Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhóm phân tích MBS đánh giá, chênh lệch giữa tín dụng và huy động của hệ thống đã tăng lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng vào tháng 4/2026, tương đương 7,22% dư nợ, gây áp lực lên tỷ lệ LDR. Thông tư 08/2026/TT-NHNN được kỳ vọng giúp các ngân hàng quốc doanh giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1 - 1,5% và bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương 0,3 - 0,4% tổng dư nợ toàn hệ thống.
aa
“Đại tu” Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, nâng chuẩn quản trị rủi ro và tỷ lệ bảo đảm an toàn cho ngân hàng Thanh khoản căng thẳng đẩy LDR áp sát 100%, lợi thế nghiêng về ngân hàng có khả năng huy động vốn tốt Thay đổi cách tính LDR, ngân hàng “big 4” hưởng lợi lớn từ tiền gửi Kho bạc Nhà nước

Công ty Chứng khoán MB (MBS) vừa có báo cáo cập nhật đánh giá tác động của Thông tư số 08/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 08).

Thông tư 08 bổ sung 20% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào tổng tiền gửi trong cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi của các ngân hàng. Trước đó, kể từ ngày 01/01/2026, khoản tiền gửi này đã bị loại bỏ hoàn toàn khỏi cách tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi theo lộ trình quy định tại Thông tư 26/2022/TT-NHNN.

Chênh lệch tín dụng - huy động lên 1,4 triệu tỷ đồng, áp lực LDR bớt căng khi tính 20% tiền gửi Kho bạc

Theo nhóm phân tích MBS, thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục chịu áp lực trong bối cảnh tín dụng phục hồi mạnh, trong khi huy động vốn chưa theo kịp, dù mặt bằng đã tăng từ cuối năm 2025 và tiếp tục nhích lên trong ba tháng đầu năm 2026.

Tính đến ngày 28/04/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt khoảng 19,5 triệu tỷ đồng, tăng 4,4% so với đầu năm và tăng 18,26% so với cùng kỳ. Trong khi đó, tăng trưởng huy động vẫn thấp hơn do dòng tiền có xu hướng dịch chuyển sang các kênh đầu tư thay thế.

“Chênh lệch giữa tổng tín dụng và huy động của hệ thống tiếp tục mở rộng, từ khoảng 1,33 triệu tỷ đồng, tương đương 6,97% dư nợ vào tháng 3/2025, lên khoảng 1,4 triệu tỷ đồng, tương đương 7,22% dư nợ vào tháng 4/2026. Điều này làm gia tăng tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) của các ngân hàng” - MBS nhận định.

Theo ước tính của MBS, đến cuối quý I/2026, tỷ lệ LDR thuần của 27 ngân hàng niêm yết đạt 100%, tăng 2,3 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.

Mặc dù tỷ lệ này vẫn chưa vượt trần 85%, nhưng nhìn chung đã ở mức cao hơn so với giai đoạn trước. Điều này cho thấy dư địa tăng trưởng tín dụng của hệ thống ngày càng phụ thuộc vào khả năng mở rộng nguồn vốn ổn định nhằm giảm căng thẳng cho tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi.

Ở diễn biến có liên quan, từ đầu năm 2026, các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc tổ chức tín dụng yếu kém được giảm 50% tỷ lệ dự trữ bắt buộc, qua đó tạo thêm dư địa cho vay cho toàn hệ thống. Chính sách này có thể phần nào giảm áp lực thanh khoản cục bộ và hỗ trợ chi phí vốn, tuy nhiên, tác động lên toàn hệ thống được đánh giá ở mức vừa phải.

Mới đây, dự thảo Thông tư thay thế Thông tư 22/2019/TT-NHNN đã hoàn thiện hơn các quy định hiện hành và hướng tới tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế Basel III. Dự thảo này được kỳ vọng mang lại tác động tích cực trong dài hạn, giúp hệ thống ngân hàng hoạt động an toàn, bền vững hơn. Tuy nhiên, do đề cập đến nhiều nội dung mới, dự thảo cần thêm thời gian để đánh giá tính khả thi cũng như đảm bảo quá trình chuyển đổi có lộ trình phù hợp, tránh tạo áp lực lớn lên các ngân hàng.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành kịp thời Thông tư 08, nhằm hỗ trợ kỹ thuật trong cách tính tỷ lệ LDR, có hiệu lực từ ngày 15/05/2026. Theo đó, các ngân hàng thương mại được tính thêm 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào cấu phần tiền gửi khi tính tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi.

