Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi

(TBTCO) - Trong khi nhiều quốc gia phát triển mạnh các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, đặc biệt là cho thuê tài chính để hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, Việt Nam lại thiếu vắng các định chế tài chính trung gian đủ mạnh. Điều này khiến ngân hàng thương mại tiếp tục “gánh” phần lớn nhu cầu vốn của nền kinh tế.
aa

“Khát vốn” trung, dài hạn

Trao đổi với một doanh nghiệp trong khu công nghiệp hỗ trợ của Hà Nội giáp Hà Nam (cũ) cho thấy, rào cản vốn vẫn rất lớn với doanh nghiệp nội khi muốn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Giám đốc doanh nghiệp này cho biết, để trở thành nhà cung ứng cho Samsung, doanh nghiệp phải đầu tư tối thiểu khoảng 300 tỷ đồng cho dây chuyền sản xuất. Tuy nhiên, để vay được vốn từ ngân hàng thương mại, phải có ít nhất 30% vốn đối ứng, tương đương khoảng 90 tỷ đồng. Với phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) Việt Nam, điều này gần như không tưởng.

SMEs đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. Đây là khu vực có khả năng hấp thụ lao động lớn, linh hoạt trong đổi mới công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và có sức lan tỏa mạnh tới khu vực kinh tế địa phương. Dù chiếm khoảng 97 - 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 45% GDP, hơn 30% thu ngân sách và tạo việc làm cho phần lớn lao động xã hội, nhưng khu vực này vẫn ở vị thế yếu trong tiếp cận tín dụng chính thức.

Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua tổ chức cho vay không nhận tiền gửi
Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. (trong ảnh: nhà máy chế biến nông, lâm sản Queenfarm tại Thanh Hóa) Ảnh: An Thư

Theo khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có gần 80% SMEs gặp khó khăn do không đủ tài sản thế chấp, tỷ lệ có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng giảm dần nhiều năm gần đây. Điều này tạo ra nghịch lý khu vực tạo nhiều việc làm nhất, đóng góp GDP cao, nhưng lại khó tiếp cận nguồn lực tài chính nhất. Trong khi đó, nhu cầu vốn chủ yếu là vốn trung dài hạn để đầu tư máy móc thiết bị; chuyển đổi công nghệ; xây dựng nhà xưởng; mở rộng sản xuất; chuyển đổi số; đáp ứng tiêu chuẩn ESG và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Nếu chỉ hỗ trợ cho vay vốn ngắn hạn, SMEs sẽ khó tạo ra năng lực sản xuất bền vững. Đây là nguyên nhân khiến năng suất lao động và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam còn vô cùng hạn chế.

Trong khi đó, hiện kênh tài trợ vốn của Việt Nam cho nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại (bank-based). Trong khi, bản chất nguồn vốn của ngân hàng phần lớn là vốn huy động ngắn hạn, nên việc cung ứng tín dụng trung dài hạn luôn đối mặt với áp lực kỳ hạn, rủi ro thanh khoản và giới hạn an toàn hệ thống.

Chính vì vậy, nếu tiếp tục chỉ dựa vào ngân hàng thương mại truyền thống sẽ rất khó giải quyết triệt để “cơn khát vốn” của SMEs, đặc biệt với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, sản xuất chế biến, đổi mới công nghệ, y tế tư nhân, logistics hay nông nghiệp công nghệ cao.

Thiếu các định chế tài chính trung gian cấp vốn cho doanh nghiệp sản xuất

Kinh nghiệm quốc tế từ các nền kinh tế thành công như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đức đều phát triển mạnh hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi (non-deposit taking financial institutions), nhằm tạo kênh cung ứng vốn cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây chính là cấu phần khuyết thiếu lớn của thị trường tài chính Việt Nam.

