Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Trên thị trường tiền tệ tuần qua (15 - 19/6), Ngân hàng Nhà nước hút ròng mạnh hơn 54.515,22 tỷ đồng qua kênh OMO, nâng tổng quy mô hút ròng từ đầu tháng 6 lên 106.621 tỷ đồng; dù vậy, lãi suất qua đêm quanh 4%. Trong khi đó, trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm tăng 6 tuần liên tiếp, USD tự do tăng gần 300 đồng và chỉ số DXY lên mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 8 - 12/6: Hút ròng hơn 25.700 tỷ đồng, lãi suất qua đêm hạ nhiệt Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài

Trong tuần qua, từ ngày 15 - 19/6, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng trên kênh thị trường mở (OMO) với quy mô lớn, qua đó kéo dài xu hướng điều tiết thanh khoản đã diễn ra từ đầu tháng 6.

Theo đó, qua kênh cầm cố, Ngân hàng Nhà nước phát hành tổng cộng 27.544,16 tỷ đồng trong tuần qua, toàn bộ ở kỳ hạn dài là 35 ngày và 56 ngày. Lãi suất tiếp tục được giữ nguyên ở mức 4,5%/năm. Trong khi đó, lượng giấy tờ có giá đáo hạn ở mức rất cao, lên tới 82.059,38 tỷ đồng.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng mạnh 54.515,22 tỷ đồng khỏi hệ thống ngân hàng thông qua kênh thị trường mở. Đây là tuần thứ ba liên tiếp cơ quan điều hành thực hiện hút ròng thanh khoản. Tính từ đầu tháng 6 đến nay, Ngân hàng Nhà nước đã hút ròng khoảng 106.621 tỷ đồng qua kênh OMO.

Đến cuối tuần, khối lượng lưu hành trên kênh OMO giảm xuống còn 225.690,83 tỷ đồng. Mặc dù thanh khoản được rút bớt khỏi hệ thống, thị trường liên ngân hàng chưa xuất hiện dấu hiệu căng thẳng rõ nét.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất VND qua đêm chốt ngày 18/6 ở mức 4%/năm, tăng 0,49 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; lãi suất 1 tuần lên 5,6%/năm, tăng 1,29 điểm phần trăm.

Các kỳ hạn dài hơn cũng đồng loạt tăng mạnh và dao động quanh 8%, trong đó, kỳ hạn 2 tuần lên 7,55%/năm, tăng 1,81 điểm phần trăm; kỳ hạn 1 tháng lên 8,2%/năm, tăng 1,44 điểm phần trăm và kỳ hạn 3 tháng lên 8,15%/năm, tăng 0,77 điểm phần trăm.

Dù mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tăng đáng kể trong tuần, doanh số giao dịch vẫn duy trì ở mức thấp hơn ngưỡng 800.000 tỷ đồng, cho thấy nhu cầu vốn ngắn hạn giữa các tổ chức tín dụng chưa quá căng thẳng. Điều này cho thấy việc Ngân hàng Nhà nước hút ròng thanh khoản chủ yếu nhằm điều tiết lượng vốn dư thừa trong hệ thống hơn là phản ánh áp lực thiếu hụt thanh khoản diện rộng.

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài
“Trong ngắn hạn, chúng tôi cho rằng lãi suất liên ngân hàng có thể tiếp tục xu hướng tăng đầu tuần sau đó nhanh chóng hạ nhiệt. Các kỳ hạn 1 - 6 tháng khả năng vẫn neo cao hơn khi nhu cầu vốn trung hạn chưa hoàn toàn hạ nhiệt. Mặt bằng lãi suất trên thị trường 1 vẫn duy trì ổn định trong tuần trước, dù áp lực tăng ngày càng lớn trong những tháng tới” - nhóm phân tích Chứng khoán Yuanta dự báo.

Xu hướng này đảo chiều so với lượng bơm ròng gần 22,7 nghìn tỷ đồng trong tháng 5/2026, qua đó đưa lượng OMO lưu hành trong hệ thống lên mức hơn 332.3 nghìn tỷ đồng, theo tính toán của nhóm nghiên cứu Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS).

