Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
aa

“Khát vốn” trung, dài hạn

Trao đổi với một doanh nghiệp trong khu công nghiệp hỗ trợ của Hà Nội giáp Hà Nam (cũ) cho thấy, rào cản vốn vẫn rất lớn với doanh nghiệp nội khi muốn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Giám đốc doanh nghiệp này cho biết, để trở thành nhà cung ứng cho Samsung, doanh nghiệp phải đầu tư tối thiểu khoảng 300 tỷ đồng cho dây chuyền sản xuất. Tuy nhiên, để vay được vốn từ ngân hàng thương mại, phải có ít nhất 30% vốn đối ứng, tương đương khoảng 90 tỷ đồng. Với phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) Việt Nam, điều này gần như không tưởng.

SMEs đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. Đây là khu vực có khả năng hấp thụ lao động lớn, linh hoạt trong đổi mới công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và có sức lan tỏa mạnh tới khu vực kinh tế địa phương. Dù chiếm khoảng 97 - 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 45% GDP, hơn 30% thu ngân sách và tạo việc làm cho phần lớn lao động xã hội, nhưng khu vực này vẫn ở vị thế yếu trong tiếp cận tín dụng chính thức.

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi
Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. (trong ảnh: nhà máy chế biến nông, lâm sản Queenfarm tại Thanh Hóa) Ảnh: An Thư

Theo khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có gần 80% SMEs gặp khó khăn do không đủ tài sản thế chấp, tỷ lệ có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng giảm dần nhiều năm gần đây. Điều này tạo ra nghịch lý khu vực tạo nhiều việc làm nhất, đóng góp GDP cao, nhưng lại khó tiếp cận nguồn lực tài chính nhất. Trong khi đó, nhu cầu vốn chủ yếu là vốn trung dài hạn để đầu tư máy móc thiết bị; chuyển đổi công nghệ; xây dựng nhà xưởng; mở rộng sản xuất; chuyển đổi số; đáp ứng tiêu chuẩn ESG và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nếu chỉ hỗ trợ cho vay vốn ngắn hạn, SMEs sẽ khó tạo ra năng lực sản xuất bền vững. Đây là nguyên nhân khiến năng suất lao động và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam còn vô cùng hạn chế.

Trong khi đó, hiện kênh tài trợ vốn của Việt Nam cho nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại (bank-based). Trong khi, bản chất nguồn vốn của ngân hàng phần lớn là vốn huy động ngắn hạn, nên việc cung ứng tín dụng trung dài hạn luôn đối mặt với áp lực kỳ hạn, rủi ro thanh khoản và giới hạn an toàn hệ thống.

Chính vì vậy, nếu tiếp tục chỉ dựa vào ngân hàng thương mại truyền thống sẽ rất khó giải quyết triệt để “cơn khát vốn” của SMEs, đặc biệt với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, sản xuất chế biến, đổi mới công nghệ, y tế tư nhân, logistics hay nông nghiệp công nghệ cao.

Thiếu các định chế tài chính trung gian cấp vốn cho doanh nghiệp sản xuất

Kinh nghiệm quốc tế từ các nền kinh tế thành công như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đức đều phát triển mạnh hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi (non-deposit taking financial institutions), nhằm tạo kênh cung ứng vốn cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây chính là cấu phần khuyết thiếu lớn của thị trường tài chính Việt Nam.

Các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi là các định chế tài chính không được huy động tiền gửi dân cư, hoạt động bằng vốn tự có, chỉ được huy động vốn từ tổ chức, tự phát hành trái phiếu ra thị trường theo quy định chặt chẽ của pháp luật, không được mở tài khoản thanh toán như ngân hàng. Tuy nhiên, các định chế này được phép cung cấp tín dụng, nhất là tín dụng trung dài hạn hoặc tài trợ tài sản cho nền kinh tế.