Các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi là các định chế tài chính không được huy động tiền gửi dân cư, hoạt động bằng vốn tự có, chỉ được huy động vốn từ tổ chức, tự phát hành trái phiếu ra thị trường theo quy định chặt chẽ của pháp luật, không được mở tài khoản thanh toán như ngân hàng. Tuy nhiên, các định chế này được phép cung cấp tín dụng, nhất là tín dụng trung dài hạn hoặc tài trợ tài sản cho nền kinh tế.

Nhóm này gồm: công ty cho thuê tài chính; công ty factoring (bao thanh toán); công ty tài chính phát triển; quỹ đầu tư tín dụng; tổ chức tài chính chuỗi cung ứng; định chế tài chính xanh; quỹ đầu tư cơ sở hạ tầng doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Dư nợ cho thuê tài chính chiếm 0,4% GDP, thấp xa nhiều quốc gia

Tại Việt Nam, dư nợ cho thuê tài chính mới chỉ chiếm 1% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống các tổ chức tín dụng, tương đương khoảng 0,4% GDP, thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển. Theo số liệu của Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, tổng dư nợ cho thuê tài chính chỉ khoảng 47 nghìn tỷ đồng, một tỷ lệ rất nhỏ so với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Điều này cho thấy cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam đang mất cân đối nghiêm trọng. Trong khi ngân hàng thương mại “gánh” quá nhiều vai trò; thị trường vốn phát triển chưa tương xứng; các định chế tài chính trung gian còn rất yếu.

Tại nhiều quốc gia, các định chế này chiếm vai trò rất lớn trong cung ứng vốn trung dài hạn, giảm gánh nặng vốn lên hệ thống ngân hàng. Ví dụ tại Hoa Kỳ, tín dụng thiết bị thông qua cho thuê tài chính chiếm tỷ trọng rất cao trong đầu tư doanh nghiệp. Tại Trung Quốc, cho thuê tài chính trở thành công cụ thúc đẩy công nghiệp hóa và đổi mới công nghệ. Tại Đức, các định chế tài chính phát triển hỗ trợ mạnh mẽ doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất.

Trong hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, cho thuê tài chính là mô hình đặc biệt phù hợp với SMEs. Khác với tín dụng ngân hàng truyền thống, cho thuê tài chính tài trợ trực tiếp tài sản hình thành từ vốn vay, doanh nghiệp không nhất thiết phải có tài sản thế chấp bổ sung. Điều này giúp giải quyết “điểm nghẽn” lớn của SMEs và mô hình này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất. Công ty cho thuê tài chính có thể mua tài sản và cho doanh nghiệp thuê lại trong thời gian dài. Sau khi hết thời hạn thuê, doanh nghiệp được mua lại tài sản với giá tượng trưng.

Hình thức cho thuê tài chính cũng có nhiều ưu điểm như: giảm áp lực thế chấp; tài trợ đúng mục đích; kiểm soát dòng tiền tốt hơn; hạn chế đầu cơ vốn; khuyến khích đổi mới công nghệ. Đặc biệt, đây là kênh cung cấp vốn trung dài hạn rất quan trọng thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ; chuyển đổi xanh; tự động hóa sản xuất; chuyển đổi số và hiện đại hóa y tế tư nhân.

Cho thuê tài chính cần có đủ “không gian” để phát triển

Tại Việt Nam, ngành cho thuê tài chính phát triển rất chậm do khung pháp lý chưa hoàn chỉnh, các chỉ số về an toàn kinh doanh vẫn bị cơ quan quản lý nhà nước “đối xử” như ngân hàng thương mại làm hạn chế không gian phát triển của ngành này; thiếu ưu đãi thuế.

Một khó khăn lớn khác là dù tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu của chính công ty cho thuê tài chính, nhưng khi phát sinh nợ xấu, quá trình thu hồi và xử lý tài sản vẫn thiếu cơ chế xử lý nhanh, dẫn tới việc thu hồi tài sản gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, bản thân các công ty cho thuê tài chính thiếu nguồn vốn trung dài hạn lớn. Các doanh nghiệp và người dân kinh doanh cũng chưa biết nhiều về cho thuê tài chính.