Trong báo cáo thị trường tiền tệ mới phát hành của Công ty TNHH Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), trạng thái căng thanh khoản ở kỳ hạn rất ngắn vẫn xuất hiện vào đầu tuần dù không kéo dài.

Mặt bằng lãi suất liên ngân hàng kỳ hạn 1 - 6 tháng vẫn neo quanh 7,6 - 8,1%, cho thấy nhu cầu cân đối vốn trung hạn còn hiện hữu, nhất là khi tăng trưởng tín dụng bước vào giai đoạn giữa năm.

“Một số tín hiệu gần đây cho thấy tín dụng vào bất động sản khu vực ưu tiên có thể sẽ giúp thúc đẩy tăng trưởng tín dụng vài tháng tới, trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động trên thị trường 1 vẫn duy trì ở mức cao” - Chứng khoán Yuanta đánh giá xu hướng.

Cũng theo đánh giá của nhóm nghiên cứu MBS, việc Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng tiếp tục giảm lãi suất cho vay khiến lãi suất huy động khó tăng mạnh như giai đoạn đầu năm. Điều này đã phần nào tạo áp lực lên mặt bằng lãi suất liên ngân hàng, tương tự diễn biến trong năm 2025, nhất là khi lãi suất trên thị trường này đang hình thành mặt bằng mới ở mức cao hơn.

Tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 6 liên tiếp

Trong tuần qua, tỷ giá USD tiếp tục tăng trên cả thị trường chính thức và tự do, dù mức độ biến động có sự phân hóa. Theo đó, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố chốt tuần ở 25.181 đồng, tăng 26 đồng so với cuối tuần trước, đánh dấu tuần tăng thứ 06 liên tiếp và cũng là mức tăng mạnh nhất kể từ đầu chuỗi tăng này.

Tuần thứ ba liên tiếp hút ròng trên OMO, lãi suất neo cao 8% kỳ hạn dài
Thị trường tiền tệ tuần 15 - 19/6: Kéo dài chuỗi hút ròng hơn 100.000 tỷ đồng, USD đồng loạt đi lên. Ảnh: Đức Thanh.

USD tự do tăng vọt gần 300 đồng

Tỷ giá USD tự do ghi nhận biến động mạnh nhất, lên 26.520 - 26.540 đồng, tăng 280 đồng chiều mua vào và 270 đồng chiều bán ra chỉ trong một tuần. Trong khi tuần trước tỷ giá tự do giảm 140 đồng, tuần này thị trường đã đảo chiều tăng mạnh, đưa giá USD tự do vượt xa mặt bằng niêm yết tại các ngân hàng thương mại.

Tỷ giá tại các ngân hàng thương mại cũng biến động tương ứng. Đơn cử, tỷ giá USD tại Vietcombank được niêm yết ở mức 26.090 - 26.440 VND/USD (mua vào - bán ra), giảm 2 đồng chiều mua, trong khi chiều bán ra tăng 28 đồng. Tại BIDV, tỷ giá USD ở mức 26.120 - 26.440 VND/USD, giảm 12 đồng ở chiều mua vào và tăng 28 đồng ở chiều bán ra.

Diễn biến này cho thấy nhu cầu nắm giữ USD trên thị trường tự do đang gia tăng trong bối cảnh đồng bạc xanh phục hồi mạnh trên thị trường quốc tế, với chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - lên 100,8 điểm và ở mức cao nhất kể từ tháng 4/2025.

Mặc dù đã lùi khỏi vùng đỉnh hơn một năm trên 101 điểm, DXY vẫn duy trì trên mốc 100 điểm và đang hướng tới mức tăng khoảng 1% trong tuần.

Xét trong bức tranh tổng thể, xu hướng tăng của đồng USD vẫn được duy trì nhờ kỳ vọng ngày càng lớn rằng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) có thể tiếp tục nâng lãi suất ít nhất một lần trong năm nay. Sau cuộc họp chính sách tháng 6, Fed phát đi thông điệp mang tính “diều hâu” hơn dự kiến, củng cố quan điểm duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt để kiểm soát lạm phát.

Bên cạnh đó, Chủ tịch Fed Kevin Warsh tái khẳng định cam kết đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2%, qua đó, làm giảm những nghi ngờ trước đó về khả năng nới lỏng chính sách dưới thời lãnh đạo mới./.

