Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ

Ánh Tuyết
Dai-ichi Life Việt Nam duy trì lợi nhuận nghìn tỷ trong năm 2025, với lãi trước thuế đạt 2.173 tỷ đồng. Mảng đầu tư tài chính vẫn duy trì tăng trưởng hai chữ số nhờ danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng lên gần 62.000 tỷ đồng, qua đó, giữ vai trò trụ đỡ quan trọng, trong bối cảnh doanh thu phí bảo hiểm bước vào giai đoạn điều chỉnh.
aa

Lãi gần 2.200 tỷ đồng, hoàn tất nghĩa vụ thuế bổ sung

Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Dai-ichi Việt Nam (Dai-ichi Life Việt Nam) vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025. Báo cáo tài chính của Dai-ichi Life Việt Nam cho thấy, lợi nhuận trước thuế năm 2025 đạt 2.173 tỷ đồng, tiếp tục duy trì lợi nhuận nghìn tỷ, trong bối cảnh hoạt động kinh doanh bảo hiểm còn nhiều thách thức.

Cũng trong năm 2025, Dai-ichi Life Việt Nam ghi nhận khoản điều chỉnh thuế đáng chú ý, chủ yếu liên quan đến nghĩa vụ thuế thu nhập doanh nghiệp bổ sung của các năm trước. Tại thuyết minh thuế phải nộp Nhà nước, công ty ghi nhận điều chỉnh khác 547,22 tỷ đồng trong năm 2025. Trong đó, thuế thu nhập doanh nghiệp là 392,96 tỷ đồng; các loại thuế khác 153,25 tỷ đồng.

Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Dai-ichi Việt Nam (Dai-ichi Life Việt Nam) vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025
Nguồn: Báo cáo tài chính của Dai-ichi Life Việt Nam.

Báo cáo tài chính Dai-ichi Life Việt Nam cho thấy, khoản điều chỉnh này xuất phát từ kết quả kiểm tra thuế của Chi cục Thuế Doanh nghiệp lớn trong năm 2025. Tại ngày kết thúc kỷ kế toán năm, công ty đã nộp đầy đủ nghĩa vụ thuế bổ sung này, qua đó, phản ánh việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính và tăng cường tuân thủ quy định thuế.

Ngoài ra, công ty ghi nhận khoản chi phí không được khấu trừ thuế ở mức 109,4 tỷ đồng, tăng so với cùng kỳ (4,8 tỷ đồng).

Sau khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp, công ty ghi nhận lợi nhuận sau thuế 1.663,2 tỷ đồng. Tính đến cuối năm 2025, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế của Dai-ichi Life Việt Nam còn 8.129,77 tỷ đồng, giảm gần 25% so với đầu năm. Nguyên nhân không chỉ đến từ khoản điều chỉnh nghĩa vụ thuế bổ sung, mà còn do công ty đã phân phối 3.723 tỷ đồng lợi nhuận cho công ty mẹ là Dai-ichi Life Holdings, Inc. (Nhật Bản).

Theo thuyết minh báo cáo tài chính, căn cứ Nghị quyết số MC2025-11 ngày 5/11/2025 của Hội đồng Thành viên, Dai-ichi Life Việt Nam đã phê duyệt phân phối khoản lợi nhuận này từ lợi nhuận sau thuế luỹ kế từ trước đến nay cho công ty mẹ. Khoản tiền đã được chi trả vào ngày 14/11/2025.

Đại diện công ty cho biết, Dai-ichi Life Việt Nam thực hiện phân phối lợi nhuận về Công ty mẹ theo kế hoạch tài chính đã được phê duyệt - trên cơ sở tuân thủ quy định pháp luật và sau khi đảm bảo đầy đủ các nghĩa vụ đối với khách hàng cũng như ngân sách nhà nước.

Doanh thu phí chững lại, mảng tài chính giữ sức bền

Xét về nguồn thu cốt lõi, doanh thu phí bảo hiểm Dai-ichi Life Việt Nam năm 2025 đạt 18.135 tỷ đồng. Cơ cấu doanh thu phí bảo hiểm năm 2025 của Dai-ichi Life Việt Nam cho thấy sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn.