Nhóm này gồm: công ty cho thuê tài chính; công ty factoring (bao thanh toán); công ty tài chính phát triển; quỹ đầu tư tín dụng; tổ chức tài chính chuỗi cung ứng; định chế tài chính xanh; quỹ đầu tư cơ sở hạ tầng doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Dư nợ cho thuê tài chính chiếm 0,4% GDP, thấp xa nhiều quốc gia

Tại Việt Nam, dư nợ cho thuê tài chính mới chỉ chiếm 1% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống các tổ chức tín dụng, tương đương khoảng 0,4% GDP, thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển. Theo số liệu của Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, tổng dư nợ cho thuê tài chính chỉ khoảng 47 nghìn tỷ đồng, một tỷ lệ rất nhỏ so với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Điều này cho thấy cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam đang mất cân đối nghiêm trọng. Trong khi ngân hàng thương mại “gánh” quá nhiều vai trò; thị trường vốn phát triển chưa tương xứng; các định chế tài chính trung gian còn rất yếu.

Tại nhiều quốc gia, các định chế này chiếm vai trò rất lớn trong cung ứng vốn trung dài hạn, giảm gánh nặng vốn lên hệ thống ngân hàng. Ví dụ tại Hoa Kỳ, tín dụng thiết bị thông qua cho thuê tài chính chiếm tỷ trọng rất cao trong đầu tư doanh nghiệp. Tại Trung Quốc, cho thuê tài chính trở thành công cụ thúc đẩy công nghiệp hóa và đổi mới công nghệ. Tại Đức, các định chế tài chính phát triển hỗ trợ mạnh mẽ doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất.

Trong hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, cho thuê tài chính là mô hình đặc biệt phù hợp với SMEs. Khác với tín dụng ngân hàng truyền thống, cho thuê tài chính tài trợ trực tiếp tài sản hình thành từ vốn vay, doanh nghiệp không nhất thiết phải có tài sản thế chấp bổ sung. Điều này giúp giải quyết “điểm nghẽn” lớn của SMEs và mô hình này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất. Công ty cho thuê tài chính có thể mua tài sản và cho doanh nghiệp thuê lại trong thời gian dài. Sau khi hết thời hạn thuê, doanh nghiệp được mua lại tài sản với giá tượng trưng.

Hình thức cho thuê tài chính cũng có nhiều ưu điểm như: giảm áp lực thế chấp; tài trợ đúng mục đích; kiểm soát dòng tiền tốt hơn; hạn chế đầu cơ vốn; khuyến khích đổi mới công nghệ. Đặc biệt, đây là kênh cung cấp vốn trung dài hạn rất quan trọng thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ; chuyển đổi xanh; tự động hóa sản xuất; chuyển đổi số và hiện đại hóa y tế tư nhân.

Cho thuê tài chính cần có đủ “không gian” để phát triển

Tại Việt Nam, ngành cho thuê tài chính phát triển rất chậm do khung pháp lý chưa hoàn chỉnh, các chỉ số về an toàn kinh doanh vẫn bị cơ quan quản lý nhà nước “đối xử” như ngân hàng thương mại làm hạn chế không gian phát triển của ngành này; thiếu ưu đãi thuế.

Một khó khăn lớn khác là dù tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu của chính công ty cho thuê tài chính, nhưng khi phát sinh nợ xấu, quá trình thu hồi và xử lý tài sản vẫn thiếu cơ chế xử lý nhanh, dẫn tới việc thu hồi tài sản gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, bản thân các công ty cho thuê tài chính thiếu nguồn vốn trung dài hạn lớn. Các doanh nghiệp và người dân kinh doanh cũng chưa biết nhiều về cho thuê tài chính.

Để phát triển hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, Việt Nam cần cải cách đồng bộ nhiều nội dung.

Trong đó, ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện khung pháp lý, cần xây dựng luật riêng hoặc chương riêng điều chỉnh các hoạt động như cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh tín dụng và tài trợ chuỗi cung ứng. Pháp luật cần phản ánh đúng bản chất hoạt động của các định chế tài chính này, thay vì quản lý tương tự ngân hàng thương mại truyền thống.

