Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trên thị trường tiền tệ tuần qua (15 - 19/6), Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh hơn 54.515,22 tỷ đồng qua kênh OMO, nâng tổng quy mô hút ròng từ đầu tháng 6 lên 106.621 tỷ đồng; dù vậy, lãi suất qua đêm quanh 4%. Trong khi đó, trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm tăng 6 tuần liên tiếp, USD tự do tăng gần 300 đồng và chỉ số DXY lên mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài

Trong tuần qua, từ ngày 15 - 19/6, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng trên kênh thị trường mở (OMO) với quy mô lớn, qua đó kéo dài xu hướng điều tiết thanh khoản đã diễn ra từ đầu tháng 6.

Theo đó, qua kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 27.544,16 tỷ đồng trong tuần qua, toàn bộ ở kỳ hạn dài là 35 ngày và 56 ngày. Lãi suất tiếp tục được giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn ở mức rất cao, lên tới 82.059,38 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng mạnh 54.515,22 tỷ đồng khỏi hệ thống ngân hàng thông qua kênh thị trường mở. Đây là tuần thứ ba liên tiếp cơ quan điều hành thực hiện hút ròng thanh khoản. Tính từ đầu tháng 6 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng khoảng 106.621 tỷ đồng qua kênh OMO.

Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh OMO giảm xuống còn 225.690,83 tỷ đồng. Mặc dù thanh khoản được rút bớt khỏi hệ thống, thị trường liên ngân hàng chưa xuất hiện dấu hiệu căng thẳng rõ nét.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất VND qua đêm chốt ngày 18/6 ở mức 4%/năm, tăng 0,49 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; lãi suất 1 tuần lên 5,6%/năm, tăng 1,29 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài hơn cũng đồng loạt tăng mạnh và dao động quanh 8%, trong đó, kỳ hạn 2 tuần lên 7,55%/năm, tăng 1,81 điểm phần trăm; kỳ hạn 1 tháng lên 8,2%/năm, tăng 1,44 điểm phần trăm và kỳ hạn 3 tháng lên 8,15%/năm, tăng 0,77 điểm phần trăm.

Dù mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tăng đáng kể trong tuần, doanh số giao dịch vẫn duy trì ở mức thấp hơn ngưỡng 800.000 tỷ đồng, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng chưa quá căng thẳng. Điều này cho thấy việc Ngân hàng Nhà nước hút ròng thanh khoản chủ yếu nhằm điều tiết lượng vốn dư thừa trong hệ thống hơn là phản ánh áp lực thiếu hụt thanh khoản diện rộng.

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài
“Trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục xu hướng tăng đầu tuần sau đó nhanh chóng hạ nhiệt. Các kỳ hạn 1 - 6 tháng khả năng vẫn neo cao hơn khi nhu cầu vốn trung hạn chưa hoàn toàn hạ nhiệt. Mặt bằng lãi suất trên thị trường 1 vẫn duy trì ổn định trong tuần trước, dù áp lực tăng ngày càng lớn trong những tháng tới” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta dự báo.

Xu hướng này đảo chiều so với lượng bơm ròng gần 22,7 nghìn tỷ đồng trong tháng 5/2026, qua đó đưa lượng OMO lưu hành trong hệ thống lên mức hơn 332.3 nghìn tỷ đồng, theo tính toán của nhóm nghiên cứu Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS).

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), trạng thái căng thanh khoản ở kỳ hạn rất ngắn vẫn xuất hiện vào đầu tuần dù không kéo dài.

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 6 tháng vẫn neo quanh 7,6 - 8,1%, cho thấy nhu cầu cân đối vốn trung hạn còn hiện hữu, nhất là khi tăng trưởng tín dụng bước vào giai đoạn giữa năm.

“Một số tín hiệu gần đây cho thấy tín dụng vào bất động sản khu vực ưu tiên có thể sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng vài tháng tới, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 vẫn duy trì ở mức cao” - Chứng khoán Yuanta đánh giá xu hướng.