Theo đó, bảo hiểm liên kết chung tiếp tục là dòng sản phẩm chủ lực với doanh thu 8.212 tỷ đồng, chiếm khoảng 45,3% tổng doanh thu phí bảo hiểm. Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh những năm trước, doanh thu bảo hiểm liên kết đơn vị của Dai-ichi Life Việt Nam năm 2025 đi ngang ở mức 2.194 tỷ đồng và chiếm 12,1%.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Ở chiều ngược lại, chi bồi thường bảo hiểm năm 2025 tăng 16,3% lên 5.929 tỷ đồng, cho thấy doanh nghiệp tiếp tục đẩy mạnh chi trả quyền lợi cho khách hàng. Trong khi đó, chi phí hoa hồng giảm năm thứ ba liên tiếp xuống còn hơn 1.100 tỷ đồng, thấp hơn 22,64% so với cùng kỳ; chi phí bán hàng cũng giảm 23%, còn hơn 3.600 tỷ đồng, phù hợp với diễn biến doanh thu.

Bà Nguyễn Thị Thanh Nhã - Phó Tổng Giám đốc Tài chính Dai-ichi Life Việt Nam cho biết, Dai-ichi Life Việt Nam duy trì chính sách chi trả cho đội ngũ đại lý và các chi phí liên quan theo hướng cạnh tranh và tạo động lực rõ nét, phản ánh cam kết đầu tư dài hạn cho lực lượng tư vấn. Các khoản chi này được gắn với hiệu quả kinh doanh và chất lượng phục vụ khách hàng, đồng thời tuân thủ đầy đủ Luật Kinh doanh bảo hiểm, qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và chuẩn mực tư vấn trên toàn hệ thống

Nhờ quy mô danh mục đầu tư tiếp tục mở rộng, lợi nhuận từ hoạt động tài chính năm 2025 của Dai-ichi Life đạt 3.921 tỷ đồng, tăng 17,2%, tương ứng tăng thêm 576 tỷ đồng so với năm trước. Ngoại trừ năm 2022 ghi nhận mức giảm 13,81%, mảng tài chính hầu hết duy trì đà tăng trưởng hai chữ số qua các năm, qua đó, trở thành nguồn đóng góp lợi nhuận quan trọng về lợi nhuận, đóng góp tích cực vào kết quả kinh doanh chung của doanh nghiệp.

Sau khi trừ các khoản chi phí, lợi nhuận gộp Dai-ichi Life Việt Nam từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm đạt 2.944 tỷ đồng.

Bên cạnh kết quả từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm, danh mục đầu tư của Dai-ichi Life Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng. Theo đó, đầu tư tài chính dài hạn đạt 50.702 tỷ đồng, tăng 14,5% và tiếp tục chiếm tỷ trọng chủ đạo trong cơ cấu tài sản.

Điều này cho thấy doanh nghiệp vẫn kiên định với chiến lược đầu tư dài hạn, nhằm tối ưu hóa lợi suất đầu tư và phù hợp với đặc thù kinh doanh dài hạn của ngành bảo hiểm nhân thọ. Bên cạnh đó, đầu tư tài chính ngắn hạn cũng tăng 18,4%, lên 11.295 tỷ đồng.

Nhìn rộng hơn trong những năm gần đây, sau giai đoạn tăng trưởng hai con số kéo dài, doanh thu phí bảo hiểm của Dai-ichi Life Việt Nam đang bước vào giai đoạn điều chỉnh theo hướng thận trọng và bền vững hơn.

Dù ghi nhận ba năm liên tiếp điều chỉnh, doanh nghiệp vẫn duy trì doanh thu phí lớn, lọt top dẫn đầu thị trường bảo hiểm nhân thọ, cho thấy nền tảng khách hàng và vị thế thị trường vẫn được giữ vững. Theo đó, thị phần doanh thu phí bảo hiểm khai thác mới năm 2025 của Dai-ichi đạt 12,12%, top 2 toàn thị trường theo số liệu của Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ tài chính).

Bối cảnh này cũng diễn ra song song với quá trình hoàn thiện khung pháp lý đối với hoạt động phân phối bảo hiểm qua ngân hàng theo hướng minh bạch thông tin, tăng cường trách nhiệm giám sát và nâng cao chất lượng tư vấn. Đặc biệt, quy định hạn chế tư vấn, chào bán sản phẩm bảo hiểm liên kết đầu tư trong vòng 60 ngày trước và sau thời điểm giải ngân khoản vay đang tạo ra những điều chỉnh nhất định đối với chiến lược phát triển sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm.

