Tỷ giá USD hôm nay (21/5): USD tự do tăng lên 26.500 đồng, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt thành tâm điểm

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Sáng ngày 21/5, tỷ giá trung tâm được giữ ở mức 25.135 đồng, trong khi USD tự do tăng lên quanh 26.500 đồng. DXY duy trì quanh 99,11 điểm, gần vùng cao nhất nhiều tuần do kỳ vọng Fed sẽ duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn. Cùng lúc, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt lên mức cao nhất nhiều thập kỷ, khiến giới đầu tư toàn cầu chú ý.
aa

Diễn biến thị trường trong nước

Sáng ngày 21/5, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.135 đồng, giữ nguyên so với phiên trước đó. Tỷ giá USD tham khảo tại Cục Quản lý ngoại hối cũng không điều chỉnh

Với biên độ giao dịch 5%, các ngân hàng thương mại được phép giao dịch USD trong vùng 23.878,25 - 26.391,75 VND/USD.

Trong khi đó, USD tự do ghi nhận giao dịch phổ biến quanh 26.500 - 26.550 VND/USD, tăng 40 đồng hai chiều so với phiên trước.

Khảo sát tại các ngân hàng uỷ cho thấy, tỷ giá USD tiếp tục nhích tăng nhẹ. Tại Vietcombank, tỷ giá USD được niêm yết ở mức 26.121 - 26.391 VND/USD, tăng 12 đồng ở chiều mua vào và tăng 2 đồng ở chiều bán ra. BIDV cũng tăng mạnh 12 đồng ở chiều mua vào, lên 26.161 - 26.391 VND/USD. Techcombank tăng 8 đồng ở chiều mua vào, trong khi SACOMBANK tăng 6 đồng. Mặt bằng tỷ giá bán USD tại nhiều ngân hàng lớn đồng loạt neo ở mức 26.391 VND/USD, cho thấy áp lực tăng tỷ giá USD vẫn hiện hữu, nhưng biên độ biến động không lớn.

Tỷ giá USD, EUR, GBP giao dịch tại các ngân hàng thương mại lớn chốt phiên 20/5 gồm: Agribank; Vietcombank, BIDV, Sacombank, HSBC, Eximbank như sau:

Tỷ giá USD hôm nay (21/5): USD tự do tăng lên 26.500 đồng, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt thành tâm điểm
Đồ họa: Ánh Tuyết.

Ngược lại, tỷ giá EUR đồng loạt giảm mạnh tại nhiều ngân hàng. Tại Vietcombank, tỷ giá EUR giảm 102 đồng ở chiều mua vào và giảm 107 đồng ở chiều bán ra, xuống còn 29.805 - 31.376 VND/EUR. BIDV giảm 96 đồng ở chiều mua và giảm 111 đồng ở chiều bán; Eximbank giảm khoảng 120 đồng; HSBC giảm tới 127 - 132 đồng; VIB giảm trên 120 đồng. Diễn biến này cho thấy EUR tiếp tục chịu áp lực điều chỉnh khá mạnh trên thị trường quốc tế.

Tỷ giá GBP cũng đi xuống tại nhiều ngân hàng thương mại. Vietcombank giảm 65 đồng ở chiều mua vào và giảm 68 đồng ở chiều bán ra, xuống 34.403 - 35.863 VND/GBP. HSBC giảm mạnh 96 - 100 đồng; VIB giảm khoảng 84 - 85 đồng; Eximbank giảm khoảng 64 - 65 đồng; BIDV giảm 37 đồng ở chiều mua và 51 đồng ở chiều bán.

Diễn biến thị trường thế giới

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - hiện ở mức 99,11 điểm, tăng nhẹ 0,02%, tiếp tục duy trì quanh vùng cao nhất trong vài tuần gần đây. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/EUR giảm 0,03% xuống 0,8599; tỷ giá USD/GBP giảm 0,02% còn 0,7442; tỷ giá USD/JPY giảm 0,03% xuống 158,86 yen/USD, cho thấy đồng yen Nhật phục hồi nhẹ sau giai đoạn mất giá mạnh. Trong khi đó, tỷ giá USD/CNY ở mức 6,8014.

DXY tiến sát vùng cao nhất kể từ đầu tháng 4/2026. Đồng USD tiếp tục được hỗ trợ bởi kỳ vọng rằng lạm phát dai dẳng có thể buộc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt lâu hơn, thậm chí không loại trừ khả năng tăng lãi suất vào cuối năm nay.