Cũng theo đánh giá của nhóm nghiên cứu MBS, việc Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay khiến lãi suất huy động khó tăng mạnh như giai đoạn đầu năm. Điều này đã phần nào tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất liên ngân hàng, tương tự diễn biến trong năm 2025, nhất là khi lãi suất trên thị trường này đang hình thành mặt bằng mới ở mức cao hơn.

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 6 liên tiếp

Trong tuần qua, tỷ giá USD tiếp tục tăng trên cả thị trường chính thức và tự do, dù mức độ biến động có sự phân hóa. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố chốt tuần ở 25.181 đồng, tăng 26 đồng so với cuối tuần trước, đánh dấu tuần tăng thứ 06 liên tiếp và cũng là mức tăng mạnh nhất kể từ đầu chuỗi tăng này.

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên. Ảnh: Đức Thanh.

USD tự do tăng vọt gần 300 đồng

Tỷ giá USD tự do ghi nhận biến động mạnh nhất, lên 26.520 - 26.540 đồng, tăng 280 đồng chiều mua vào và 270 đồng chiều bán ra chỉ trong một tuần. Trong khi tuần trước tỷ giá tự do giảm 140 đồng, tuần này thị trường đã đảo chiều tăng mạnh, đưa giá USD tự do vượt xa mặt bằng niêm yết tại các ngân hàng thương mại.

Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cũng biến động tương ứng. Đơn cử, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 26.090 - 26.440 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 2 đồng chiều mua, trong khi chiều bán ra tăng 28 đồng. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.120 - 26.440 VND/USD, giảm 12 đồng ở chiều mua vào và tăng 28 đồng ở chiều bán ra.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do đang gia tăng trong bối cảnh đồng bạc xanh phục hồi mạnh trên thị trường quốc tế, với chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - lên 100,8 điểm và ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.

Mặc dù đã lùi khỏi vùng đỉnh hơn một năm trên 101 điểm, DXY vẫn duy trì trên mốc 100 điểm và đang hướng tới mức tăng khoảng 1% trong tuần.

Xét trong bức tranh tổng thể, xu hướng tăng của đồng USD vẫn được duy trì nhờ kỳ vọng ngày càng lớn rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể tiếp tục nâng lãi suất ít nhất một lần trong năm nay. Sau cuộc họp chính sách tháng 6, Fed phát đi thông điệp mang tính “diều hâu” hơn dự kiến, củng cố quan điểm duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt để kiểm soát lạm phát.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Fed Kevin Warsh tái khẳng định cam kết đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2%, qua đó, làm giảm những nghi ngờ trước đó về khả năng nới lỏng chính sách dưới thời lãnh đạo mới./.

Áp lực tỷ giá tăng trong quý II/2026, USD có thể lên 26.700 đồng

Nhận định về áp lực lên tỷ giá trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu MBS chỉ rõ một là, việc giá dầu thế giới dao động ở mức cao dự kiến sẽ tiếp tục là yếu tố thúc đẩy đà tăng của đồng USD và tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá USD/VND.

Thêm vào đó, đồng USD cũng được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục trì hoãn việc giảm lãi suất, thậm chí, một số quan chức Fed đã bày tỏ sự ủng hộ đối với việc tăng lãi suất nếu lạm phát chưa hạ nhiệt như kỳ vọng.

Hai là, thặng dư thương mại thu hẹp khi mức tăng trưởng nhập khẩu vẫn cao hơn đáng kể so với xuất khẩu nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất. “Dù kim ngạch xuất khẩu được kỳ vọng sẽ tích cực hơn từ khoảng cuối quý II/2026 khi bước vào mùa cao điểm, mức cải thiện của cán cân thương mại trong thời gian tới dự kiến sẽ khá khiêm tốn” - MBS nêu quan điểm.

Đặc biệt khi trong ngắn hạn, việc chi phí vận chuyển tăng mạnh cộng hưởng với xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh đồng USD phục hồi mạnh, sẽ làm gia tăng rủi ro về nhập khẩu lạm phát.