Bên cạnh đó, cần phát triển mạnh số lượng các tổ chức tài chính trung gian, hướng tới khoảng 400 công ty cho thuê tài chính và khoảng 100 công ty tài chính tổng hợp. Định hướng là các công ty cho thuê tài chính hoặc công ty tài chính tổng hợp sẽ nằm trong các tập đoàn công nghiệp hoặc tập đoàn tài chính lớn, nhằm có đủ nguồn lực để tài trợ máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất dưới cả hai hình thức cho thuê tài chính và cho thuê vận hành, qua đó, tăng cường hỗ trợ SMEs tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, từng bước trở thành lực lượng doanh nghiệp trung tâm của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Ông Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê Tài chính

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (7/7): Tỷ giá trung tâm đi ngang, USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 7/7, Ngân hàng Nhà nước giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.202 đồng, nhiều ngân hàng thương mại vẫn niêm yết giá bán USD kịch trần 26.462 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,02% xuống 100,85 điểm. Dù điều chỉnh, đồng USD vẫn được hỗ trợ bởi kỳ vọng Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 7/7: Vàng thế giới neo quanh 4.166 USD/ounce, vàng trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh ngưỡng 4.166 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tại nhiều doanh nghiệp, với giá bán vàng miếng phổ biến ở mức 151 triệu đồng/lượng.
MB sắp trả cổ tức bằng cổ phiếu, chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu để tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

MB sắp trả cổ tức bằng cổ phiếu, chào bán hơn 805 triệu cổ phiếu để tăng vốn vượt 100.000 tỷ đồng

(TBTCO) - MB sắp triển khai phương án tăng vốn điều lệ, thông qua phát hành cổ phiếu trả cổ tức và chào bán gần 805,5 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, dự kiến huy động khoảng 8.055 tỷ đồng. Sau khi hoàn tất các phương án tăng vốn này, vốn điều lệ của ngân hàng dự kiến tăng lên tối đa 100.687 tỷ đồng.
F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

F88 mở bán hơn 22 triệu cổ phiếu dự kiến thu hơn 1.500 tỷ đồng, giảm phụ thuộc vốn vay

(TBTCO) - F88 chính thức mở nhận đăng ký mua cổ phiếu trong đợt chào bán ra công chúng từ ngày 6/7, với giá 71.000 đồng/cổ phiếu, dự kiến huy động gần 1.564 tỷ đồng. Theo đánh giá, đợt phát hành không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực nợ vay, mà còn tạo điều kiện để F88 niêm yết trên HOSE ngay trong năm 2026.
BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

BVBank chuẩn bị kế hoạch tăng vốn, hơn 640 triệu cổ phiếu sắp "đổ bộ" HOSE

(TBTCO) - BVBank chuẩn bị triển khai phương án tăng vốn điều lệ năm 2026. Theo phương án trước đó, nếu hoàn tất hai đợt phát hành cho cổ đông hiện hữu và ESOP, vốn điều lệ của ngân hàng sẽ tăng 55% lên 9.912 tỷ đồng. BVBank cũng đang hoàn tất các thủ tục để chuyển niêm yết cổ phiếu từ UPCoM sang HOSE.
Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

Không phải tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ năm 2026

(TBTCO) - Việc bãi bỏ thuế khoán không đồng nghĩa tất cả chủ hộ kinh doanh đều phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc ngay. Việc xác định đối tượng tham gia được thực hiện theo lộ trình và quy định cụ thể của pháp luật.
Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

Giữ lãi suất cân bằng, thay vì hạ sâu đại trà bằng mọi giá

(TBTCO) - PGS. TS. Nguyễn Hữu Huân - Khoa Ngân hàng, Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho rằng, nếu tín dụng tiếp tục tăng nhanh trong khi huy động vốn không theo kịp, ngân hàng sẽ đối mặt với ba rủi ro lớn, khó đáp ứng chuẩn an toàn Basel III. Trong bối cảnh này, lãi suất cần được điều hành ổn định có chọn lọc, hài hòa nhiều mục tiêu, thay vì duy trì "rẻ đại trà”.
Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