Để phát triển hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, Việt Nam cần cải cách đồng bộ nhiều nội dung.

Trong đó, ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện khung pháp lý, cần xây dựng luật riêng hoặc chương riêng điều chỉnh các hoạt động như cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh tín dụng và tài trợ chuỗi cung ứng. Pháp luật cần phản ánh đúng bản chất hoạt động của các định chế tài chính này, thay vì quản lý tương tự ngân hàng thương mại truyền thống.

Bên cạnh đó, cần phát triển mạnh số lượng các tổ chức tài chính trung gian, hướng tới khoảng 400 công ty cho thuê tài chính và khoảng 100 công ty tài chính tổng hợp. Định hướng là các công ty cho thuê tài chính hoặc công ty tài chính tổng hợp sẽ nằm trong các tập đoàn công nghiệp hoặc tập đoàn tài chính lớn, nhằm có đủ nguồn lực để tài trợ máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất dưới cả hai hình thức cho thuê tài chính và cho thuê vận hành, qua đó, tăng cường hỗ trợ SMEs tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, từng bước trở thành lực lượng doanh nghiệp trung tâm của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

Ông Phạm Xuân Hòe - Tổng Thư ký Hiệp hội Cho thuê Tài chính

Đọc thêm

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

Khảo sát từ Sun Life: Trách nhiệm chăm sóc gia đình khiến phụ nữ Việt Nam đối mặt với “ba tầng áp lực”

(TBTCO) - Khảo sát mới đây do Sun Life thực hiện cho thấy phụ nữ Việt Nam đang phải đối mặt với nhiều áp lực chồng chéo về tài chính, sự nghiệp và sức khỏe cá nhân, xuất phát từ vai trò chăm sóc gia đình đa thế hệ, trong khi sự chuẩn bị cho các rủi ro tài chính dài hạn vẫn còn hạn chế.
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng

(TBTCO) - Chiến dịch “Chọn Xanh cho Khỏe - Vì một Việt Nam thật Khỏe” của Manulife Việt Nam vừa được vinh danh tại giải thưởng quốc tế uy tín Global CSR & ESG Awards, ở hạng mục “Doanh nghiệp có chương trình cộng đồng xuất sắc”.
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 20/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước nâng lên 25.135 đồng, tăng 2 đồng. Chỉ số DXY hiện ở mức 99,3 điểm, giữ đà phục hồi sau một đợt điều chỉnh mạnh vào ngày trước đó, phản ánh kỳ vọng Fed chưa sớm cắt giảm lãi suất trong năm nay. Đồng yên tiếp tục chịu áp lực mất giá dù kinh tế Nhật Bản tăng trưởng vượt dự báo.
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước điều chỉnh giảm tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa giá vàng miếng phổ biến lùi về vùng 161 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn

(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ tiếp tục tăng mạnh trong tháng 5, với lợi suất kỳ hạn 10 năm dao động quanh 4,4 - 4,6%, còn kỳ hạn 30 năm lập đỉnh cao nhất gần 20 năm. Theo đánh giá của Chứng khoán KB, lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ neo cao đang tạo áp lực đáng kể lên tỷ giá và làm gia tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của doanh nghiệp Việt.
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông

(TBTCO) - Kể từ ngày 12/05/2026, khách hàng của Vietcombank đang du lịch hoặc công tác tại Nhật Bản và Hồng Kông có thể thanh toán trực tiếp bằng cách quét mã QR trên ứng dụng VCB Digibank - không cần đổi tiền mặt, không cần cài thêm bất kỳ ứng dụng nào khác.
Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

