Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
aa

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Agribank nổi bật trong nhóm “big 4”, MB vượt trội ở kỳ hạn 24 tháng

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết ngày 18/5 cho thấy, sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo 46 ngân hàng thương mại ngày 9/4, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn được nhiều người dân lựa chọn gửi tiết kiệm - đã giảm tại nhiều nhà băng. Mức điều chỉnh phổ biến dao động từ 5 - 60 điểm cơ bản. Tuy nhiên, đà giảm hiện có dấu hiệu chững lại khi phần lớn ngân hàng chỉ điều chỉnh giảm 01 lần trong hơn 01 tháng qua, trước khi duy trì mặt bằng lãi suất gần như đi ngang đến nay.

Trong bối cảnh các ngân hàng giảm lãi suất theo hiệu lệnh nhà điều hành, ở nhóm “big 4”, Agribank hiện niêm yết lãi suất cao nhất tại kỳ hạn 1 - 6 tháng, lần lượt ở mức 2,6%/năm; 2,9%/năm và 4%/năm. Trong khi đó, ở kỳ hạn 12 - 24 tháng, cả 4 ngân hàng quốc doanh đều niêm yết quanh 5,9 - 6%/năm, không có sự cạnh tranh nào về mặt lãi suất.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.
Tại kỳ hạn 24 tháng, MB đang dẫn đầu và thậm chí cao hơn cả các nhóm ngân hàng thương mại nhỏ và vừa, với lãi suất 7,2%/năm. Ở nhóm quy mô nhỏ hơn, MBV dẫn đầu với lãi suất niêm yết 7%/năm; PGBank, OCB và Sacombank cùng ở mức 6,8%/năm; BacABank 6,75%/năm; NCB 6,7%/năm...

Ở nhóm ngân hàng tư nhân lớn, VPBank đang dẫn đầu kỳ hạn 1 tháng với 4,45%/năm; kỳ hạn 3 tháng với 4,65%/năm. Techcombank niêm yết lãi suất cao nhất tại kỳ hạn 6 tháng với 5,95%/năm.

Đáng chú ý, MB hiện dẫn đầu kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng, với mức 6,3%/năm và 7,2%/năm, cao nhất trong nhóm ngân hàng thương mại lớn.

Với các ngân hàng còn lại, tại kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng, nhiều ngân hàng thương mại đang niêm yết mức cao sát trần 4,75%/năm. Trong đó, PGBank, BVBank, OCB, Saigonbank, SACOMBANK, CIMB, PublicBank, PVcomBank cùng niêm yết 4,75%/năm ở cả hai kỳ hạn. Riêng VIB, VietABank và NCB cũng áp dụng mức 4,75%/năm tại kỳ hạn 3 tháng. Bên cạnh đó, UOB niêm yết 4,73%/năm cho kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng, gần sát trần.

Ở kỳ hạn 6 tháng, nhóm ngân hàng có lãi suất cao nhất gồm Hong Leong Bank với 7,3%/năm, BacABank 6,85%/năm, PGBank đứng top ba khi trả lãi suất 6,6%/năm; MBV và VCBNeo cùng 6,5%/năm; BVBank 6,45%/năm; OCB và Saigonbank cùng 6,4%/năm.

Nhiều ngân hàng hiện vẫn áp dụng mức cộng thêm 1 - 2 điểm phần trăm cho tiền gửi online, đẩy lãi suất thực nhận lên vùng cao; hay NCB vừa triển khai chương trình ưu đãi dành cho khách hàng gửi tiết kiệm trực tuyến trên ứng dụng ngân hàng số với mức cộng thêm lên tới 2,5% so với biểu lãi suất niêm yết.

Đà giảm lãi suất chững lại gần 1 tháng qua

Trong báo cáo mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá việc các ngân hàng nhanh chóng hạ lãi suất huy động cho thấy tín hiệu đồng thuận của hệ thống ngân hàng trong việc thực hiện chủ trương giảm mặt bằng lãi suất nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất huy động hiện vẫn neo ở mức cao do đã tăng mạnh trong quý I/2026. Bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại ở mức 8,31%/năm, cao hơn 2,53 điểm phần trăm so với đầu năm.

Thống kê của MBS cho thấy, đến cuối tháng 4/2026, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng bình quân của nhóm ngân hàng thương mại quy mô lớn ở mức 8,16%/năm, mới giảm 25 điểm cơ bản so với trước chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại quy mô vừa và nhỏ ở mức 8,45%/năm, giảm 29 điểm cơ bản.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Sau đợt giảm lãi suất đồng loạt theo hiệu lệnh nhà điều hành, lãi suất huy động gần như đi ngang, ít chuyển động tại các ngân hàng.