Kinh doanh “chu trình ngược”, doanh nghiệp bảo hiểm tìm thế cân bằng

(TBTCO) - Trước nhiều rủi ro gia tăng, chi bồi thường bảo hiểm tăng mạnh, với tổng chi bồi thường gốc của nhóm doanh nghiệp khảo sát đạt 11.591 tỷ đồng trong quý I/2026, tăng 20,4% cùng kỳ. Điều này vừa phản ánh cam kết chi trả với khách hàng, vừa đặt doanh nghiệp trước bài toán cân bằng rủi ro và lợi nhuận do đặc thù “chu trình ngược” của ngành bảo hiểm.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,450 ▼110K 13,650 ▼110K
Nguyên Liệu 99.9 13,400 ▼110K 13,600 ▼110K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,850 ▼210K 14,350 ▼210K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,800 ▼210K 14,300 ▼210K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,730 ▼210K 14,280 ▼210K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
Hà Nội - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
Đà Nẵng - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
Miền Tây - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
Tây Nguyên - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,500 ▼1500K 149,500 ▼1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▼100K 15,000 ▼100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,600 ▼50K 14,950 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,600 ▼50K 14,950 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,600 ▼50K 14,950 ▼50K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,140 ▼50K 14,840 ▼50K
Trang sức 99.99 14,150 ▼50K 14,850 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1K 15,002 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1K 15,003 ▼100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,467 ▼12K 1,497 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,467 ▼12K 1,498 ▲1347K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,442 ▼17K 1,477 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,238 ▼1683K 146,238 ▼1683K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,436 ▼1275K 110,936 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91,096 ▼1156K 100,596 ▼1156K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,756 ▼1037K 90,256 ▼1037K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,768 ▼991K 86,268 ▼991K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,247 ▼709K 61,747 ▼709K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1K 150 ▼1K
Cập nhật: 07/07/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17727 18000 18579
CAD 17968 18243 18865
CHF 31946 32327 32972
CNY 0 3829 3922
EUR 29428 29649 30732
GBP 34384 34776 35714
HKD 0 3222 3424
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14643 15233
SGD 19811 20093 20674
THB 705 768 821
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26462
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,082 26,082 26,462
USD(1-2-5) 25,039 - -
USD(10-20) 25,039 - -
EUR 29,543 29,567 30,975
JPY 157.88 158.16 167.69
GBP 34,556 34,650 35,842
AUD 17,922 17,987 18,664
CAD 18,154 18,212 18,882
CHF 32,223 32,323 33,266
SGD 19,921 19,983 20,769
CNY - 3,794 3,939
HKD 3,285 3,295 3,433
KRW 15.88 16.56 18.01
THB 752.09 761.38 814.85
NZD 14,643 14,779 15,212
SEK - 2,681 2,776
DKK - 3,952 4,091
NOK - 2,640 2,733
LAK - 0.89 1.24
MYR 6,031.01 - 6,807.86
TWD 738.6 - 894.68
SAR - 6,883.11 7,250
KWD - 83,185 88,501
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,082 26,102 26,462
EUR 29,517 29,636 30,829
GBP 34,581 34,720 35,750
HKD 3,284 3,297 3,415
CHF 32,078 32,207 33,142
JPY 158.10 158.73 166.65
AUD 17,924 17,996 18,591
SGD 19,998 20,078 20,667
THB 769 772 809
CAD 18,167 18,240 18,810
NZD 14,740 15,279
KRW 16.48 18.20
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26082 26082 26462
AUD 17901 18001 18926
CAD 18145 18245 19256
CHF 32173 32203 33777
CNY 3809.4 3834.4 3969.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29586 29616 31339
GBP 34676 34726 36484
HKD 0 3355 0
JPY 158.8 159.3 169.85
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.7 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14754 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19968 20098 20820
THB 0 734 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,123 26,173 26,462
USD20 26,123 26,173 26,462
USD1 26,123 26,173 26,462
AUD 17,955 18,055 19,163
EUR 29,406 29,506 31,169
CAD 18,099 18,199 19,505
SGD 20,054 20,204 20,758
JPY 159.42 160.92 166.46
GBP 34,609 34,759 35,826
XAU 14,748,000 0 15,052,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/07/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80