Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
aa

“Khát vốn” trung, dài hạn

Trao đổi với một doanh nghiệp trong khu công nghiệp hỗ trợ của Hà Nội giáp Hà Nam (cũ) cho thấy, rào cản vốn vẫn rất lớn với doanh nghiệp nội khi muốn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Giám đốc doanh nghiệp này cho biết, để trở thành nhà cung ứng cho Samsung, doanh nghiệp phải đầu tư tối thiểu khoảng 300 tỷ đồng cho dây chuyền sản xuất. Tuy nhiên, để vay được vốn từ ngân hàng thương mại, phải có ít nhất 30% vốn đối ứng, tương đương khoảng 90 tỷ đồng. Với phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) Việt Nam, điều này gần như không tưởng.

SMEs đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. Đây là khu vực có khả năng hấp thụ lao động lớn, linh hoạt trong đổi mới công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và có sức lan tỏa mạnh tới khu vực kinh tế địa phương. Dù chiếm khoảng 97 - 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 45% GDP, hơn 30% thu ngân sách và tạo việc làm cho phần lớn lao động xã hội, nhưng khu vực này vẫn ở vị thế yếu trong tiếp cận tín dụng chính thức.

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi
Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. (trong ảnh: nhà máy chế biến nông, lâm sản Queenfarm tại Thanh Hóa) Ảnh: An Thư

Theo khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có gần 80% SMEs gặp khó khăn do không đủ tài sản thế chấp, tỷ lệ có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng giảm dần nhiều năm gần đây. Điều này tạo ra nghịch lý khu vực tạo nhiều việc làm nhất, đóng góp GDP cao, nhưng lại khó tiếp cận nguồn lực tài chính nhất. Trong khi đó, nhu cầu vốn chủ yếu là vốn trung dài hạn để đầu tư máy móc thiết bị; chuyển đổi công nghệ; xây dựng nhà xưởng; mở rộng sản xuất; chuyển đổi số; đáp ứng tiêu chuẩn ESG và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nếu chỉ hỗ trợ cho vay vốn ngắn hạn, SMEs sẽ khó tạo ra năng lực sản xuất bền vững. Đây là nguyên nhân khiến năng suất lao động và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam còn vô cùng hạn chế.

Trong khi đó, hiện kênh tài trợ vốn của Việt Nam cho nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại (bank-based). Trong khi, bản chất nguồn vốn của ngân hàng phần lớn là vốn huy động ngắn hạn, nên việc cung ứng tín dụng trung dài hạn luôn đối mặt với áp lực kỳ hạn, rủi ro thanh khoản và giới hạn an toàn hệ thống.

Chính vì vậy, nếu tiếp tục chỉ dựa vào ngân hàng thương mại truyền thống sẽ rất khó giải quyết triệt để “cơn khát vốn” của SMEs, đặc biệt với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, sản xuất chế biến, đổi mới công nghệ, y tế tư nhân, logistics hay nông nghiệp công nghệ cao.

Thiếu các định chế tài chính trung gian cấp vốn cho doanh nghiệp sản xuất

Kinh nghiệm quốc tế từ các nền kinh tế thành công như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đức đều phát triển mạnh hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi (non-deposit taking financial institutions), nhằm tạo kênh cung ứng vốn cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây chính là cấu phần khuyết thiếu lớn của thị trường tài chính Việt Nam.

Các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi là các định chế tài chính không được huy động tiền gửi dân cư, hoạt động bằng vốn tự có, chỉ được huy động vốn từ tổ chức, tự phát hành trái phiếu ra thị trường theo quy định chặt chẽ của pháp luật, không được mở tài khoản thanh toán như ngân hàng. Tuy nhiên, các định chế này được phép cung cấp tín dụng, nhất là tín dụng trung dài hạn hoặc tài trợ tài sản cho nền kinh tế.