Áp lực lạm phát cản đà giảm lãi suất

Nhóm phân tích VNDirect kỳ vọng lãi suất các chương trình ưu đãi giảm thêm khoảng 0,5 - 1 điểm phần trăm. Tuy nhiên, lãi suất niêm yết khó giảm sâu hơn trong bối cảnh lạm phát bình quân đang tiến sát mốc 4%. Nếu giá dầu thế giới tiếp tục duy trì trên 100 USD/thùng, lạm phát bình quân cả năm có thể vượt 5%, khiến dư địa điều hành chính sách tiền tệ bị thu hẹp đáng kể.

Theo quan sát từ Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect, lãi suất huy động theo các chương trình ưu đãi cũng có xu hướng chững lại nhưng vẫn ở mức cao, khoảng 7,5 - 8%/năm tại các ngân hàng quốc doanh và lên tới 8,9%/năm tại một số ngân hàng tư nhân.

Ở chiều cho vay, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại trong nước đến tháng 3/2026 ở mức 7,4 - 9,7%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước và tăng 0,7 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.

Diễn biến thực tế cho thấy, tại kỳ hạn 6 tháng, VPBank là ngân hàng giảm lãi suất mạnh nhất sau cuộc họp ngày 9/4 giữa Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Hiện ngân hàng này niêm yết lãi suất 5,8%/năm, thấp hơn 0,6 điểm phần trăm so với trước đó, sau hai lần điều chỉnh giảm liên tiếp gồm giảm 0,5 điểm phần trăm ngay sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước và giảm thêm 0,1 điểm phần trăm sau đó. Tuy nhiên, gần một tháng trở lại đây, VPBank không tiếp tục điều chỉnh lãi suất niêm yết.

Dù đã giảm khá mạnh, mặt bằng lãi suất hiện tại của VPBank vẫn cao hơn khoảng 1 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, do toàn hệ thống ngân hàng đã bước vào chu kỳ tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III năm ngoái.

Trong khi đó, HDBank hiện niêm yết 4,9%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với trước ngày 9/4 và là một trong số ít ngân hàng vẫn duy trì mặt bằng lãi suất thấp hơn 0,3 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, bất chấp xu hướng tăng lãi suất huy động diện rộng vừa qua.

Vikki Bank hiện niêm yết 5,9%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với ngày 9/4 nhưng vẫn tăng 0,6 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025. BaoVietBank niêm yết 5,5%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với sau cuộc họp và tăng 0,7 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025. PVcomBank hiện ở mức 5%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với ngày 9/4 và tăng 0,8 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025.

PublicBank Việt Nam và ACB cùng niêm yết lần lượt 5,8%/năm và 4,5%/năm, đều giảm 0,5 điểm phần trăm...

Ở nhóm giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm, MB hiện niêm yết 4,6%/năm, Standard Chartered 3,76%/năm, NCB 6,2%/năm, VCBNeo 6,5%/năm, Shinhan Bank 4,4%/năm, Saigonbank 6,4%/năm...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

Cảnh báo lừa đảo mạo danh cơ quan Bảo hiểm xã hội yêu cầu cài đặt “thẻ BHXH điện tử”

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam khẳng định: Cơ quan Bảo hiểm xã hội không có chủ trương gọi điện, nhắn tin yêu cầu người dân cài đặt “thẻ bảo hiểm xã hội điện tử” hoặc cung cấp thông tin cá nhân để cập nhật dữ liệu trên ứng dụng VssID - Bảo hiểm xã hội số.
Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận kế hoạch IPO, chờ được cấp phép sản xuất vàng miếng

(TBTCO) - Chiều ngày 18/5, đại diện Công ty Cổ phần Vàng bạc Đá quý Bảo Tín Mạnh Hải xác nhận thông tin về việc lên kế hoạch chào bán cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) vào quý IV/2026. Ngoài ra, công ty đã nộp hồ sơ xin cấp phép sản xuất vàng miếng và đã chuẩn bị sẵn sàng sản xuất ngay khi được cấp phép.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Lạng Sơn

(TBTCO) - Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với chính quyền địa phương và doanh nghiệp bảo hiểm tổ chức trao hỗ trợ nhân đạo cho gia đình nạn nhân tử vong do tai nạn giao thông tại tỉnh Lạng Sơn.
Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