Áp lực tỷ giá tăng trong quý II/2026, USD có thể lên 26.700 đồng

Nhận định về áp lực lên tỷ giá trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu MBS chỉ rõ một là, việc giá dầu thế giới dao động ở mức cao dự kiến sẽ tiếp tục là yếu tố thúc đẩy đà tăng của đồng USD và tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá USD/VND.

Thêm vào đó, đồng USD cũng được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục trì hoãn việc giảm lãi suất, thậm chí, một số quan chức Fed đã bày tỏ sự ủng hộ đối với việc tăng lãi suất nếu lạm phát chưa hạ nhiệt như kỳ vọng.

Hai là, thặng dư thương mại thu hẹp khi mức tăng trưởng nhập khẩu vẫn cao hơn đáng kể so với xuất khẩu nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất. “Dù kim ngạch xuất khẩu được kỳ vọng sẽ tích cực hơn từ khoảng cuối quý II/2026 khi bước vào mùa cao điểm, mức cải thiện của cán cân thương mại trong thời gian tới dự kiến sẽ khá khiêm tốn” - MBS nêu quan điểm.

Đặc biệt khi trong ngắn hạn, việc chi phí vận chuyển tăng mạnh cộng hưởng với xu hướng giảm giá của đồng nội tệ trong bối cảnh đồng USD phục hồi mạnh, sẽ làm gia tăng rủi ro về nhập khẩu lạm phát.

Từ những phân tích trên, MBS dự báo tỷ giá USD sẽ dao động quanh mức 26.350 - 26.700 VND/USD, tương ứng với mức tăng 0,3% - 1,6% so với đầu năm trong quý II/2026./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 17/7: Giá vàng thế giới thủng mốc 4.000 USD, trong nước cũng xuôi chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Hôm nay, giá vàng thế giới giảm mạnh xuống 3.976 USD/ounce, đánh mất mốc 4.000 USD/ounce. Trong khi đó, mở cửa phiên sáng, giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng xuôi chiều giảm khá mạnh. Ở nhiều "nhà vàng" lớn, mức giảm đang ở mức 1,5 - 1,7 triệu đồng/lượng.
PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,880 ▲90K 14,580 ▲90K
Trang sức 99.99 13,890 ▲90K 14,590 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▲9K 14,752 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▲9K 14,753 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1278K 1,465 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1278K 1,466 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 ▼1251K 1,445 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 ▲891K 143,069 ▲891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 ▲675K 108,536 ▲675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 ▼79146K 9,842 ▼87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 ▲549K 88,304 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 ▲525K 84,402 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 ▲376K 60,413 ▲376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Cập nhật: 18/07/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17818 18092 18679
CAD 18218 18494 19113
CHF 31910 32291 32944
CNY 0 3838 3932
EUR 29444 29665 30746
GBP 34567 34960 35898
HKD 0 3222 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15643
SGD 19810 20092 20674
THB 696 759 814
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,557 29,581 30,990
JPY 157.47 157.75 167.26
GBP 34,753 34,847 36,053
AUD 18,015 18,080 18,760
CAD 18,368 18,427 19,105
CHF 32,112 32,212 33,157
SGD 19,937 19,999 20,786
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.85 755.06 808.82
NZD 15,010 15,149 15,604
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,665 2,763
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.91 - 6,788.09
TWD 732.76 - 887.63
SAR - 6,873.09 7,239.41
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26490
AUD 17972 18072 19003
CAD 18386 18486 19502
CHF 32146 32176 33754
CNY 3819.3 3844.3 3979.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29619 29649 31374
GBP 34830 34880 36638
HKD 0 3355 0
JPY 158.41 158.91 169.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15128 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19983 20113 20840
THB 0 727 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,105 26,155 26,516
USD20 26,105 26,155 26,516
USD1 23,992 26,155 26,516
AUD 17,950 18,064 19,244
EUR 29,350 29,450 31,199
CAD 18,250 18,350 19,751
SGD 20,001 20,150 20,783
JPY 158.24 159.74 166.01
GBP 34,650 34,806 35,967
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/07/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80