Nhóm này gồm: công ty cho thuê tài chính; công ty factoring (bao thanh toán); công ty tài chính phát triển; quỹ đầu tư tín dụng; tổ chức tài chính chuỗi cung ứng; định chế tài chính xanh; quỹ đầu tư cơ sở hạ tầng doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Dư nợ cho thuê tài chính chiếm 0,4% GDP, thấp xa nhiều quốc gia

Tại Việt Nam, dư nợ cho thuê tài chính mới chỉ chiếm 1% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống các tổ chức tín dụng, tương đương khoảng 0,4% GDP, thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển. Theo số liệu của Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, tổng dư nợ cho thuê tài chính chỉ khoảng 47 nghìn tỷ đồng, một tỷ lệ rất nhỏ so với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Điều này cho thấy cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam đang mất cân đối nghiêm trọng. Trong khi ngân hàng thương mại “gánh” quá nhiều vai trò; thị trường vốn phát triển chưa tương xứng; các định chế tài chính trung gian còn rất yếu.

Tại nhiều quốc gia, các định chế này chiếm vai trò rất lớn trong cung ứng vốn trung dài hạn, giảm gánh nặng vốn lên hệ thống ngân hàng. Ví dụ tại Hoa Kỳ, tín dụng thiết bị thông qua cho thuê tài chính chiếm tỷ trọng rất cao trong đầu tư doanh nghiệp. Tại Trung Quốc, cho thuê tài chính trở thành công cụ thúc đẩy công nghiệp hóa và đổi mới công nghệ. Tại Đức, các định chế tài chính phát triển hỗ trợ mạnh mẽ doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất.

Trong hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, cho thuê tài chính là mô hình đặc biệt phù hợp với SMEs. Khác với tín dụng ngân hàng truyền thống, cho thuê tài chính tài trợ trực tiếp tài sản hình thành từ vốn vay, doanh nghiệp không nhất thiết phải có tài sản thế chấp bổ sung. Điều này giúp giải quyết “điểm nghẽn” lớn của SMEs và mô hình này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất. Công ty cho thuê tài chính có thể mua tài sản và cho doanh nghiệp thuê lại trong thời gian dài. Sau khi hết thời hạn thuê, doanh nghiệp được mua lại tài sản với giá tượng trưng.

Hình thức cho thuê tài chính cũng có nhiều ưu điểm như: giảm áp lực thế chấp; tài trợ đúng mục đích; kiểm soát dòng tiền tốt hơn; hạn chế đầu cơ vốn; khuyến khích đổi mới công nghệ. Đặc biệt, đây là kênh cung cấp vốn trung dài hạn rất quan trọng thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ; chuyển đổi xanh; tự động hóa sản xuất; chuyển đổi số và hiện đại hóa y tế tư nhân.

Cho thuê tài chính cần có đủ “không gian” để phát triển

Tại Việt Nam, ngành cho thuê tài chính phát triển rất chậm do khung pháp lý chưa hoàn chỉnh, các chỉ số về an toàn kinh doanh vẫn bị cơ quan quản lý nhà nước “đối xử” như ngân hàng thương mại làm hạn chế không gian phát triển của ngành này; thiếu ưu đãi thuế.

Một khó khăn lớn khác là dù tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu của chính công ty cho thuê tài chính, nhưng khi phát sinh nợ xấu, quá trình thu hồi và xử lý tài sản vẫn thiếu cơ chế xử lý nhanh, dẫn tới việc thu hồi tài sản gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, bản thân các công ty cho thuê tài chính thiếu nguồn vốn trung dài hạn lớn. Các doanh nghiệp và người dân kinh doanh cũng chưa biết nhiều về cho thuê tài chính.

Để phát triển hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, Việt Nam cần cải cách đồng bộ nhiều nội dung.

Trong đó, ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện khung pháp lý, cần xây dựng luật riêng hoặc chương riêng điều chỉnh các hoạt động như cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh tín dụng và tài trợ chuỗi cung ứng. Pháp luật cần phản ánh đúng bản chất hoạt động của các định chế tài chính này, thay vì quản lý tương tự ngân hàng thương mại truyền thống.