Điều chỉnh mới giúp giảm bớt áp lực đối với tỷ lệ này tại một số ngân hàng, đặc biệt là nhóm ngân hàng quốc doanh, do đang nắm giữ khoảng 99% tổng tiền gửi Kho bạc Nhà nước toàn hệ thống.

“Ba ngân hàng quốc doanh niêm yết gồm Vietcombank, BIDV và VietinBank có thể giảm tỷ lệ LDR khoảng 1,1% - 1,5% so với trước khi có thay đổi. Ngoài ra, theo ước tính, thay đổi này có thể bổ sung thêm dư địa cho vay tương đương khoảng 0,3% - 0,4% tổng dư nợ tín dụng hiện tại của toàn hệ thống” - MBS tính toán./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

Tỷ giá USD hôm nay (4/7): DXY mất đà, USD ngân hàng bán ra vẫn kịch trần

(TBTCO) - Sáng 4/7, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng, xuống 25.203 đồng, nhưng tính chung cả tuần qua vẫn tăng 8 đồng, đánh dấu tuần tăng thứ 8 liên tiếp; tỷ giá USD ngân hàng bán ra vẫn neo kịch trần. Trong khi đó, chỉ số DXY chốt tuần ở 100,87 điểm, giảm 0,48% so với tuần trước, phản ánh đà suy yếu của đồng USD khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) thắt chặt chính sách tiền tệ đã giảm bớt.
Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

Thị trường tiền tệ tuần 29/6 - 3/7: Tỷ giá trung tâm leo dốc tuần thứ 8, lãi suất qua đêm vượt 12%

(TBTCO) - Lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong tuần qua (29/6 - 3/7) có thời điểm vọt lên 12,49%/năm, buộc Ngân hàng Nhà nước tức tốc bơm thanh khoản hơn 9.547 tỷ đồng qua kênh OMO. Dù vậy, chênh lệch lãi suất VND - USD vẫn dương để hỗ trợ tỷ giá, trong bối cảnh tỷ giá trung tâm tăng tuần thứ 8 liên tiếp.
Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc thành “phao” thanh khoản ngân hàng, nhưng vẫn cần thêm giải pháp hỗ trợ

Tiền gửi Kho bạc Nhà nước đạt 626,7 nghìn tỷ đồng tại các tổ chức tín dụng cuối tháng 3/2026, trở thành "điểm tựa" thanh khoản hệ thống. Tuy nhiên, các chuyên gia của VDSC cho rằng, việc nới tỷ lệ LDR, tính thêm 20% tiền gửi Kho bạc và nới tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn vẫn chưa đủ để hạ nhiệt lãi suất, cần thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản.
Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Lương hưu tăng 8% đến tay người hưởng ngay từ đầu tháng 7

Ngay trong những ngày đầu tháng 7/2026, khoảng 3,5 triệu người hưởng lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội trên cả nước đã được nhận mức hưởng mới tăng 8% theo quy định của Chính phủ. Việc chi trả được triển khai nhanh chóng, kịp thời, đặc biệt với hình thức chuyển khoản, góp phần mang lại sự thuận tiện và niềm vui cho người hưởng.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

Bảo hiểm xã hội Việt Nam bảo đảm chi trả kịp thời khi lương hưu, trợ cấp tăng từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các địa phương phối hợp chặt chẽ với các đơn vị cung ứng dịch vụ chi trả và các ngân hàng để bảo đảm người hưởng chế độ hưu trí, trợ cấp bảo hiểm xã hội nhận đúng, nhận đủ chế độ theo mức mới ngay từ những ngày đầu tiên của kỳ chi trả tháng 7/2026.
Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Tăng trưởng tín dụng đi đôi với chất lượng, hỗ trợ thanh khoản kịp thời nhờ đa dạng công cụ

Ngân hàng Nhà nước phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm đạt khoảng 15%, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, nhưng vẫn đảm bảo lạm phát trong tầm kiểm soát. Thống đốc lưu ý, tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với chất lượng, hiệu quả, an toàn, Ngân hàng Nhà nước chủ động nghiên cứu, sử dụng đa dạng các công cụ để kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho các tổ chức tín dụng.
Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

Bảo Việt đứng đầu Top 10 thương hiệu mạnh nhất Việt Nam năm 2026 do Brand Finance công bố