Tuy nhiên, các thay đổi này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy thị trường chuyển dịch theo hướng lành mạnh và bền vững hơn, tập trung vào nhu cầu bảo vệ và đầu tư dài hạn thực chất của khách hàng, qua đó, tạo nền tảng cho tăng trưởng ổn định dài hạn./.

Duy trì biên an toàn tài chính gần gấp đôi quy định, tiếp tục nâng quỹ dự phòng

Dai-ichi Life Việt Nam trực thuộc Tập đoàn Daiichi Life với hơn 123 năm hoạt động tại Nhật Bản và trên thế giới. Theo bà Nguyễn Thị Thanh Nhã - Phó Tổng Giám đốc Tài chính Dai-ichi Life Việt Nam, công ty tiếp tục duy trì biên khả năng thanh toán an toàn ở mức 192%, cao hơn gần gấp đôi so với biên khả năng thanh toán tối thiểu được yêu cầu bởi Bộ Tài chính. Trong ngành bảo hiểm, đây là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh mức độ an toàn tài chính của doanh nghiệp.

Ngoài ra, công ty tiếp tục tăng Quỹ dự phòng nghiệp vụ lên hơn 58.000 tỷ đồng, tăng gần 16%, nhằm đảm bảo quyền lợi chi trả cho khách hàng trong tương lai./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần 1 - 5/6: Lãi suất liên ngân hàng áp sát 11%, phản ứng nhanh rồi xoay trục hút ròng 26.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 1 - 5/6 cho thấy, lãi suất liên ngân hàng qua đêm có thời điểm áp sát 11%, doanh số vay mượn "nóng" vượt 1 triệu tỷ đồng. Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng kích hoạt nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ trị giá 1 tỷ USD, bơm mạnh hỗ trợ thanh khoản. Khi áp lực hạ nhiệt, cơ quan điều hành quay lại hút ròng 26.372,11 tỷ đồng, trong bối cảnh tỷ giá vẫn tương đối ổn định.
Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo của Chứng khoán SHS cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao khi chênh lệch giữa tín dụng và huy động vượt 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026. Đáng chú ý, tổng phương tiện thanh toán (M2) từng giảm khoảng 1,25 triệu tỷ đồng, phản ánh lượng tiền trong nền kinh tế bị thu hẹp, qua đó gia tăng áp lực huy động vốn.
ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa chốt ngày 16/6 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông nhận cổ tức năm 2025 bằng cả tiền mặt và cổ phiếu, với tổng tỷ lệ 20%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành tối đa gần 668 triệu cổ phiếu để trả cổ tức tỷ lệ 13%, qua đó, nâng vốn điều lệ thêm 6.677,6 tỷ đồng, lên hơn 58.000 tỷ đồng, tiếp tục củng cố năng lực tài chính và nền tảng tăng trưởng.
Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

(TBTCO) - Khẳng định cam kết đồng hành lâu dài vì sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cộng đồng, Sun Life Việt Nam tiếp tục là nhà tài trợ đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026 – giải chạy ý nghĩa nhằm chung tay hỗ trợ trẻ em mắc bệnh ung thư tại Việt Nam do Hiệp hội Doanh nghiệp Canada tại Việt Nam (CanCham) tổ chức.
Tỷ giá USD hôm nay (4/6): Tỷ giá USD bán ra chạm trần, đồng Yên suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD

Tỷ giá USD hôm nay (4/6): Tỷ giá USD bán ra chạm trần, đồng Yên suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD

(TBTCO) - Sáng ngày 4/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.145 đồng, giữ nguyên so với phiên trước, trong khi giá USD bán ra tại các ngân hàng chạm trần 26.402 đồng. Chỉ số DXY duy trì ở mức 99,43 điểm khi nhu cầu nắm giữ USD tăng lên do căng thẳng Mỹ - Iran leo thang, trong khi đồng Yên Nhật suy yếu chạm ngưỡng 160 JPY/USD.
Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 4/6: Giá vàng giảm sâu, lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm tới 500.000 đồng/lượng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lùi về quanh 154 - 157 triệu đồng/lượng.
OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

