Nền kinh tế vững vàng trước nhiều sức ép, tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026

Ánh Tuyết
Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo, Ngân hàng Nhà nước sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4,5% đến hết năm 2026, đồng VND có thể chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026, song triển vọng trung hạn vẫn tích cực.
aa
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Kinh tế giữ nhịp bền bỉ, Ngân hàng UOB nâng kỳ vọng tăng trưởng GDP năm 2026
UOB đẩy mạnh kết nối dòng vốn quốc tế, nghiên cứu tham gia Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

VND còn chịu áp lực trong quý III, triển vọng trung hạn vẫn tích cực

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) vừa đưa ra những dự báo tăng trưởng kinh tế quý III/2026.

Theo nhóm nghiên cứu của Ngân hàng UOB, mối quan tâm lớn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hiện nay là lạm phát. Trong 5 tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 4,31% so với cùng kỳ năm 2025, tiệm cận mục tiêu kiểm soát lạm phát ở mức 4,5%. Trong bối cảnh theo dõi áp lực giảm giá của VND, ưu tiên của Ngân hàng Nhà nước nhiều khả năng là giữ nguyên lãi suất điều hành.

Sự bền bỉ của nền kinh tế trước áp lực chi phí tăng cao và những căng thẳng bên ngoài
Tỷ giá còn chịu áp lực ngắn hạn trong quý III/2026. Ảnh minh họa: Đức Thanh.

Song song đó, Ngân hàng Nhà nước đã kêu gọi các ngân hàng giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp và người vay, kết hợp với các biện pháp tài khóa, bao gồm gia hạn chính sách thuế suất 0% đối với xăng và một số sản phẩm nhiên liệu đến cuối tháng 6. Tuy nhiên, trước cạnh tranh thanh khoản gia tăng khi nhu cầu tín dụng phục hồi, một số ngân hàng trong nước đã nâng lãi suất huy động.

Tính đến ngày 28/4, dư nợ tín dụng toàn hệ thống vượt 19,4 triệu tỷ đồng, tăng 18,26% so với cùng kỳ; trong khi tổng thanh khoản chỉ tăng 7,7% so với cùng kỳ tính từ đầu năm.

Về tỷ giá, dấu hiệu ổn định dần xuất hiện. Theo nhóm nghiên cứu của UOB, tỷ giá VND đã ổn định hơn trong những tuần gần đây, dao động trong biên độ 26.291 - 26.372 VND/USD trong tháng 4 - 5, nằm gọn trong biên độ 5% so với tỷ giá tham chiếu hàng ngày của Ngân hàng Nhà nước.

“Tổng thể, chúng tôi giữ quan điểm VND sẽ theo xu hướng giảm giá dần một cách có kiểm soát, với dự báo tỷ giá USD/VND lần lượt là 26.500 trong quý III/2026, 26.400 trong quý IV/2026, 26.300 trong quý I/2027 và 26.100 trong quý II/2027” - Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu của UOB dự báo.

Động thái can thiệp trong tháng 4, thông qua hợp đồng kỳ hạn hủy ngang 180 ngày ở mức 26.850 VND/USD, dường như đã thiết lập một ngưỡng trần hiệu quả, giúp neo kỳ vọng và hạn chế đầu cơ. Việc gia hạn thỏa thuận ngừng bắn Mỹ - Iran vào cuối tháng 5 cũng góp phần cải thiện bối cảnh bên ngoài.

Ở góc độ rộng hơn, sự ổn định trong quan hệ thương mại Mỹ - Trung sau cuộc gặp hồi giữa tháng 5 mang lại tín hiệu tích cực cho xuất khẩu của Việt Nam.

“Căng thẳng song phương giảm giúp hạ rủi ro lan tỏa thuế quan, củng cố vai trò của Việt Nam như một điểm đến hưởng lợi từ dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu, đồng thời hỗ trợ triển vọng FDI trung và dài hạn” - UOB đánh giá.

Cũng theo UOB, trong ngắn hạn (quý III/2026), VND nhiều khả năng vẫn chịu áp lực nhất định, tương đồng với các đồng tiền trong khu vực, do bất ổn địa chính trị còn kéo dài.

“Về trung hạn, chúng tôi duy trì quan điểm tương đối ổn định, được hỗ trợ bởi tăng trưởng vững chắc, dòng vốn FDI duy trì tích cực và chính sách tiền tệ ổn định, với lãi suất điều hành dự kiến giữ ở mức 4,5% đến hết năm 2026. Khả năng Việt Nam được nâng hạng lên thị trường mới nổi vào tháng 9/2026 cũng có thể tạo cú hích mang tính cấu trúc cho dòng vốn đầu tư gián tiếp” - Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu của UOB nêu quan điểm.

Sức chống chịu của nền kinh tế trước nhiều áp lực

Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu Ngân hàng UOB, các số liệu gần đây cho thấy triển vọng ngắn hạn đan xen cả tích cực và thách thức, khi chi phí năng lượng tăng cao bắt đầu gây sức ép.