(TBTCO) - Brand Finance - công ty tư vấn định giá thương hiệu (London, Anh) chính thức công bố danh sách Top 100 thương hiệu giá trị nhất Việt Nam. Theo đó Bảo Việt là doanh nghiệp nhóm ngành bảo hiểm được ghi nhận ở thứ hạng cao nhất.
Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

Một thập kỷ giữ cam kết, vun bồi niềm tin và đồng hành cùng khách hàng xây dựng hạnh phúc

(TBTCO) - Ngày 2/7/2026, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ MB Ageas (MB Life) đã tổ chức Lễ kỷ niệm 10 năm thành lập (2016 - 2026). Nhân dịp này, MB Life vinh dự đón nhận Bằng khen của Chủ tịch UBND TP. Hà Nội, ghi nhận những thành tích trong thực hiện nhiệm vụ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,840 15,140
Kim TT/AVPL 14,840 15,140
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,840 15,140
Nguyên Liệu 99.99 13,600 13,800
Nguyên Liệu 99.9 13,550 13,750
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,100 14,600
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,050 14,550
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,980 14,530
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,400 151,400
Hà Nội - PNJ 148,400 151,400
Đà Nẵng - PNJ 148,400 151,400
Miền Tây - PNJ 148,400 151,400
Tây Nguyên - PNJ 148,400 151,400
Đông Nam Bộ - PNJ 148,400 151,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,840 15,140
Miếng SJC Nghệ An 14,840 15,140
Miếng SJC Thái Bình 14,840 15,140
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,790 ▲40K 15,140 ▲40K
NL 99.90 13,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,100
Trang sức 99.9 14,330 ▲40K 15,030 ▲40K
Trang sức 99.99 14,340 ▲40K 15,040 ▲40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,484 15,142
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,484 15,143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,483 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,483 1,514
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,463 1,498
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,317 148,317
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 103,011 112,511
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,524 102,024
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 82,037 91,537
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,992 87,492
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,123 62,623
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,484 1,514
Cập nhật: 04/07/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17714 17987 18563
CAD 17986 18261 18878
CHF 32079 32461 33102
CNY 0 3836 3930
EUR 29433 29654 30740
GBP 34300 34691 35629
HKD 0 3221 3424
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14698 15294
SGD 19814 20096 20672
THB 707 771 825
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26463
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,083 26,083 26,463
USD(1-2-5) 25,040 - -
USD(10-20) 25,040 - -
EUR 29,630 29,654 31,066
JPY 159.14 159.43 169.03
GBP 34,556 34,650 35,845
AUD 17,937 18,002 18,679
CAD 18,223 18,282 18,956
CHF 32,423 32,524 33,481
SGD 19,968 20,030 20,819
CNY - 3,806 3,951
HKD 3,286 3,296 3,434
KRW 15.88 16.56 18.02
THB 756.58 765.92 819.7
NZD 14,728 14,865 15,307
SEK - 2,683 2,778
DKK - 3,964 4,103
NOK - 2,637 2,730
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.26 - 6,822.81
TWD 743.74 - 900.92
SAR - 6,885.97 7,252.22
KWD - 83,123 88,435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,083 26,103 26,463
EUR 29,501 29,619 30,812
GBP 34,480 34,618 35,647
HKD 3,284 3,297 3,414
CHF 32,163 32,292 33,226
JPY 158.96 159.60 167.50
AUD 17,863 17,935 18,529
SGD 20,003 20,083 20,670
THB 773 776 812
CAD 18,203 18,276 18,845
NZD 14,742 15,279
KRW 16.34 17.96
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26463
AUD 17889 17989 18914
CAD 18186 18286 19302
CHF 32338 32368 33950
CNY 3816.3 3841.3 3976.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29641 29671 31394
GBP 34613 34663 36421
HKD 0 3355 0
JPY 159.72 160.22 170.74
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14821 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19986 20116 20847
THB 0 738.4 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14840000 14840000 15140000
SBJ 13000000 13000000 15140000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,100 26,150 26,463
USD20 26,100 26,150 26,463
USD1 26,100 26,150 26,463
AUD 17,926 18,026 19,164
EUR 29,701 29,771 31,222
CAD 18,122 18,222 19,556
SGD 20,056 20,206 20,789
JPY 160.12 161.62 166.39
GBP 34,481 34,831 35,753
XAU 14,838,000 0 15,142,000
CNY 0 3,724 0
THB 0 773 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/07/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80