Lãi suất vay mua nhà "neo" hai con số, kỳ vọng hạ nhiệt không dễ

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lãi suất vay mua nhà lên hai con số ngay giai đoạn ưu đãi, trong khi nhiều khoản vay bước vào giai đoạn lãi suất thả nổi, khiến áp lực trả nợ gia tăng và sức cầu bất động sản suy yếu. Dù người mua nhà mong ngóng "hạ nhiệt", kịch bản giảm lãi suất vẫn khó xảy ra, ít nhất trong năm 2026.
aa

Áp lực giai đoạn lãi suất thả nổi, cùng điều khoản “cài sẵn”

Mặt bằng lãi suất vay mua nhà đang duy trì ở mức cao. Ngay cả giai đoạn được coi là ưu đãi, nhiều ngân hàng đều áp dụng lãi suất từ 10%/năm trở lên, song nỗi lo lớn hơn nằm ở giai đoạn lãi suất thả nổi.

Trao đổi với phóng viên, một chuyên viên khách hàng cá nhân của Ngân hàng MB cho biết, lãi suất vay mua nhà ưu đãi 10,9%/năm nếu cố định 12 tháng, hoặc 11,5 - 11,7%/năm nếu cố định 24 - 36 tháng.

Hết thời gian ưu đãi, khoản vay mua bất động sản trên 10 năm áp dụng lãi suất tham chiếu 9,3%/năm, cộng biên độ từ 3 - 7% tùy theo xếp hạng tín dụng của khách hàng. Theo nhân viên này, lãi suất sau thời gian ưu đãi của một số khách hàng đang quản lý đã lên tới 14 - 15%/năm.

Lãi suất vay mua nhà
Mặt bằng lãi suất vay mua nhà đang duy trì ở mức cao. Ảnh: An Thư

Tại VIB, một giám đốc phòng kinh doanh cho biết, gói vay mua nhà đang áp dụng lãi suất cố định 12%/năm trong 24 tháng, sau đó lãi suất thả nổi, được tính theo lãi suất cơ sở (lãi suất tiền gửi kỳ hạn 13 tháng do VIB công bố) cộng biên độ khoảng 3%. Khách hàng tham gia bảo hiểm khoản vay với mức phí khoảng 1% giá trị khoản vay trong năm đầu, sẽ trình giảm lãi suất ưu đãi xuống còn 11,5%/năm.

Đối với khách hàng cũ đang hưởng lãi suất ưu đãi, nhiều phản ánh cũng cho thấy, nhiều ngân hàng không thực hiện đúng cam kết. Một khách hàng vay hơn 3 tỷ đồng, ký hợp đồng lãi suất cố định 7,9%/năm trong 2 năm và mua bảo hiểm theo tư vấn để được hưởng mức lãi suất này, song sau 7 tháng lãi suất tăng lên 9%/năm, mà ngân hàng không thông báo.

Thực tế cho thấy, nhiều ngân hàng “cài” thêm điều khoản cho phép điều chỉnh lãi suất cho vay, nếu lãi suất huy động tăng quá 10%, kể cả trong thời gian áp dụng lãi suất ưu đãi cố định. Khách hàng cần đặc biệt lưu ý điều khoản này trước khi ký hợp đồng.

Thống kê của Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư SSI (SSI Research) thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán SSI cho thấy bức tranh rõ nét hơn. Lãi suất ưu đãi cố định 12 tháng tăng lên 8,5 - 10%, từ mức 6,5 - 8,2% trước đó, trong khi lãi suất vay mua nhà thả nổi tăng lên 11 - 15%, từ mức 9 - 11%.

Thị trường bất động sản chững lại do lãi suất cao và tăng trưởng tín dụng bất động sản bị khống chế. Cùng với đó, việc chương trình ân hạn gốc vay mua nhà hết hiệu lực, với “điểm rơi rủi ro” trong quý III/2026, tiếp tục tạo sức ép lên người mua nhà, thị trường bất động sản và hệ thống ngân hàng trong các quý tới.

