Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước chỉ rõ vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Vì vậy, Ngân hàng Nhà nước vừa yêu cầu Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tại các khu vực tăng cường kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại địa bàn. Trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng Nhà nước.
aa

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu Lãi suất hạ nhiệt sau chỉ đạo, nhưng “sóng ngầm” cạnh tranh vẫn dâng cao

Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Công văn số 4190/NHNN-CSTT gửi Ngân hàng Nhà nước chi nhánh các tỉnh, thành phố yêu cầu đôn đốc kiểm tra triển khai việc giảm mặt bằng lãi suất.

Công văn nêu rõ, qua theo dõi, thời gian qua, vẫn còn hiện tượng một số ngân hàng thương mại thực hiện điều chỉnh tăng lãi suất. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đề nghị Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Khu vực tổ chức họp với các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn để yêu cầu, quán triệt các chi nhánh ngân hàng thương mại nghiêm túc thực hiện chủ trương, chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại Thông báo số 117/TB-NHNN ngày 10/4/2026 về việc giảm mặt bằng lãi suất.

“Trong quá trình kiểm tra, trường hợp phát hiện vi phạm, xử lý theo thẩm quyền và báo cáo ngay về Ngân hàng Nhà nước (Thanh tra Ngân hàng Nhà nước, Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng và Vụ Chính sách tiền tệ)” - Ngân hàng Nhà nước nêu rõ.

Đồng thời, khẩn trương triển khai các nội dung chỉ đạo của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước tại công văn số 3972/NHNN-CSTT ngày 14/5/2026 về kiểm tra giảm mặt bằng lãi suất tại các chi nhánh ngân hàng thương mại trên địa bàn.

Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước liên tục phát tín hiệu điều hành nhằm kéo giảm chi phí vốn cho nền kinh tế.

Sau các cuộc họp điều hành trong tháng 4/2026, nhiều ngân hàng thương mại đã đồng thuận giảm lãi suất huy động các kỳ hạn, với mức giảm từ 0,1 - 1%/năm, qua đó, góp phần ổn định mặt bằng lãi suất thị trường. Hiện mặt bằng lãi suất niêm yết tại phần lớn ngân hàng đã lùi xuống dưới 7%/năm. Chỉ còn một số ngân hàng niêm yết lãi suất vượt 7%/năm, đơn cử như HongLeong Bank, MB, MBV...

Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra
Vẫn xuất hiện ngân hàng tăng lãi suất huy động, Ngân hàng Nhà nước yêu cầu siết kiểm tra. Ảnh minh họa.

Tuy nhiên, báo cáo khảo sát thực tế của Công ty Chứng khoán MB (MBS) cho thấy lãi suất tiền gửi thực tế tại quầy hoặc qua các hợp đồng tiền gửi thỏa thuận ở nhiều ngân hàng vẫn cao hơn đáng kể so với mức niêm yết công khai trên website.

Đơn cử, mức lãi suất cộng thêm tại một ngân hàng lên tới 2,25%/năm đối với sản phẩm tiền gửi Max Savings, cho thấy mức ưu đãi thực tế cao hơn đáng kể so với biểu lãi suất niêm yết công khai.

Bên cạnh đó, có ngân hàng từng triển khai chương trình cộng thêm tới 2,5% cho khách hàng gửi tiết kiệm trực tuyến qua ứng dụng số, đưa mức lãi suất tối đa lên tới 9%/năm. Tuy nhiên, chương trình này đã nhanh chóng phải tạm dừng chỉ sau ít ngày triển khai.

Số liệu cho thấy, tính đến ngày 28/4/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 19,5 triệu tỷ đồng, tăng 4,4% so với đầu năm và tăng 18,26% so với cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, tăng trưởng huy động vốn chậm hơn đáng kể do một phần dòng tiền dịch chuyển sang các kênh đầu tư khác.

Chênh lệch gần 3,5 điểm phần trăm giữa tăng trưởng tín dụng và huy động đã khiến khoảng cách tuyệt đối giữa tín dụng và huy động nới rộng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng, tương đương 7,22% tổng dư nợ vào tháng 4/2026.

Đáng chú ý, tín dụng trung và dài hạn tiếp tục tăng mạnh, đặc biệt dòng vốn chảy vào bất động sản, trong khi khoảng 80% nguồn vốn huy động của ngân hàng là ngắn hạn, làm gia tăng áp lực mất cân đối kỳ hạn và căng thẳng thanh khoản trong hệ thống. Điều này khiến nhiều ngân hàng gia tăng áp lực huy động vốn, phải nâng lãi suất để hút tiền gửi nhằm đảm bảo thanh khoản và đáp ứng các tỷ lệ an toàn theo quy định./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

Xây dựng hệ sinh thái fintech ASEAN mở, an toàn và bền vững

(TBTCO) - Chia sẻ tại Tọa đàm “Kiến tạo hệ sinh thái công nghệ tài chính khu vực: Từ chính sách đến hành động”, trong khuôn khổ Diễn đàn Tương lai ASEAN, ngày 9/6, Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đề nghị kiến tạo một hệ sinh thái công nghệ tài chính ASEAN mở, an toàn, minh bạch, bao trùm và bền vững.
ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

ABIC để ngỏ hai phương án cổ tức, phấn đấu mở rộng độ phủ bảo hiểm dư nợ ngân hàng mẹ