Bà Anna Paulson - Chủ tịch Fed Philadelphia cho biết dù chính sách tiền tệ hiện tại đang ở mức phù hợp, việc thị trường bắt đầu đặt cược vào khả năng Fed tăng lãi suất trở lại là một diễn biến “lành mạnh”. Những đồn đoán này gia tăng trong bối cảnh giá năng lượng leo thang do xung đột tại Iran, khiến áp lực lạm phát quay trở lại.

Dù Washington phát tín hiệu tích cực về tiến trình đàm phán với Iran, giá dầu chỉ hạ nhiệt trong thời gian ngắn và vẫn duy trì phần lớn mức tăng gần đây. Điều này khiến giới đầu tư tiếp tục lo ngại áp lực lạm phát sẽ kéo dài hơn dự kiến.

Thị trường hiện cũng dồn sự chú ý vào biên bản cuộc họp chính sách tiền tệ Fed ngày 28 - 29/4, công bố ngày thứ tư. Tại cuộc họp này, Fed giữ nguyên lãi suất trong vùng 3,5 - 3,75%, đánh dấu lần thứ ba liên tiếp không thay đổi lãi suất. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là mức độ bất đồng hiếm thấy trong nội bộ Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) về định hướng chính sách sắp tới. Biên bản lần này còn thu hút sự chú ý vì đây được xem là bộ biên bản cuối cùng trong nhiệm kỳ của Jerome Powell trước khi Kevin Warsh chính thức tiếp quản vị trí Chủ tịch Fed.

Tỷ giá USD hôm nay (21/5): USD tự do tăng lên 26.500 đồng, lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng vọt thành tâm điểm
Ảnh tư liệu.

Tại châu Á, phần lớn các đồng tiền biến động trong biên độ hẹp khi đồng USD duy trì quanh mức cao nhất 6 tuần. Đồng yên Nhật tăng nhẹ nhờ kỳ vọng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) có thể tăng lãi suất vào tháng 6, trong khi đồng rupee Ấn Độ tiếp tục chịu áp lực và rơi xuống mức thấp kỷ lục mới do giá dầu cao. Đồng nhân dân tệ Trung Quốc nhích tăng nhẹ, còn đồng đô la Đài Loan ít biến động.

Trong nhiều năm qua, Nhật Bản được xem là “pháo đài cuối cùng” của kỷ nguyên tiền rẻ toàn cầu khi duy trì lãi suất cực thấp, lợi suất trái phiếu gần như bằng 0 và đồng yên đóng vai trò nguồn vốn tài trợ cho hàng loạt giao dịch đầu cơ toàn cầu.

Nhà đầu tư Nhật Bản đã liên tục đưa dòng vốn ra nước ngoài để tìm kiếm lợi suất cao hơn, đổ tiền vào trái phiếu Kho bạc Mỹ, trái phiếu chính phủ châu Âu, nợ của các thị trường mới nổi, cổ phiếu toàn cầu, cũng như các giao dịch vay mượn bằng đồng yên (carry trade).

Do lợi suất trong nước của Nhật Bản quá thấp, khiến việc nắm giữ tài sản nội địa kém hấp dẫn hơn so với đầu tư ra nước ngoài. Tuy nhiên, bức tranh đang bắt đầu thay đổi khi lợi suất trái phiếu Nhật Bản tăng mạnh./.

Lợi suất trái phiếu Nhật Bản lập đỉnh nhiều thập kỷ, dòng vốn toàn cầu đối mặt biến động

Lợi suất trái phiếu chính phủ Nhật Bản (JGB) tăng vọt lên mức cao nhất trong nhiều thập kỷ. Lợi suất JGB kỳ hạn 10 năm đã tiến sát 2,75%, cao nhất kể từ năm 1997, trong khi lợi suất kỳ hạn 30 năm vượt 4%, mức cao nhất kể từ khi loại trái phiếu này được phát hành năm 1999.

Đối với nhiều nền kinh tế, các mức lợi suất này có thể chưa quá đặc biệt, nhưng với Nhật Bản, đây là biến động rất lớn. Điều này làm giảm chênh lệch lợi suất giữa Nhật Bản và các thị trường khác, đồng thời khiến chiến lược đầu tư ra nước ngoài trở nên kém hấp dẫn hơn trước.