Từ những phân tích trên, MBS dự báo tỷ giá USD sẽ dao động quanh mức 26.350 - 26.700 VND/USD, tương ứng với mức tăng 0,3% - 1,6% so với đầu năm trong quý II/2026./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

Tiền gửi nhích nhẹ 5% giữa "cuộc đua" lãi suất, lộ diện ngân hàng hút khách gửi tiền mạnh nhất

(TBTCO) - Dù mặt bằng lãi suất liên tục đi lên, dòng tiền gửi vẫn chưa chảy mạnh như kỳ vọng, khi tiền gửi tại 28 ngân hàng chỉ tăng 5,4%, tương ứng hơn 800.000 tỷ đồng sau 6 tháng. Trong bối cảnh huy động tiền gửi còn nhiều áp lực, thanh khoản gây thách thức cuối năm, không ít nhà băng đã đẩy mạnh nhiều "van" hút vốn khác.
VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

VBI vững vàng Top 3 bảo hiểm uy tín, tạo đà cho giai đoạn tăng trưởng mới

(TBTCO) - Hành trình tăng trưởng bền bỉ tiếp tục đưa VBI giữ vững Top 3 Công ty Bảo hiểm phi nhân thọ uy tín năm 2026. Với doanh thu 6 tháng đầu năm gần chạm mốc 3.500 tỷ đồng, VBI không chỉ mở rộng quy mô, mà còn đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển sản phẩm lấy khách hàng làm trung tâm, sẵn sàng đón đầu chu kỳ tăng trưởng mới của thị trường bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 7/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì đà tăng lên hơn 4.240 USD/ounce, trong khi thị trường trong nước cũng ghi nhận diễn biến tích cực khi cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng giá.
MB bứt tốc hướng tới lợi nhuận 39.500 tỷ đồng, không ngại đặt mục tiêu lớn để tạo động lực phát triển nhanh hơn

MB bứt tốc hướng tới lợi nhuận 39.500 tỷ đồng, không ngại đặt mục tiêu lớn để tạo động lực phát triển nhanh hơn

(TBTCO) - Giữa bối cảnh kinh tế và thị trường tài chính nhiều biến động, MB ghi nhận nhiều chỉ tiêu kinh doanh tích cực, báo lãi trước thuế 20,2 nghìn tỷ đồng, lọt top 3 toàn ngành và tự tin hoàn thành mục tiêu 39,5 nghìn tỷ đồng cả năm. Ngân hàng hướng tới tăng trưởng tín dụng và huy động 30 - 35% trong nửa cuối năm, bứt tốc trong 3 năm tới và thu hẹp khoảng cách với nhóm "big 4".
PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

PTI: Doanh thu phí bảo hiểm lấy lại đà tăng trưởng 14%, lãi hoạt động tài chính tăng gấp đôi

(TBTCO) - 6 tháng đầu năm 2026, Bảo hiểm PTI ghi nhận lợi nhuận trước thuế 165,6 tỷ đồng, hoàn thành hơn 50% kế hoạch năm. Sau quá trình tái cơ cấu danh mục nghiệp vụ, doanh thu phí bảo hiểm gốc tăng trở lại 14%; đồng thời, hoạt động tài chính khởi sắc với lợi nhuận gấp đôi cùng kỳ, nhờ tối ưu danh mục đầu tư gần 4.600 tỷ đồng.
ABBank mở rộng kế hoạch tăng vốn lên sát 27.000 tỷ đồng, gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu

ABBank mở rộng kế hoạch tăng vốn lên sát 27.000 tỷ đồng, gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu

(TBTCO) - ABBank đang lấy ý kiến cổ đông về phương án tăng vốn điều lệ từ 16.067,8 tỷ đồng lên 26.833,3 tỷ đồng, tăng 67%. Đáng chú ý, ngân hàng đề xuất tăng gấp đôi quy mô chào bán cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu lên hơn 8.033 tỷ đồng với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, đồng thời bổ sung phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu theo tỷ lệ 100:12.
PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 đáp ứng nhu cầu bảo toàn tài sản liên thế hệ ngày càng tăng của người Việt