Bộ Tài chính cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược

(TBTCO) - Quyết định số 1154/QĐ-BTC do Bộ Tài chính vừa ban hành sửa đổi, bổ sung nhiều thủ tục hành chính trong lĩnh vực kinh doanh casino, đặt cược đua ngựa, đua chó và đặt cược bóng đá quốc tế, nhằm thực hiện Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Kim TT/AVPL 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▲200K 15,200 ▲200K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▲200K 15,150 ▲200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 ▲200K 16,200 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 ▲200K 16,150 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 ▲200K 16,130 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲2000K 163,500 ▲1500K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲2000K 163,500 ▲1500K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲2000K 163,500 ▲1500K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲2000K 163,500 ▲1500K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲2000K 163,500 ▲1500K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲2000K 163,500 ▲1500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Miếng SJC Nghệ An 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
Miếng SJC Thái Bình 16,050 ▲200K 16,350 ▲200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,000 ▲150K 16,300 ▲150K
NL 99.90 14,600 ▲50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,650 ▲50K
Trang sức 99.9 15,490 ▲150K 16,190 ▲150K
Trang sức 99.99 15,500 ▲150K 16,200 ▲150K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,605 ▲1446K 16,352 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,605 ▲1446K 16,353 ▲150K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 160 ▲2K 163 ▲2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 160 ▲2K 1,631 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 158 ▲2K 1,615 ▲20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,401 ▲1980K 159,901 ▲1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,387 ▲1500K 121,287 ▲1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,081 ▲1360K 109,981 ▲1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,775 ▲1220K 98,675 ▲1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,414 ▲1166K 94,314 ▲1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,602 ▲834K 67,502 ▲834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,605 ▲1446K 1,635 ▲1473K
Cập nhật: 21/05/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18285 18561 19139
CAD 18642 18920 19534
CHF 32874 33259 33912
CNY 0 3840 3932
EUR 30039 30312 31340
GBP 34639 35031 35968
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15176 15763
SGD 20087 20370 20896
THB 725 788 841
USD (1,2) 26100 0 0
USD (5,10,20) 26142 0 0
USD (50,100) 26170 26190 26391
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,161 26,161 26,391
USD(1-2-5) 25,115 - -
USD(10-20) 25,115 - -
EUR 30,238 30,262 31,522
JPY 161.93 162.22 171
GBP 34,904 34,998 36,007
AUD 18,569 18,636 19,226
CAD 18,876 18,937 19,518
CHF 33,196 33,299 34,091
SGD 20,265 20,328 21,009
CNY - 3,813 3,937
HKD 3,308 3,318 3,437
KRW 16.25 16.95 18.33
THB 774.91 784.48 834.53
NZD 15,178 15,319 15,681
SEK - 2,784 2,867
DKK - 4,046 4,165
NOK - 2,805 2,893
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,244.16 - 7,008.46
TWD 756.47 - 911.12
SAR - 6,927.21 7,254.01
KWD - 83,872 88,722
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,141 26,161 26,391
EUR 30,084 30,205 31,384
GBP 34,788 34,928 35,934
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,904 33,036 33,965
JPY 162 162.65 169.99
AUD 18,490 18,564 19,153
SGD 20,267 20,348 20,930
THB 789 792 827
CAD 18,818 18,894 19,465
NZD 15,206 15,739
KRW 16.85 18.49
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26170 26170 26391
AUD 18506 18606 19531
CAD 18828 18928 19942
CHF 33110 33140 34731
CNY 3817 3842 3978
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30223 30253 31981
GBP 34941 34991 36752
HKD 0 3355 0
JPY 162.52 163.02 173.53
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15267 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20257 20387 21113
THB 0 754.5 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15900000 15900000 16300000
SBJ 14000000 14000000 16300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,195 26,245 26,391
USD20 26,195 26,245 26,391
USD1 23,879 26,245 26,391
AUD 18,554 18,654 19,776
EUR 30,370 30,370 31,796
CAD 18,775 18,875 20,195
SGD 20,327 20,477 21,400
JPY 162.97 164.47 169.11
GBP 34,837 35,187 36,315
XAU 15,898,000 0 16,202,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/05/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80