Nếu lợi suất trong nước tiếp tục đi lên, nguy cơ dòng vốn quay trở lại Nhật Bản sẽ gia tăng. Khi đó, các thị trường tài chính toàn cầu có thể mất đi một trong những nguồn thanh khoản giá rẻ quan trọng đã hỗ trợ cho nhiều loại tài sản rủi ro suốt nhiều năm qua. Đây cũng là lý do giới giao dịch hiện không chỉ tập trung vào chính sách của Fed hay diễn biến tại Washington, mà ngày càng theo dõi sát các động thái từ Tokyo và BoJ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (3/6): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, DXY nhích nhẹ giữa bất định đàm phán Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (3/6): Tỷ giá trung tâm tiếp đà tăng, DXY nhích nhẹ giữa bất định đàm phán Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 3/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.145 đồng, tăng 4 đồng so với phiên trước, USD tự do bật tăng quanh mức 26.380 - 26.410 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 99,23 điểm, tăng nhẹ 0,01% khi căng thẳng Mỹ - Iran leo thang trở lại, làm gia tăng lo ngại về triển vọng duy trì lệnh ngừng bắn và đàm phán hòa bình.
Tỷ giá USD hôm nay (2/6): USD nhích nhẹ giữa lo ngại căng thẳng tại eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb

Tỷ giá USD hôm nay (2/6): USD nhích nhẹ giữa lo ngại căng thẳng tại eo biển Hormuz và Bab el-Mandeb

(TBTCO) - Sáng ngày 2/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.141 đồng, tăng 3 đồng, trong khi chỉ số DXY tăng nhẹ lên 99,21 điểm. Thị trường tài chính toàn cầu tiếp tục theo dõi sát diễn biến địa chính trị tại Trung Đông, đặc biệt là nguy cơ Iran và các đồng minh phong tỏa eo biển Hormuz, mở rộng căng thẳng sang eo biển Bab el-Mandeb.
VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

VDSC: Mặt bằng lãi suất khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới

Dù thị trường đang đặt cược khoảng 50% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tăng lãi suất vào cuối năm, nhưng Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) cho rằng, kịch bản này khó xảy ra và mặt bằng lãi suất tại Việt Nam khó hạ nhiệt trong 3 tháng tới, do áp lực tỷ giá, mức chênh lệch hoán đổi VND - USD vẫn cao và nguồn tiền gửi Kho bạc hỗ trợ thanh khoản khá hạn chế.
Tỷ giá USD hôm nay (1/6): USD trong nước lùi nhẹ, DXY tăng trở lại giữa loạt tín hiệu từ Mỹ - Iran

Tỷ giá USD hôm nay (1/6): USD trong nước lùi nhẹ, DXY tăng trở lại giữa loạt tín hiệu từ Mỹ - Iran

(TBTCO) - Sáng ngày 1/6, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.138 đồng phiên đầu tháng, giảm 1 đồng so với phiên cuối tuần trước; trong khi DXY tăng nhẹ 0,15% lên 99,06 điểm đầu tuần. Thị trường quốc tế tiếp tục theo dõi diễn biến đàm phán hòa bình giữa Mỹ và Iran, dù hai bên được cho là vẫn còn nhiều bất đồng.
Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

Thị trường tiền tệ tuần 25 - 29/5: Hơn 30.700 tỷ đồng được bơm ròng ra thị trường, lãi suất liên ngân hàng áp sát 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần cuối cùng tháng 5/2026 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước đảo chiều bơm ròng 30.732,83 tỷ đồng qua kênh OMO sau hai tuần hút thanh khoản liên tiếp. Trong khi lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh ở nhiều kỳ hạn, áp sát 8% và lên cao nhất từ đầu tháng 4/2026, tỷ giá USD/VND có dấu hiệu ổn định hơn, còn USD tự do giảm 140 đồng tuần qua.
Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ

Việt Nam và Hoa Kỳ ra tuyên bố chung về tiền tệ

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vừa công bố tuyên bố chung về tiền tệ với Bộ Tài chính Hoa Kỳ, trong đó, hai bên tái khẳng định cam kết tránh thao túng tỷ giá hoặc hệ thống tiền tệ quốc tế. Các biện pháp vĩ mô hay kiểm soát dòng vốn không nhằm vào tỷ giá để phục vụ mục đích cạnh tranh.
Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

Tỷ giá USD hôm nay (30/5): USD tự do mất đà, DXY mất mốc 99 điểm khi kỳ vọng Mỹ - Iran ngừng bắn gia tăng