(TBTCO) - Khi thế hệ tích sản tại Việt Nam bắt đầu đặt câu hỏi không phải “làm sao để có nhiều hơn” mà là “làm sao để những gì mình tạo dựng không bị mất đi”, sản phẩm bảo hiểm liên kết chung PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0 (“PRUBảo Vệ Tối Đa 2.0”) của Prudential Việt Nam là giải pháp được thiết kế để tối đa bảo toàn và trao truyền di sản cho thế hệ kế tiếp, góp phần đồng hành cùng khách hàng trên hành trình gìn giữ những điều quý giá và chuẩn bị cho tương lai dài hạn.
Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

Nợ xấu tăng nhanh, "bộ đệm" dự phòng chịu sức ép

(TBTCO) - Nợ xấu tại 27 ngân hàng niêm yết đã lần đầu vượt 300.000 tỷ đồng, đạt hơn 312.100 tỷ đồng vào cuối quý II/2026, tăng 17,5% so với cuối năm 2025, cùng với hơn 1 triệu tỷ đồng nợ "treo" ngoại bảng. Hầu hết các ngân hàng đẩy mạnh trích lập dự phòng, nhưng "bộ đệm" rủi ro vẫn chịu sức ép trước tốc độ gia tăng của nợ xấu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,500 142,200
Hà Nội - PNJ 138,500 142,200
Đà Nẵng - PNJ 138,500 142,200
Miền Tây - PNJ 138,500 142,200
Tây Nguyên - PNJ 138,500 142,200
Đông Nam Bộ - PNJ 138,500 142,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,920 14,220
Miếng SJC Nghệ An 13,920 14,220
Miếng SJC Thái Bình 13,920 14,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,920 14,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,920 14,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,920 14,220
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,530 14,130
Trang sức 99.99 13,540 14,140
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,392 14,222
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,392 14,223
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,387 1,418
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,357 1,402
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 131,812 138,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,511 105,311
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 85,696 95,496
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,881 85,681
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,095 81,895
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,819 58,619
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,392 1,422
Cập nhật: 08/08/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17898 18172 18751
CAD 18151 18427 19046
CHF 31682 32062 32714
CNY 0 3840 3940
EUR 29568 29789 30870
GBP 34398 34790 35728
HKD 0 3208 3411
JPY 158 162 169
KRW 0 17 19
NZD 0 15058 15645
SGD 19908 20190 20760
THB 708 771 824
USD (1,2) 25932 0 0
USD (5,10,20) 25972 0 0
USD (50,100) 26001 26015 26385
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,025 26,025 26,405
USD(1-2-5) 24,984 - -
USD(10-20) 24,984 - -
EUR 29,606 29,630 31,030
JPY 161.01 161.3 171.02
GBP 34,629 34,723 35,920
AUD 18,095 18,160 18,846
CAD 18,344 18,403 19,081
CHF 31,876 31,975 32,925
SGD 20,025 20,087 20,875
CNY - 3,811 3,956
HKD 3,274 3,284 3,421
KRW 17.06 17.79 19.35
THB 755.59 764.92 818.68
NZD 15,040 15,180 15,631
SEK - 2,710 2,805
DKK - 3,970 4,111
NOK - 2,702 2,801
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,988.34 - 6,759.97
TWD 734.31 - 889.53
SAR - 6,862.69 7,228.44
KWD - 83,056 88,368
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,030 26,050 26,430
EUR 29,669 29,788 30,983
GBP 34,668 34,807 35,839
HKD 3,277 3,290 3,407
CHF 31,740 31,867 32,790
JPY 161.47 162.12 169.98
AUD 18,098 18,171 18,769
SGD 20,092 20,173 20,766
THB 772 775 811
CAD 18,382 18,456 19,041
NZD 15,147 15,693
KRW 17.64 19.62
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26000 26000 26400
AUD 18083 18183 19113
CAD 18330 18430 19444
CHF 31913 31943 33533
CNY 3821.3 3846.3 3981.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29739 29769 31494
GBP 34702 34752 36505
HKD 0 3355 0
JPY 161.86 162.36 172.87
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15176 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20060 20190 20915
THB 0 737 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13920000 13920000 14320000
SBJ 12500000 12500000 14320000
Cập nhật: 08/08/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80