Bên cạnh đó, cần phát triển mạnh số lượng các tổ chức tài chính trung gian, hướng tới khoảng 400 công ty cho thuê tài chính và khoảng 100 công ty tài chính tổng hợp. Định hướng là các công ty cho thuê tài chính hoặc công ty tài chính tổng hợp sẽ nằm trong các tập đoàn công nghiệp hoặc tập đoàn tài chính lớn, nhằm có đủ nguồn lực để tài trợ máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất dưới cả hai hình thức cho thuê tài chính và cho thuê vận hành, qua đó, tăng cường hỗ trợ SMEs tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, từng bước trở thành lực lượng doanh nghiệp trung tâm của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Ông Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê Tài chính

Đọc thêm

Chủ tịch HDbank nhận Cúp Thánh Gióng 2026, ghi dấu trong top 10 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu

Chủ tịch HDbank nhận Cúp Thánh Gióng 2026, ghi dấu trong top 10 doanh nhân Việt Nam tiêu biểu

(TBTCO) - Từ gần bốn thập kỷ kinh nghiệm trên nhiều thị trường tài chính quốc tế đến vai trò Chủ tịch Hội đồng Quản trị HDBank, ông Kim Byoungho ghi dấu ấn ở khả năng kết nối các chuẩn mực quản trị toàn cầu với thực tiễn Việt Nam, trong một giai đoạn HDBank tăng tốc về quy mô, hiệu quả và hội nhập.
VCBF-CFO: Giải pháp quản lý dòng tiền nhàn rỗi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân

VCBF-CFO: Giải pháp quản lý dòng tiền nhàn rỗi cho doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân

(TBTCO) - Công ty TNHH Quản lý Quỹ Đầu tư Chứng khoán Vietcombank (VCBF) đã kết thúc đợt chào bán lần đầu (IPO) của Quỹ Đầu tư Tối ưu Dòng tiền VCBF (VCBF-CFO), dự kiến bắt đầu giao dịch từ tháng 10/2026. Quỹ được thiết kế cho những khoản tiền nhàn rỗi ngắn hạn của doanh nghiệp và nhà đầu tư cá nhân: có thể đặt lệnh bán/giao dịch hằng ngày; thời gian tiền về theo quy định của quỹ; đầu tư vào tài sản rủi ro thấp và được quản lý chuyên nghiệp.
Thị trường carbon: Từ giá trị giảm phát thải đến dòng vốn xanh

Thị trường carbon: Từ giá trị giảm phát thải đến dòng vốn xanh

(TBTCO) - Thị trường carbon đang mở ra một cách tiếp cận mới đối với bài toán vốn cho chuyển đổi xanh: biến kết quả giảm phát thải thành một giá trị có thể được ghi nhận, giao dịch và từng bước đi vào quyết định đầu tư. Nhưng để điều đó xảy ra, Việt Nam cần cả hệ thống dữ liệu, tiêu chuẩn, định giá, tín dụng và thị trường vốn đủ tin cậy để biến giá trị carbon thành tín hiệu tài chính.
Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (12/10): DXY giữ trên 102 điểm, thị trường chờ tín hiệu lãi suất Fed từ dữ liệu lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 12/10, tỷ giá trung tâm giảm 8 đồng xuống 25.621 đồng. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,1% xuống 102,1 điểm nhưng vẫn duy trì trên ngưỡng 102 điểm, gây sức ép lên nhiều đồng tiền chủ chốt. Thị trường ngoại hối hướng sự chú ý đến dữ liệu lạm phát Mỹ tuần này để đánh giá triển vọng chính sách lãi suất của Fed.
Giá vàng hôm nay ngày 12/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giữ giá

Giá vàng hôm nay ngày 12/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giữ giá

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn tại các doanh nghiệp không thay đổi so với phiên trước, lần lượt giao dịch trong khoảng 141 - 144,8 triệu đồng/lượng và 139,6 - 144,3 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm nhúng thiết kế app minh bạch để khách hàng an tâm

Bảo hiểm nhúng thiết kế app minh bạch để khách hàng an tâm

(TBTCO) - Ngày càng tự chủ mảng bảo hiểm, các ngân hàng có nhiều lợi thế phát triển bảo hiểm nhúng tại các "điểm chạm", ngay từ quá trình chuyển khoản. Tuy nhiên, cách triển khai đang khiến khách hàng thêm bận tâm thay vì an tâm, đòi hỏi bảo hiểm nhúng trên app ngân hàng phải được thiết kế minh bạch, tách bạch với giao dịch chính và đảm bảo tính tự nguyện.
Giá vàng hôm nay ngày 11/10: Giá vàng thế giới phục hồi, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 11/10: Giá vàng thế giới phục hồi, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.195 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến trái chiều.
Đón Fan Meeting đầu tay của Quán Nhà Haha cùng những suất tham dự sớm nhất từ Vietcombank