“Các khoản vay được giải ngân trong giai đoạn 2023 - 2024 với mức lãi suất trong thời gian ân hạn 2 - 3 năm sẽ chuyển sang giai đoạn thả nổi với lãi suất cao. Nếu lãi suất tiền gửi duy trì ở mức cao lâu hơn dự kiến, tốc độ hình thành nợ xấu trong phân khúc này có thể tăng nhanh trong quý III - IV/2026” - chuyên gia SSI nhận định.

Lãi suất hợp lý, cố định trong dài hạn để “kích” nhu cầu

Chia sẻ gần đây, ông Nguyễn Quốc Anh - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Kinh doanh Batdongsan.com.vn cho rằng, người mua nhà mong muốn khoản trả góp hằng tháng, bao gồm cả gốc và lãi, chiếm khoảng 20 - 40% thu nhập. Theo khảo sát của đơn vị, 81% người được hỏi sẵn sàng vay mua nhà nếu lãi suất ở mức dưới 9%. Đây là một ngưỡng rất rõ ràng để thúc đẩy nhu cầu trên thị trường. Khi lãi suất ở trên 10%, nhu cầu mua nhà vẫn tồn tại, nhưng người dân sẽ thận trọng hơn nhiều.

Trước tâm lý lo ngại của nhiều khách hàng về việc lãi suất vay thường chỉ được cố định trong một thời gian, sau đó chuyển sang thả nổi với mức phải trả khó dự đoán, bà Vũ Thị Thu Hà - Giám đốc Sản phẩm tín dụng, Khối Khách hàng cá nhân ABBank chia sẻ, chỉ cần nghe đến cụm từ “lãi suất thả nổi”, nhiều khách hàng đã cảm thấy lo lắng. Tuy nhiên, để khách hàng yên tâm hơn, ngân hàng hoàn toàn có thể minh bạch và giải thích rõ cơ chế tính lãi suất.

Kỳ vọng đưa lãi suất vay mua nhà về mức phù hợp

“Với các khoản vay mua nhà phục vụ nhu cầu ở thực, mức lãi suất 14 - 16%/năm là khá cao so với khả năng chi trả của đa số người dân. Kỳ vọng với sự phối hợp của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại, lãi suất cho vay mua nhà thời gian tới có thể được điều chỉnh về khoảng 11 - 14%/năm, tùy từng phân khúc và mức độ tín nhiệm của khách hàng”.

Ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi

Chẳng hạn, với khoản vay thời hạn 35 năm, trong 2 hoặc 3 năm đầu lãi suất được cố định ở một mức nhất định; sau thời gian ưu đãi sẽ chuyển sang lãi suất thả nổi. Dù ngân hàng không thể cam kết một mức lãi suất cụ thể cho giai đoạn sau, nhưng hoàn toàn có thể cung cấp công thức tính để khách hàng chủ động kiểm tra, hình dung mức lãi suất theo điều kiện thị trường tại từng thời điểm.

“Điều này giúp khách hàng sẽ yên tâm về mức độ minh bạch, công khai của ngân hàng để có thể tiếp cận vốn” - bà Hà bày tỏ.

Trao đổi với phóng viên, ông Nguyễn Quang Huy - CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi cho rằng, các ngân hàng nên thiết kế những gói vay có lãi suất cố định trong 2 năm, 3 năm, 5 năm, thậm chí 10 năm trước khi chuyển sang thả nổi, qua đó, giúp người trẻ mua nhà yên tâm hơn trong việc lập kế hoạch tài chính.

Bên cạnh đó, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại cũng cần nghiên cứu các sản phẩm tín dụng phù hợp cho người có nhu cầu thuê mua nhà, với thời hạn 5 - 15 năm và mức lãi suất nằm giữa lãi suất nhà ở xã hội và nhà ở thương mại, tạo điều kiện để người thuê tích lũy tài chính trước khi sở hữu nhà.

Về mặt bằng lãi suất, ông Huy nhận định trong vài năm tới, việc duy trì mức hiện nay hoặc giảm thêm khoảng 1 - 2 điểm phần trăm đã là nỗ lực rất lớn của hệ thống ngân hàng.

Dư địa giảm lãi suất không còn nhiều khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) được dự báo tiếp tục tăng lãi suất, trong khi nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế vẫn rất lớn do các dự án đầu tư công và đầu tư tư nhân quy mô lớn. Vì vậy, kỳ vọng giảm mạnh lãi suất thông qua kênh tín dụng rất khó.

