Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên

(TBTCO) - Trên thị trường tiền tệ tuần qua (15 - 19/6), Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh hơn 54.515,22 tỷ đồng qua kênh OMO, nâng tổng quy mô hút ròng từ đầu tháng 6 lên 106.621 tỷ đồng; dù vậy, lãi suất qua đêm quanh 4%. Trong khi đó, trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm tăng 6 tuần liên tiếp, USD tự do tăng gần 300 đồng và chỉ số DXY lên mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài

Trong tuần qua, từ ngày 15 - 19/6, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng trên kênh thị trường mở (OMO) với quy mô lớn, qua đó kéo dài xu hướng điều tiết thanh khoản đã diễn ra từ đầu tháng 6.

Theo đó, qua kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 27.544,16 tỷ đồng trong tuần qua, toàn bộ ở kỳ hạn dài là 35 ngày và 56 ngày. Lãi suất tiếp tục được giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn ở mức rất cao, lên tới 82.059,38 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng mạnh 54.515,22 tỷ đồng khỏi hệ thống ngân hàng thông qua kênh thị trường mở. Đây là tuần thứ ba liên tiếp cơ quan điều hành thực hiện hút ròng thanh khoản. Tính từ đầu tháng 6 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng khoảng 106.621 tỷ đồng qua kênh OMO.

Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh OMO giảm xuống còn 225.690,83 tỷ đồng. Mặc dù thanh khoản được rút bớt khỏi hệ thống, thị trường liên ngân hàng chưa xuất hiện dấu hiệu căng thẳng rõ nét.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất VND qua đêm chốt ngày 18/6 ở mức 4%/năm, tăng 0,49 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; lãi suất 1 tuần lên 5,6%/năm, tăng 1,29 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài hơn cũng đồng loạt tăng mạnh và dao động quanh 8%, trong đó, kỳ hạn 2 tuần lên 7,55%/năm, tăng 1,81 điểm phần trăm; kỳ hạn 1 tháng lên 8,2%/năm, tăng 1,44 điểm phần trăm và kỳ hạn 3 tháng lên 8,15%/năm, tăng 0,77 điểm phần trăm.

Dù mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tăng đáng kể trong tuần, doanh số giao dịch vẫn duy trì ở mức thấp hơn ngưỡng 800.000 tỷ đồng, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng chưa quá căng thẳng. Điều này cho thấy việc Ngân hàng Nhà nước hút ròng thanh khoản chủ yếu nhằm điều tiết lượng vốn dư thừa trong hệ thống hơn là phản ánh áp lực thiếu hụt thanh khoản diện rộng.

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài
“Trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục xu hướng tăng đầu tuần sau đó nhanh chóng hạ nhiệt. Các kỳ hạn 1 - 6 tháng khả năng vẫn neo cao hơn khi nhu cầu vốn trung hạn chưa hoàn toàn hạ nhiệt. Mặt bằng lãi suất trên thị trường 1 vẫn duy trì ổn định trong tuần trước, dù áp lực tăng ngày càng lớn trong những tháng tới” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta dự báo.

Xu hướng này đảo chiều so với lượng bơm ròng gần 22,7 nghìn tỷ đồng trong tháng 5/2026, qua đó đưa lượng OMO lưu hành trong hệ thống lên mức hơn 332.3 nghìn tỷ đồng, theo tính toán của nhóm nghiên cứu Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS).

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), trạng thái căng thanh khoản ở kỳ hạn rất ngắn vẫn xuất hiện vào đầu tuần dù không kéo dài.

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 6 tháng vẫn neo quanh 7,6 - 8,1%, cho thấy nhu cầu cân đối vốn trung hạn còn hiện hữu, nhất là khi tăng trưởng tín dụng bước vào giai đoạn giữa năm.

“Một số tín hiệu gần đây cho thấy tín dụng vào bất động sản khu vực ưu tiên có thể sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng vài tháng tới, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 vẫn duy trì ở mức cao” - Chứng khoán Yuanta đánh giá xu hướng.

Cũng theo đánh giá của nhóm nghiên cứu MBS, việc Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay khiến lãi suất huy động khó tăng mạnh như giai đoạn đầu năm. Điều này đã phần nào tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất liên ngân hàng, tương tự diễn biến trong năm 2025, nhất là khi lãi suất trên thị trường này đang hình thành mặt bằng mới ở mức cao hơn.

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 6 liên tiếp

Trong tuần qua, tỷ giá USD tiếp tục tăng trên cả thị trường chính thức và tự do, dù mức độ biến động có sự phân hóa. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố chốt tuần ở 25.181 đồng, tăng 26 đồng so với cuối tuần trước, đánh dấu tuần tăng thứ 06 liên tiếp và cũng là mức tăng mạnh nhất kể từ đầu chuỗi tăng này.

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên. Ảnh: Đức Thanh.

USD tự do tăng vọt gần 300 đồng

Tỷ giá USD tự do ghi nhận biến động mạnh nhất, lên 26.520 - 26.540 đồng, tăng 280 đồng chiều mua vào và 270 đồng chiều bán ra chỉ trong một tuần. Trong khi tuần trước tỷ giá tự do giảm 140 đồng, tuần này thị trường đã đảo chiều tăng mạnh, đưa giá USD tự do vượt xa mặt bằng niêm yết tại các ngân hàng thương mại.

Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cũng biến động tương ứng. Đơn cử, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 26.090 - 26.440 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 2 đồng chiều mua, trong khi chiều bán ra tăng 28 đồng. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.120 - 26.440 VND/USD, giảm 12 đồng ở chiều mua vào và tăng 28 đồng ở chiều bán ra.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do đang gia tăng trong bối cảnh đồng bạc xanh phục hồi mạnh trên thị trường quốc tế, với chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - lên 100,8 điểm và ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.

Mặc dù đã lùi khỏi vùng đỉnh hơn một năm trên 101 điểm, DXY vẫn duy trì trên mốc 100 điểm và đang hướng tới mức tăng khoảng 1% trong tuần.

Xét trong bức tranh tổng thể, xu hướng tăng của đồng USD vẫn được duy trì nhờ kỳ vọng ngày càng lớn rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể tiếp tục nâng lãi suất ít nhất một lần trong năm nay. Sau cuộc họp chính sách tháng 6, Fed phát đi thông điệp mang tính “diều hâu” hơn dự kiến, củng cố quan điểm duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt để kiểm soát lạm phát.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Fed Kevin Warsh tái khẳng định cam kết đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2%, qua đó, làm giảm những nghi ngờ trước đó về khả năng nới lỏng chính sách dưới thời lãnh đạo mới./.

Áp lực tỷ giá tăng trong quý II/2026, USD có thể lên 26.700 đồng

Nhận định về áp lực lên tỷ giá trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu MBS chỉ rõ một là, việc giá dầu thế giới dao động ở mức cao dự kiến sẽ tiếp tục là yếu tố thúc đẩy đà tăng của đồng USD và tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá USD/VND.

Thêm vào đó, đồng USD cũng được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục trì hoãn việc giảm lãi suất, thậm chí, một số quan chức Fed đã bày tỏ sự ủng hộ đối với việc tăng lãi suất nếu lạm phát chưa hạ nhiệt như kỳ vọng.

Hai là, thặng dư thương mại thu hẹp khi mức tăng trưởng nhập khẩu vẫn cao hơn đáng kể so với xuất khẩu nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất. “Dù kim ngạch xuất khẩu được kỳ vọng sẽ tích cực hơn từ khoảng cuối quý II/2026 khi bước vào mùa cao điểm, mức cải thiện của cán cân thương mại trong thời gian tới dự kiến sẽ khá khiêm tốn” - MBS nêu quan điểm.

Đặc biệt khi trong ngắn hạn, việc chi phí vận chuyển tăng mạnh cộng hưởng với xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh đồng USD phục hồi mạnh, sẽ làm gia tăng rủi ro về nhập khẩu lạm phát.

Từ những phân tích trên, MBS dự báo tỷ giá USD sẽ dao động quanh mức 26.350 - 26.700 VND/USD, tương ứng với mức tăng 0,3% - 1,6% so với đầu năm trong quý II/2026./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

Chi phí vốn ngân hàng ngày càng đắt đỏ, khó quay lại vùng thấp

(TBTCO) - Chi phí lãi của 27 ngân hàng niêm yết tăng mạnh 49% nửa đầu năm, khi nhiều nguồn vốn trở nên đắt đỏ hơn. Trước sức ép này, các ngân hàng tìm cách mở rộng kênh huy động, giữ chân, thu hút thêm CASA bằng các sản phẩm "lai". Tuy nhiên, chi phí vốn được dự báo khó sớm trở lại vùng thấp.
MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

MB “sang tay” toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con

(TBTCO) - MB vừa thông qua việc chuyển nhượng toàn bộ cổ phần Bảo hiểm AAA cho công ty con MB Capital. Giao dịch diễn ra trong bối cảnh Bảo hiểm AAA kinh doanh cốt lõi suy giảm, lợi nhuận trước thuế 6 tháng chỉ đạt 4,8 tỷ đồng. Đáng chú ý, đến cuối quý II/2026, doanh nghiệp vẫn ghi nhận lỗ lũy kế hơn 1.230 tỷ đồng.
Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

Giá vàng hôm nay ngày 26/9: Vàng thế giới tăng hơn 20 USD, trong nước phân hóa

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 20 USD/ounce, trong khi vàng miếng trong nước đứng giá và vàng nhẫn biến động trái chiều.
MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

MB hoàn tất chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu, chạm đỉnh vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB chính thức đưa vốn điều lệ vượt mốc 100.000 tỷ đồng, lên hơn 100.687 tỷ đồng sau khi hoàn tất chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu. Toàn bộ lượng cổ phiếu được phân phối cho 116.316 nhà đầu tư. Với bước tăng vốn này, MB vươn lên dẫn đầu hệ thống ngân hàng về vốn điều lệ, mở rộng dư địa tăng trưởng trong giai đoạn tới.
QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 28/09/2026 01:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17711 17985 18561
CAD 17835 18109 18730
CHF 30704 31080 31738
CNY 0 3827 3923
EUR 28962 29181 30262
GBP 33624 34013 34950
HKD 0 3181 3384
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14381 14976
SGD 19787 20069 20651
THB 693 756 810
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 28/09/2026 01:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30