Về mặt tích cực, hoạt động sản xuất cải thiện trong tháng 5 khi chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tăng lên 52,8 điểm, từ mức 50,5 điểm của tháng 4 và 49,8 điểm cùng kỳ năm trước; chỉ số sản lượng cũng tăng mạnh lên 55,6 điểm.

Cùng với đó, quý I/2026, tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 7,83% so với cùng kỳ. Mức tăng này vượt dự báo của Ngân hàng UOB (7%) và dự báo đồng thuận của Bloomberg (7,6%).

Động lực tăng trưởng đến từ các ngành sản xuất, xây dựng và dịch vụ, được hỗ trợ bởi nhu cầu xuất khẩu mạnh mẽ và dòng vốn FDI thực hiện, trong bối cảnh doanh nghiệp tiếp tục đa dạng hóa chuỗi cung ứng nhằm thích ứng với các thay đổi trong quy định thương mại toàn cầu.

Sự bền bỉ của nền kinh tế trước áp lực chi phí tăng cao và những căng thẳng bên ngoài
Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô chính. Nguồn: UOB.

Ngược lại, áp lực lạm phát gia tăng khi CPI tháng 5 tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức gần 5,5% của tháng 4 và gần 4,7% của tháng 3. Đây cũng là mức lạm phát cao nhất trong vòng 6 năm qua.

Bên cạnh đó, đà tăng của sản xuất công nghiệp có dấu hiệu chậm lại, khi sản lượng công nghiệp tháng 5 chỉ tăng 9% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 10% của tháng 4. Điều này kéo tốc độ tăng trưởng sản lượng công nghiệp bình quân quý II/2026 xuống còn 9,5%, thấp hơn mức 11% ghi nhận trong quý I/2026.

Hoạt động thương mại cũng có dấu hiệu hạ nhiệt khi xuất khẩu tăng 18% so với cùng kỳ, giảm từ mức 21% của tháng trước. Trong khi đó, nhập khẩu tiếp tục tăng mạnh 33,8%, cao hơn mức 32,5% của tháng 4. Diễn biến này khiến cán cân thương mại giai đoạn tháng 1 - 5 chuyển sang thâm hụt hơn 13 tỷ USD, ghi nhận mức thâm hụt lớn nhất trong gần 30 năm.

UOB dự báo áp lực lên cán cân thanh toán sẽ còn kéo dài. Các dự án hạ tầng và giao thông quy mô lớn sẽ làm gia tăng nhu cầu nhập khẩu máy móc, trong khi giá dầu cao hơn sẽ đẩy chi phí năng lượng tăng lên.

“Theo mô phỏng của chúng tôi, nếu giá dầu thô bình quân 100 USD/thùng trong 6 - 12 tháng, hóa đơn nhập khẩu năng lượng của Việt Nam có thể tăng khoảng 40% (tương đương 5,2 tỷ USD) trong năm 2026. Trong khi thặng dư tài khoản vãng lai có thể thu hẹp khoảng 20% (khoảng 6,5 tỷ USD), từ mức 33 tỷ USD năm 2025” - nhóm nghiên cứu của Ngân hàng UOB phân tích./

Ánh Tuyết

Đọc thêm

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

HDBank huy động thành công 721 triệu USD từ ADB, Standard Chartered và các định chế tài chính quốc tế

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Phát triển TP.HCM (HDBank - HoSE: HDB) vừa ký kết khoản vay hợp vốn quốc tế theo hình thức Khoản vay xã hội (Social Loan) trị giá 721 triệu USD, vượt khoảng 60% quy mô huy động ban đầu. Thành công của giao dịch tiếp tục khẳng định niềm tin của các định chế tài chính quốc tế đối với năng lực quản trị, chiến lược phát triển bền vững và triển vọng tăng trưởng của HDBank.
Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

Tín dụng mở rộng, doanh nghiệp vẫn chờ thay đổi trong cách cho vay

(TBTCO) - Tại Hội nghị Đối thoại Doanh nghiệp - Chính quyền TP. Hồ Chí Minh chuyên đề lĩnh vực ngân hàng, diễn ra ngày 10/7, Ngân hàng Nhà nước cho biết đang triển khai nhiều chương trình tín dụng quy mô lớn dành cho các lĩnh vực ưu tiên. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp vẫn bày tỏ băn khoăn về khả năng tiếp cận vốn, đặc biệt là những vướng mắc trong quá trình thẩm định và cấp tín dụng.
Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

Quỹ Prudence ra mắt Levela - nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp nâng cao hiểu biết tài chính cho người trẻ tại châu Á và châu Phi

(TBTCO) - Prudence Foundation, quỹ đầu tư cộng đồng của Prudential plc vừa công bố ra mắt Levela, nền tảng giáo dục tài chính miễn phí giúp người trẻ nhanh chóng trang bị các kỹ năng quản lý tài chính thiết yếu, hình thành thói quen tài chính tích cực và nâng cao sự tự tin trong việc quản lý tiền bạc.
Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 10/7: Vàng thế giới tăng lên 4.125 USD/ounce, vàng trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh 4.125 USD/ounce, tăng hơn 50 USD so với hôm qua. Trong nước, giá vàng miếng đồng loạt tăng trong khi giá vàng nhẫn ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các thương hiệu.
Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