(TBTCO) - Sáng ngày 30/5, tỷ giá trung tâm hiện ở mức 25.139 đồng, tăng 2 đồng so với phiên trước và tăng tổng cộng 5 đồng cả tuần qua. Chỉ số DXY chốt tuần ở 98,92 điểm, giảm 0,32% và mất mốc tâm lý 99 điểm khi kỳ vọng ngừng bắn tại Trung Đông, cải thiện tâm lý ưa rủi ro, qua đó, làm suy giảm nhu cầu nắm giữ đồng USD và các tài sản trú ẩn an toàn.
Tỷ giá USD hôm nay (29/5): USD nhích nhẹ, DXY giữ nhịp khi Mỹ - Iran tạm thời gia hạn ngừng bắn 60 ngày

Tỷ giá USD hôm nay (29/5): USD nhích nhẹ, DXY giữ nhịp khi Mỹ - Iran tạm thời gia hạn ngừng bắn 60 ngày

(TBTCO) - Sáng ngày 29/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.139 đồng, tăng 2 đồng phiên cuối tuần. Chỉ số DXY duy trì quanh 99 điểm, thị trường đang theo dõi sát diễn biến địa chính trị khi Mỹ và Iran tạm thời đạt đồng thuận gia hạn ngừng bắn 60 ngày.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,620 15,020
Kim TT/AVPL 14,620 15,020
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,620 15,020
Nguyên Liệu 99.99 14,000 14,200
Nguyên Liệu 99.9 13,950 14,150
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,500 14,900
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,450 14,850
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,380 14,830
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,200 150,200
Hà Nội - PNJ 146,200 150,200
Đà Nẵng - PNJ 146,200 150,200
Miền Tây - PNJ 146,200 150,200
Tây Nguyên - PNJ 146,200 150,200
Đông Nam Bộ - PNJ 146,200 150,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,620 15,020
Miếng SJC Nghệ An 14,620 15,020
Miếng SJC Thái Bình 14,620 15,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,620 15,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,620 15,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,620 15,020
NL 99.90 13,750
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800
Trang sức 99.9 14,210 14,910
Trang sức 99.99 14,220 14,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,462 15,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,462 15,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 146 150
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 146 1,501
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 144 1,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 14,053 14,703
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,636 111,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 9,224 10,114
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,844 90,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,834 86,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,181 62,081
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Cập nhật: 07/06/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18017 18291 18875
CAD 18365 18641 19259
CHF 32416 32799 33445
CNY 0 3851 3944
EUR 29699 29971 31010
GBP 34322 34713 35654
HKD 0 3230 3433
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14952 15538
SGD 19841 20122 20683
THB 718 781 834
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26404
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,124 26,124 26,404
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,127 30,151 31,466
JPY 160.42 160.71 169.73
GBP 34,794 34,888 35,952
AUD 18,437 18,504 19,129
CAD 18,619 18,679 19,290
CHF 33,041 33,144 33,990
SGD 20,105 20,168 20,881
CNY - 3,820 3,950
HKD 3,300 3,310 3,435
KRW 15.79 16.47 17.85
THB 770.16 779.67 831.51
NZD 15,132 15,273 15,661
SEK - 2,767 2,854
DKK - 4,031 4,157
NOK - 2,774 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,106.87 - 6,867.32
TWD 756.3 - 912.66
SAR - 6,906.56 7,246.23
KWD - 83,637 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,404
EUR 30,005 30,125 31,314
GBP 34,707 34,846 35,865
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,793 32,925 33,851
JPY 160.74 161.39 168.93
AUD 18,383 18,457 19,052
SGD 20,127 20,208 20,792
THB 785 788 823
CAD 18,584 18,659 19,228
NZD 15,179 15,717
KRW 16.38 17.95
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26404
AUD 18439 18539 19461
CAD 18620 18720 19735
CHF 33009 33039 34617
CNY 3829.7 3854.7 3990.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30186 30216 31941
GBP 34937 34987 36745
HKD 0 3355 0
JPY 161.09 161.59 172.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15274 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20130 20260 20991
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14920000 14920000 15320000
SBJ 13000000 13000000 15320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,076 26,126 26,404
USD20 26,076 26,126 26,404
USD1 26,076 26,126 26,404
AUD 18,476 18,576 19,683
EUR 30,341 30,341 31,747
CAD 18,559 18,659 19,965
SGD 20,203 20,353 20,913
JPY 161.6 163.1 167.63
GBP 34,814 35,164 36,026
XAU 14,918,000 0 15,322,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/06/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80