Đón Fan Meeting đầu tay của Quán Nhà Haha cùng những suất tham dự sớm nhất từ Vietcombank

(TBTCO) - Vietcombank chính thức đồng hành cùng Fan Meeting đầu tiên của Quán Nhà Haha, mang đến hàng nghìn cơ hội sở hữu vé và những trải nghiệm đặc biệt cho khách hàng thông qua chuỗi chương trình khuyến mại dành riêng cho khách hàng Vietcombank.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,800 ▼500K 143,800 ▼500K
Hà Nội - PNJ 140,800 ▼500K 143,800 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 140,800 ▼500K 143,800 ▼500K
Miền Tây - PNJ 140,800 ▼500K 143,800 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 140,800 ▼500K 143,800 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,800 ▼500K 143,800 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,130 ▼50K 14,430 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,130 ▼50K 14,430 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,130 ▼50K 14,430 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,940 ▼110K 14,340 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,940 ▼110K 14,340 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,940 ▼110K 14,340 ▼90K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,620 ▼90K 14,220 ▼90K
Trang sức 99.99 13,630 ▼90K 14,230 ▼90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,413 ▼5K 14,432 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,413 ▼5K 14,433 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,408 ▼5K 1,438 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,408 ▼5K 1,439 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,383 ▼5K 1,428 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,386 ▼495K 141,386 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,461 ▼375K 107,261 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,464 ▼340K 97,264 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,467 ▼305K 87,267 ▼305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,611 ▼291K 83,411 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,904 ▼208K 59,704 ▼208K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,413 ▼5K 1,443 ▼5K
Cập nhật: 12/10/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17540 17812 18391
CAD 17650 17924 18542
CHF 30484 30860 31505
CNY 0 3832 3928
EUR 28362 28579 29662
GBP 33512 33900 34837
HKD 0 3173 3376
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14202 14787
SGD 19710 19992 20563
THB 687 750 803
USD (1,2) 25670 0 0
USD (5,10,20) 25708 0 0
USD (50,100) 25736 25750 26120
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,725 25,725 26,105
USD(1-2-5) 24,696 - -
USD(10-20) 24,696 - -
EUR 28,426 28,449 29,801
JPY 159.07 159.36 169
GBP 33,690 33,781 34,949
AUD 17,726 17,790 18,471
CAD 17,825 17,882 18,544
CHF 30,743 30,839 31,761
SGD 19,814 19,876 20,665
CNY - 3,797 3,943
HKD 3,235 3,245 3,381
KRW 17.94 18.71 20.36
THB 735.32 744.4 797.09
NZD 14,195 14,327 14,750
SEK - 2,543 2,633
DKK - 3,813 3,948
NOK - 2,657 2,754
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,931.63 - 6,694.63
TWD 732.73 - 887.77
SAR - 6,781.41 7,144.03
KWD - 81,832 87,080
AED - 6,800 7,328
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,426 28,569 29,793
GBP 33,643 33,812 34,842
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,648 30,802 31,750
JPY 158.85 160.45 168.43
AUD 17,719 17,844 18,441
SGD 19,779 19,959 20,553
THB 741 756 793
CAD 17,814 17,904 18,499
NZD 14,290 14,845
KRW 18.72 20.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25720 25750 26110
AUD 17721 17821 18751
CAD 17826 17926 18940
CHF 30714 30744 32332
CNY 3814.1 3839.1 3974.5
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28545 28575 30298
GBP 33816 33866 35624
HKD 0 3315 0
JPY 160 160.5 171.02
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14316 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19867 19997 20720
THB 0 716 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14500000
SBJ 12500000 12500000 14500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,628 25,748 26,030
USD20 25,598 25,748 26,030
USD1 25,578 25,748 26,030
AUD 17,770 17,870 18,975
EUR 28,357 28,457 30,114
CAD 17,769 17,869 19,176
SGD 19,944 20,094 20,990
JPY 160.57 162.07 167.64
GBP 33,713 33,863 34,929
XAU 14,128,000 0 14,432,000
CNY 0 3,722 0
THB 0 752 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/10/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30