Lãi suất chưa dễ giảm, chờ “gió thuận”

Dự báo về mặt bằng lãi suất cuối năm 2026, nhóm phân tích SSI Research cho rằng, sự cải thiện đáng kể về thanh khoản hệ thống ngân hàng khó có khả năng xảy ra, và lãi suất được kỳ vọng sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn.

Việc hạ lãi suất trên diện rộng vẫn khó xảy ra, mức độ nới lỏng tiếp theo của chính sách tiền tệ sẽ tùy thuộc vào sự kết hợp của nhiều yếu tố: lạm phát hạ nhiệt, huy động tiền gửi cải thiện, áp lực tỷ giá được kiềm chế và dự trữ ổn định.

Còn cho vay mua nhà nhiều khả năng chỉ phục hồi rõ hơn khi mặt bằng lãi suất hạ nhiệt. Theo quan điểm của SSI Research, đây có thể là câu chuyện của năm 2027 hơn là của năm nay.

Ông Đào Văn Hà - Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê (Ngân hàng Nhà nước) cũng cho rằng, khi lạm phát, tỷ giá được kiểm soát tốt thì biên độ dao động lãi suất thả nổi sẽ giảm thiểu, tạo ra môi trường tiền tệ có độ dự báo cao. Đây cũng là cơ sở rất quan trọng để doanh nghiệp có thể tính toán dòng tiền đầu tư và người mua nhà có thể chủ động được nghĩa vụ trả nợ dài hạn, mà không lo ngại áp lực tài chính đột biến.

“Ngân hàng Nhà nước yêu cầu các tổ chức tín dụng minh bạch với khách hàng, công khai lãi suất cho vay, các nguyên tắc điều chỉnh lãi suất sau thời gian ưu đãi, để người vay có thể so sánh và lựa chọn trước khi quyết định đưa ra quyết định của mình” - ông Hà nhấn mạnh

Ánh Tuyết

Đọc thêm

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

PVI sắp cán đích kế hoạch lợi nhuận chỉ sau 6 tháng, danh mục đầu tư tiến sát 20.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, PVI ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt gần 1.240 tỷ đồng, tăng 31,8% so với cùng kỳ và gần cán đích kế hoạch năm. Động lực tăng trưởng đến từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, lợi nhuận tài chính cải thiện nhờ danh mục đầu tư mở rộng lên gần 20.000 tỷ đồng, trong khi hoạt động tái bảo hiểm phát huy hiệu quả.
"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

"Tiếp sức" hộ kinh doanh: Không để lỡ thời điểm kinh doanh vì thiếu vốn

(TBTCO) - Nhu cầu bổ sung vốn lưu động thường phát sinh vào những thời điểm quan trọng như nhập hàng, mở rộng quy mô hay chuẩn bị cho mùa kinh doanh cao điểm. Tuy nhiên, không phải hộ kinh doanh nào cũng dễ dàng tiếp cận nguồn vốn kịp thời, nhất là khi thiếu tài sản bảo đảm hoặc cần giải ngân trong thời gian ngắn.
Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

Gia cố "tấm lưới" bảo hiểm để bảo vệ cho hoạt động đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Tiếp tục gia cố và mở rộng "tấm lưới" bảo hiểm bắt buộc cho hàng nghìn công trình, các quy định mới còn định rõ điều kiện xem xét tăng, giảm hoặc không giảm phí, góp phần hạn chế cạnh tranh bằng cách hạ phí, nâng chuẩn quản trị rủi ro và bảo đảm an toàn tài chính cho chính doanh nghiệp bảo hiểm.
Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

Giá vàng hôm nay ngày 26/7: Giá vàng thế giới neo trên 4.000 USD, vàng trong nước tiếp đà tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục giao dịch trên mốc 4.000 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng, với vàng miếng có nơi tăng tới 2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 20-24/7: Tỷ giá trung tâm sát đỉnh lịch sử, Ngân hàng Nhà nước hút ròng gần 330.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 20 - 24/7 cho thấy, tỷ giá trung tâm tăng 11 tuần liên tiếp lên 25.283 đồng, cách đỉnh lịch sử 15 đồng, trong bối cảnh nhà điều hành hút ròng thanh khoản trên kênh OMO. Dù đã rút gần 330.000 tỷ đồng so với đầu tháng 2/2026, lãi suất qua đêm vẫn ở mức 2,97%/năm, cho thấy thanh khoản ngắn hạn ổn định, nhưng áp lực cân đối vốn chưa giảm.
Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