OCB tiếp đà tăng vốn lên hơn 30.625 tỷ đồng khi vừa vượt mốc dư nợ 200.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa chấp thuận cho OCB tăng vốn điều lệ tối đa thêm gần 3.994,6 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu từ nguồn vốn chủ sở hữu, nâng vốn điều lệ lên hơn 30.625 tỷ đồng. Động thái tăng vốn diễn ra trong bối cảnh OCB lần đầu vượt mốc dư nợ cho vay 200.000 tỷ đồng và đẩy mạnh chiến lược chuyển đổi số dưới sự điều hành của quyền Tổng Giám đốc mới, chuyên gia về AI.
Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

Vietcombank đồng hành cùng Cục Thuế hỗ trợ hộ kinh doanh vững bước chuyển đổi, hưởng ứng Ngày Tài chính số 2026

(TBTCO) - Nhằm thúc đẩy nộp thuế điện tử và thanh toán không dùng tiền mặt, ngày 3/6/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp cùng Cục Thuế tổ chức Lễ ký kết Thỏa thuận hợp tác đồng hành hỗ trợ hộ kinh doanh chuyển đổi số. Đây là hoạt động trọng điểm nhằm hưởng ứng Ngày Tài chính số năm 2026 và hiện thực hóa Nghị định số 68/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,620 15,020
Kim TT/AVPL 14,620 15,020
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,620 15,020
Nguyên Liệu 99.99 14,000 14,200
Nguyên Liệu 99.9 13,950 14,150
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,500 14,900
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,450 14,850
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,380 14,830
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,200 150,200
Hà Nội - PNJ 146,200 150,200
Đà Nẵng - PNJ 146,200 150,200
Miền Tây - PNJ 146,200 150,200
Tây Nguyên - PNJ 146,200 150,200
Đông Nam Bộ - PNJ 146,200 150,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,620 15,020
Miếng SJC Nghệ An 14,620 15,020
Miếng SJC Thái Bình 14,620 15,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,620 15,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,620 15,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,620 15,020
NL 99.90 13,750
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800
Trang sức 99.9 14,210 14,910
Trang sức 99.99 14,220 14,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,462 15,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,462 15,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 146 150
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 146 1,501
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 144 1,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 14,053 14,703
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,636 111,536
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 9,224 10,114
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,844 90,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,834 86,734
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,181 62,081
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,462 1,502
Cập nhật: 07/06/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18017 18291 18875
CAD 18365 18641 19259
CHF 32416 32799 33445
CNY 0 3851 3944
EUR 29699 29971 31010
GBP 34322 34713 35654
HKD 0 3230 3433
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14952 15538
SGD 19841 20122 20683
THB 718 781 834
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26150 26404
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,124 26,124 26,404
USD(1-2-5) 25,080 - -
USD(10-20) 25,080 - -
EUR 30,127 30,151 31,466
JPY 160.42 160.71 169.73
GBP 34,794 34,888 35,952
AUD 18,437 18,504 19,129
CAD 18,619 18,679 19,290
CHF 33,041 33,144 33,990
SGD 20,105 20,168 20,881
CNY - 3,820 3,950
HKD 3,300 3,310 3,435
KRW 15.79 16.47 17.85
THB 770.16 779.67 831.51
NZD 15,132 15,273 15,661
SEK - 2,767 2,854
DKK - 4,031 4,157
NOK - 2,774 2,861
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,106.87 - 6,867.32
TWD 756.3 - 912.66
SAR - 6,906.56 7,246.23
KWD - 83,637 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,404
EUR 30,005 30,125 31,314
GBP 34,707 34,846 35,865
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,793 32,925 33,851
JPY 160.74 161.39 168.93
AUD 18,383 18,457 19,052
SGD 20,127 20,208 20,792
THB 785 788 823
CAD 18,584 18,659 19,228
NZD 15,179 15,717
KRW 16.38 17.95
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26404
AUD 18439 18539 19461
CAD 18620 18720 19735
CHF 33009 33039 34617
CNY 3829.7 3854.7 3990.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30186 30216 31941
GBP 34937 34987 36745
HKD 0 3355 0
JPY 161.09 161.59 172.1
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15274 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20130 20260 20991
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14920000 14920000 15320000
SBJ 13000000 13000000 15320000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,076 26,126 26,404
USD20 26,076 26,126 26,404
USD1 26,076 26,126 26,404
AUD 18,476 18,576 19,683
EUR 30,341 30,341 31,747
CAD 18,559 18,659 19,965
SGD 20,203 20,353 20,913
JPY 161.6 163.1 167.63
GBP 34,814 35,164 36,026
XAU 14,918,000 0 15,322,000
CNY 0 3,738 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 07/06/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80