Bảo hiểm ABIC đặt mục tiêu năm 2026 đạt 3.100 tỷ đồng doanh thu kinh doanh bảo hiểm, phấn đấu đưa tỷ lệ dư nợ tín dụng Agribank được bảo hiểm lên tối thiểu 41,4% trong giai đoạn 5 năm tới. Doanh nghiệp dự kiến duy trì cổ tức tối thiểu 15%, ưu tiên trả bằng cổ phiếu nếu đủ điều kiện pháp lý.
Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

Eximbank biến động nhân sự cấp cao trước thềm Đại hội đồng cổ đông bất thường

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank, mã ck: EIB) đã chính thức phát đi thông báo về việc tiếp tục triển khai các nội dung quản trị và thay đổi nhân sự quan trọng thuộc Hội đồng quản trị. Đây là bước đi nằm trong định hướng chuyển đổi đã được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 thông qua.
Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

Hơn 60% dư nợ tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn

(TBTCO) - Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho biết, hiện dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm trên 60% trong tổng dư nợ cho vay nền kinh tế trên 2 triệu tỷ đồng của Agribank.
Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

Giá vàng hôm nay ngày 7/6: Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến từ 3 - 4 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt lùi về vùng 146,2 - 150,2 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (6/6): Tỷ giá trung tâm tăng 4 tuần, DXY vượt 100 điểm khi thị trường cược Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng ngày 6/6, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.147 đồng, tăng 9 đồng trong tuần, đánh dấu tuần tăng thứ 4 liên tiếp. Chỉ số DXY kết tuần tại 100,06 điểm, tăng 0,65% và lên mức cao nhất gần 2 tháng, sau khi dữ liệu việc làm Mỹ vượt kỳ vọng, qua đó, củng cố khả năng Fed có thể tăng 0,25 điểm phần trăm lãi suất vào tháng 12.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
Kim TT/AVPL 13,480 ▼400K 13,880 ▼500K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,480 ▼400K 13,880 ▼500K
Nguyên Liệu 99.99 13,500 ▼300K 13,700 ▼300K
Nguyên Liệu 99.9 13,250 ▼500K 13,650 ▼300K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,480 ▼320K 13,880 ▼420K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,430 ▼320K 13,830 ▼420K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,360 ▼320K 13,810 ▼420K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Hà Nội - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đà Nẵng - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Miền Tây - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Tây Nguyên - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
Đông Nam Bộ - PNJ 133,800 ▼5000K 138,800 ▼5000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
Miếng SJC Nghệ An 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
Miếng SJC Thái Bình 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,380 ▼500K 13,880 ▼500K
NL 99.90 13,050 ▼400K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100 ▼400K
Trang sức 99.9 13,070 ▼500K 13,770 ▼500K
Trang sức 99.99 13,080 ▼500K 13,780 ▼500K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,333 ▼55K 13,832 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,333 ▼55K 13,833 ▼550K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,337 ▼49K 1,387 ▼49K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,337 ▼49K 1,388 ▼49K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,317 ▼49K 1,372 ▼49K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 128,842 ▼4851K 135,842 ▼4851K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,356 ▼87880K 10,306 ▼96430K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 83,955 ▼3333K 93,455 ▼3333K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,435 ▼299K 8,385 ▼299K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,646 ▼2857K 80,146 ▼2857K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,868 ▼2044K 57,368 ▼2044K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,333 ▼55K 1,383 ▼55K
Cập nhật: 10/06/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17924 18198 18773
CAD 18351 18627 19243
CHF 32300 32683 33331
CNY 0 3842 3934
EUR 29766 29988 31066
GBP 34431 34822 35748
HKD 0 3227 3429
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14974 15561
SGD 19890 20172 20748
THB 715 779 832
USD (1,2) 26054 0 0
USD (5,10,20) 26095 0 0
USD (50,100) 26124 26138 26410
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,410
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,941 29,965 31,273
JPY 159.88 160.17 169.2
GBP 34,673 34,767 35,827
AUD 18,166 18,232 18,854
CAD 18,558 18,618 19,229
CHF 32,636 32,737 33,576
SGD 20,050 20,112 20,824
CNY - 3,817 3,948
HKD 3,296 3,306 3,432
KRW 15.94 16.62 18.01
THB 764.27 773.71 825.41
NZD 15,002 15,141 15,531
SEK - 2,739 2,825
DKK - 4,006 4,131
NOK - 2,735 2,820
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,063.87 - 6,818.96
TWD 752.89 - 908.55
SAR - 6,901.9 7,242.16
KWD - 83,501 88,500
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,120 26,140 26,410
EUR 29,830 29,950 31,137
GBP 34,602 34,741 35,759
HKD 3,291 3,304 3,420
CHF 32,403 32,533 33,442
JPY 160.16 160.80 168.62
AUD 18,156 18,229 18,820
SGD 20,107 20,188 20,771
THB 780 783 817
CAD 18,534 18,608 19,175
NZD 15,068 15,605
KRW 16.63 18.23
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26110 26110 26410
AUD 18124 18224 19154
CAD 18527 18627 19638
CHF 32585 32615 34193
CNY 3824.4 3849.4 3984.8
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29951 29981 31706
GBP 34740 34790 36548
HKD 0 3355 0
JPY 160.56 161.06 171.59
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15106 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20053 20183 20914
THB 0 745 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13330000 13330000 13830000
SBJ 12000000 12000000 13830000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,142 26,410
USD20 26,100 26,142 26,410
USD1 23,896 26,142 26,410
AUD 18,180 18,280 19,384
EUR 30,105 30,105 31,513
CAD 18,475 18,575 19,879
SGD 20,139 20,289 20,844
JPY 161.06 162.56 167.12
GBP 34,638 34,988 35,861
XAU 13,328,000 13,328,000 13,832,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 780 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 10/06/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80