Eximbank tiếp tục hoàn thiện nền tảng quản trị cho giai đoạn phát triển mới

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông bất thường năm 2026 thông qua các nội dung về quản trị và nhân sự nhằm đáp ứng yêu cầu triển khai Chiến lược phát triển giai đoạn 2026 - 2030.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▲1400K 142,600 ▲1400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,900 ▲150K 14,300 ▲150K
NL 99.99 13,000 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,900 ▼100K
Trang sức 99.9 13,490 ▲150K 14,190 ▲150K
Trang sức 99.99 13,500 ▲150K 14,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1236K 14,302 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1236K 14,303 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,385 ▲1248K 1,425 ▲1284K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,385 ▲1248K 1,426 ▲15K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,355 ▲1221K 1,405 ▲1266K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,109 ▲1485K 139,109 ▲1485K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 95,736 ▲86275K 105,536 ▲95095K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 859 ▼84020K 957 ▼93722K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,064 ▲916K 85,864 ▲916K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,227 ▼64168K 8,207 ▼72988K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,944 ▲625K 58,744 ▲625K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1236K 143 ▼1272K
Cập nhật: 27/07/2026 15:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17895 18169 18741
CAD 18139 18415 19029
CHF 31645 32025 32662
CNY 0 3848 3940
EUR 29370 29590 30667
GBP 34302 34693 35623
HKD 0 3225 3427
JPY 154 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14955 15545
SGD 19867 20149 20715
THB 700 763 816
USD (1,2) 26053 0 0
USD (5,10,20) 26094 0 0
USD (50,100) 26123 26132 26496
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,135 26,135 26,515
USD(1-2-5) 25,090 - -
USD(10-20) 25,090 - -
EUR 29,509 29,533 30,942
JPY 156.57 156.85 166.32
GBP 34,494 34,587 35,780
AUD 18,099 18,164 18,847
CAD 18,321 18,380 19,055
CHF 31,904 32,003 32,952
SGD 19,979 20,041 20,834
CNY - 3,815 3,961
HKD 3,289 3,299 3,437
KRW 16.51 17.22 18.73
THB 747.49 756.72 809.6
NZD 14,933 15,072 15,517
SEK - 2,674 2,768
DKK - 3,947 4,087
NOK - 2,695 2,790
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.48 - 6,798.11
TWD 734.81 - 890.08
SAR - 6,893.16 7,259.71
KWD - 83,217 88,534
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,520
EUR 29,478 29,596 30,788
GBP 34,544 34,683 35,713
HKD 3,289 3,302 3,420
CHF 31,779 31,907 32,829
JPY 156.93 157.56 165.40
AUD 18,076 18,149 18,746
SGD 20,074 20,155 20,746
THB 764 767 803
CAD 18,370 18,444 19,022
NZD 15,037 15,581
KRW 17.20 19.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26495
AUD 18075 18175 19100
CAD 18346 18446 19461
CHF 31911 31941 33527
CNY 3827.9 3852.9 3988.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4000 0
EUR 29580 29610 31332
GBP 34658 34708 36463
HKD 0 3355 0
JPY 157.41 157.91 168.45
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6645 0
NOK 0 2750 0
NZD 0 15062 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2710 0
SGD 20036 20166 20889
THB 0 729.1 0
TWD 0 805 0
SJC 9999 13900000 13900000 14300000
SBJ 12800000 12800000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,142 26,192 26,510
USD20 26,142 26,192 26,510
USD1 26,142 26,192 26,510
AUD 18,126 18,226 19,331
EUR 29,372 29,472 31,131
CAD 18,258 18,358 19,667
SGD 20,100 20,250 20,806
JPY 157.87 159.37 164.92
GBP 34,537 34,687 35,749
XAU 13,898,000 0 14,302,000
CNY 0 3,737 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/07/2026 15:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80