi mức tăng trưởng nhập khẩu vẫn cao hơn đáng kể so với xuất khẩu nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất. “Dù kim ngạch xuất khẩu được kỳ vọng sẽ tích cực hơn từ khoảng cuối quý II/2026 khi bước vào mùa cao điểm, mức cải thiện của cán cân thương mại trong thời gian tới dự kiến sẽ khá khiêm tốn” - MBS nêu quan điểm.

Đặc biệt khi trong ngắn hạn, việc chi phí vận chuyển tăng mạnh cộng hưởng với xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh đồng USD phục hồi mạnh, sẽ làm gia tăng rủi ro về nhập khẩu lạm phát.

Từ những phân tích trên, MBS dự báo tỷ giá USD sẽ dao động quanh mức 26.350 - 26.700 VND/USD, tương ứng với mức tăng 0,3% - 1,6% so với đầu năm trong quý II/2026./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

Tỷ giá USD hôm nay (19/6): USD tăng giá trên diện rộng, DXY sát 101 điểm lên đỉnh hơn một năm

(TBTCO) - Sáng 19/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.181 đồng, tăng 8 đồng; tỷ giá USD tự do tiếp đà tăng vượt 26.500 đồng. Chỉ số DXY cùng lúc tăng lên 100,81 điểm, mức cao nhất kể từ tháng 4/2025, nhờ thỏa thuận Mỹ - Iran giúp hạ nhiệt căng thẳng Trung Đông và lập trường cứng rắn của Fed đối với lạm phát và lãi suất.
Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

Tổng Giám đốc MB: Tăng trưởng tín dụng phải đi cùng an toàn và hiệu quả

(TBTCO) - Sau khi ghi nhận tăng trưởng tín dụng gần 37% trong năm 2025, thuộc nhóm cao nhất hệ thống, bước sang năm 2026, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng khoảng 30% và duy trì dư địa tăng trưởng 30 - 35% trong những năm tới. Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Phạm Như Ánh - Thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc MB đã chia sẻ về những yếu tố tạo nền tăng trưởng cho MB, định hướng dòng vốn cũng như chiến lược cân bằng giữa mở rộng quy mô và kiểm soát rủi ro.
DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

DBV khẳng định vị thế top 10 công ty bảo hiểm uy tín năm 2026

(TBTCO) - Ngày 18/6, Tập đoàn Bảo hiểm DBV tiếp tục khẳng định vị thế trên thị trường khi được vinh danh Top 10 Công ty Bảo hiểm uy tín năm 2026, bảng xếp hạng thường niên do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet công bố.
MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
Kim TT/AVPL 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,250 ▼480K 14,650 ▼380K
Nguyên Liệu 99.99 13,050 ▼800K 13,250 ▼800K
Nguyên Liệu 99.9 13,000 ▼800K 13,200 ▼800K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,800 ▼750K 14,200 ▼750K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,750 ▼750K 14,150 ▼750K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,680 ▼750K 14,130 ▼750K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Hà Nội - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Đà Nẵng - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Miền Tây - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Tây Nguyên - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,600 ▼4700K 146,600 ▼4700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
Miếng SJC Nghệ An 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
Miếng SJC Thái Bình 14,370 ▼510K 14,670 ▼460K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▼530K 14,650 ▼480K
NL 99.90 12,950 ▼800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼800K
Trang sức 99.9 13,840 ▼480K 14,540 ▼480K
Trang sức 99.99 13,850 ▼480K 14,550 ▼480K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,437 ▼51K 14,672 ▼460K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,437 ▼51K 14,673 ▼460K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,436 ▼51K 1,466 ▼46K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,436 ▼51K 1,467 ▼46K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 ▼51K 1,451 ▼46K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,663 ▼4555K 143,663 ▼4555K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,486 ▼3450K 108,986 ▼3450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,328 ▼3128K 98,828 ▼3128K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,917 ▼74059K 8,867 ▼82609K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,252 ▼2682K 84,752 ▼2682K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,163 ▼1918K 60,663 ▼1918K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,437 ▼51K 1,467 ▼46K
Cập nhật: 19/06/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17918 18192 18769
CAD 18069 18344 18963
CHF 31974 32356 33013
CNY 0 3846 3940
EUR 29528 29749 30832
GBP 34022 34412 35344
HKD 0 3226 3429
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14790 15383
SGD 19835 20117 20696
THB 716 779 833
USD (1,2) 26049 0 0
USD (5,10,20) 26090 0 0
USD (50,100) 26119 26133 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,120 26,120 26,440
USD(1-2-5) 25,076 - -
USD(10-20) 25,076 - -
EUR 29,626 29,650 30,991
JPY 158.87 159.16 168.39
GBP 34,131 34,223 35,331
AUD 18,130 18,196 18,837
CAD 18,288 18,347 18,978
CHF 32,244 32,344 33,219
SGD 19,967 20,029 20,774
CNY - 3,819 3,956
HKD 3,295 3,305 3,435
KRW 15.87 16.55 17.98
THB 764.18 773.62 826.06
NZD 14,784 14,921 15,331
SEK - 2,697 2,786
DKK - 3,964 4,094
NOK - 2,658 2,745
LAK - 0.91 1.26
MYR 5,938.99 - 6,688.47
TWD 751.12 - 907.78
SAR - 6,903.31 7,253.83
KWD - 83,464 88,594
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,100 26,120 26,440
EUR 29,598 29,717 30,899
GBP 34,135 34,272 35,282
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 32,152 32,281 33,181
JPY 159.26 159.90 167.66
AUD 18,100 18,173 18,763
SGD 20,044 20,124 20,705
THB 783 786 821
CAD 18,274 18,347 18,901
NZD 14,908 15,442
KRW 16.40 17.97
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26136 26136 26440
AUD 18111 18211 19141
CAD 18258 18358 19370
CHF 32258 32288 33879
CNY 3827.1 3852.1 3988
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29708 29738 31469
GBP 34321 34371 36140
HKD 0 3355 0
JPY 159.67 160.17 170.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14913 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 19998 20128 20861
THB 0 746.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14370000 14370000 14670000
SBJ 13000000 13000000 14670000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,075 26,175 26,440
USD20 26,075 26,175 26,440
USD1 23,922 26,175 26,440
AUD 18,099 18,249 19,387
EUR 29,787 29,837 31,288
CAD 18,144 18,294 19,626
SGD 20,013 20,213 20,802
JPY 160.06 161.56 166.32
GBP 34,151 34,551 35,462
XAU 14,368,000 0 14,672,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 784 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/06/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80