Chuyên gia Ngân hàng Shinhan nhận diện nhân tố chi phối tăng trưởng GDP, tỷ giá nửa cuối năm

(TBTCO) - Các chuyên gia Ngân hàng Shinhan đánh giá, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì nền tảng tăng trưởng vững, với dòng FDI, đặc biệt từ Hàn Quốc vẫn gia tăng. Tuy nhiên, với độ mở của nền kinh tế, tỷ giá VND/USD trong nửa cuối năm sẽ chịu tác động từ nhiều yếu tố, trong đó có hai nhóm doanh nghiệp đối mặt rủi ro lớn.
SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

SHB SAHA ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh”: Tự động sinh lời tới 6%/năm

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) chính thức ra mắt tính năng “Sinh lời nhàn tênh” trên ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới SHB SAHA, mang đến giải pháp tài chính thông minh giúp khách hàng tối ưu dòng tiền nhàn rỗi, gia tăng hiệu quả sinh lời, đồng thời vẫn bảo đảm tính linh hoạt trong chi tiêu và quản lý tài chính hằng ngày.
Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

Agribank được bổ sung gần 30.000 tỷ đồng vốn điều lệ, thêm dư địa mở rộng tín dụng

(TBTCO) - Agribank sẽ được bổ sung 29.690 tỷ đồng vốn điều lệ trong giai đoạn 2025 - 2027, nâng vốn điều lệ lên 81.328 tỷ đồng, tương ứng tăng 57,5%. Việc tăng vốn giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, đáp ứng các tỷ lệ an toàn, tạo dư địa mở rộng tín dụng, nhất là đối với lĩnh vực "tam nông".
Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,690 14,990
Kim TT/AVPL 14,500 14,900
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,500 14,900
Nguyên Liệu 99.99 13,400 13,600
Nguyên Liệu 99.9 13,350 13,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 14,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 14,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 14,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 149,000
Hà Nội - PNJ 145,000 149,000
Đà Nẵng - PNJ 145,000 149,000
Miền Tây - PNJ 145,000 149,000
Tây Nguyên - PNJ 145,000 149,000
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 149,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,690 14,990
Miếng SJC Nghệ An 14,690 14,990
Miếng SJC Thái Bình 14,690 14,990
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 14,900
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 14,900
NL 99.90 12,950
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 14,090 14,790
Trang sức 99.99 14,100 14,800
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,469 14,992
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,469 14,993
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,464 1,494
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,464 1,495
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,439 1,474
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,941 145,941
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,911 110,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,592 100,392
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,273 90,073
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,293 86,093
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,822 61,622
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,469 1,499
Cập nhật: 12/07/2026 19:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17719 17992 18579
CAD 18016 18291 18915
CHF 31829 32210 32858
CNY 0 3834 3927
EUR 29342 29562 30643
GBP 34402 34793 35736
HKD 0 3219 3422
JPY 155 159 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14815 15410
SGD 19787 20068 20647
THB 704 767 821
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,090 26,090 26,470
USD(1-2-5) 25,047 - -
USD(10-20) 25,047 - -
EUR 29,541 29,565 30,973
JPY 158.07 158.36 167.94
GBP 34,627 34,721 35,920
AUD 17,915 17,980 18,664
CAD 18,203 18,261 18,933
CHF 32,221 32,321 33,272
SGD 19,931 19,993 20,784
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,284 3,294 3,432
KRW 16.1 16.79 18.26
THB 751.79 761.08 814.78
NZD 14,833 14,971 15,413
SEK - 2,675 2,769
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,646 2,740
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,040.19 - 6,816.63
TWD 738.39 - 894.44
SAR - 6,880.56 7,246.62
KWD - 83,101 88,412
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,084 26,104 26,474
EUR 29,523 29,642 30,835
GBP 34,671 34,810 35,842
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,088 32,217 33,153
JPY 158.31 158.95 166.89
AUD 17,918 17,990 18,584
SGD 20,008 20,088 20,677
THB 768 771 808
CAD 18,237 18,310 18,882
NZD 14,937 15,479
KRW 16.70 18.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26048 26048 26474
AUD 17888 17988 18914
CAD 18182 18282 19295
CHF 32146 32176 33754
CNY 3815 3840 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29558 29588 31314
GBP 34716 34766 36521
HKD 0 3355 0
JPY 158.76 159.26 169.77
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14950 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19958 20088 20815
THB 0 733.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14690000 14690000 14990000
SBJ 13000000 13000000 14990000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,113 26,163 26,474
USD20 26,113 26,163 26,474
USD1 26,113 26,163 26,474
AUD 17,993 18,093 19,208
EUR 29,449 29,549 31,208
CAD 18,177 18,277 19,586
SGD 20,062 20,212 20,777
JPY 159.77 161.27 166.81
GBP 34,730 34,880 35,936
XAU 14,688,000 0 14,992,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/07/2026 19:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80