Generali Việt Nam khẳng định vị thế trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Generali Việt Nam vừa được vinh danh tại Giải thưởng Rồng Vàng 2026 - Golden Dragon Awards 2026, với danh hiệu “Tiên phong trong đổi mới sản phẩm bảo hiểm” (Pioneer in Innovation of Insurance Products).
Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 18/5: Giá vàng trong nước giữ mốc 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục đi ngang tại nhiều doanh nghiệp lớn, với vàng miếng phổ biến ở mức 160,5 - 163,5 triệu đồng/lượng.
Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

Ngân hàng Phương Đông khẳng định không liên quan đến tiền điện tử OCB

(TBTCO) - Ngân hàng Phương Đông (OCB) khẳng định, không phát hành, tham gia hay liên kết với bất kỳ dự án tiền điện tử, tiền ảo, token hay blockchain nào mang tên “OCB token”.
Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

Tỷ giá USD hôm nay (16/5): USD mạnh lên đẩy DXY lên đỉnh 5 tuần, EUR và GBP đồng loạt lao dốc

(TBTCO) - Sáng ngày 16/5, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.131 đồng, cao nhất trong khoảng 4 tháng và ghi nhận tuần tăng mạnh nhất gần hai tháng qua. Trong khi USD tự do giảm nhẹ về quanh 26.360 - 26.390 VND/USD, tương đương mặt bằng ngân hàng thương mại; nhiều nhà băng đồng loạt hạ tỷ giá EUR và GBP. Chỉ số DXY chốt tuần tại 99,3 điểm, tăng mạnh 1,43% và lên mức cao nhất trong 5 tuần gần đây.
Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua, từ ngày 11 - 15/5 cho thấy, mặt bằng lãi suất liên ngân hàng tiếp tục neo cao vùng 6 - 7%/năm, trong khi nhà điều hành duy trì trạng thái hút ròng nhẹ 5.873 tỷ đồng qua kênh OMO. Tuần qua, tỷ giá trung tâm tăng mạnh nhất trong 2 tháng trở lại đây, trong bối cảnh DXY bật tăng lên trên 99 điểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Kim TT/AVPL 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,050 ▼30K 16,350 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 15,000 ▼30K 15,200 ▼30K
Nguyên Liệu 99.9 14,950 ▼30K 15,150 ▼30K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,800 16,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,750 16,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,680 16,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Hà Nội - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đà Nẵng - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Miền Tây - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Tây Nguyên - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
Đông Nam Bộ - PNJ 161,000 ▲200K 163,500 ▼300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 16,100 ▼30K 16,350 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,050 16,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,050 16,350
NL 99.90 14,550
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,600
Trang sức 99.9 15,540 16,240
Trang sức 99.99 15,550 16,250
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 161 ▼1452K 16,352 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 161 ▼1452K 16,353 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,603 1,633
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,603 1,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,583 1,618
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 153,698 160,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 112,612 121,512
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 101,285 110,185
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 89,958 98,858
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 85,589 94,489
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 58,727 67,627
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 161 ▼1452K 1,635 ▼3K
Cập nhật: 19/05/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18267 18543 19117
CAD 18636 18914 19526
CHF 32894 33279 33923
CNY 0 3834 3926
EUR 30047 30320 31347
GBP 34546 34938 35870
HKD 0 3235 3436
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15122 15709
SGD 20046 20329 20854
THB 723 787 840
USD (1,2) 26089 0 0
USD (5,10,20) 26131 0 0
USD (50,100) 26159 26179 26389
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,389
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,240 30,264 31,548
JPY 161.64 161.93 170.83
GBP 34,814 34,908 35,931
AUD 18,543 18,610 19,214
CAD 18,856 18,917 19,516
CHF 33,223 33,326 34,137
SGD 20,214 20,277 20,975
CNY - 3,811 3,936
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.23 16.93 18.33
THB 772.98 782.53 833.61
NZD 15,137 15,278 15,654
SEK - 2,761 2,845
DKK - 4,047 4,168
NOK - 2,802 2,887
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,211.55 - 6,977.15
TWD 754.53 - 908.9
SAR - 6,919.88 7,252.25
KWD - 83,792 88,705
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,129 26,149 26,389
EUR 30,105 30,226 31,405
GBP 34,720 34,859 35,865
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 32,960 33,092 34,024
JPY 161.76 162.41 169.73
AUD 18,480 18,554 19,143
SGD 20,230 20,311 20,891
THB 789 792 826
CAD 18,811 18,887 19,458
NZD 15,182 15,714
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26389
AUD 18469 18569 19495
CAD 18818 18918 19932
CHF 33146 33176 34751
CNY 3816.3 3841.3 3976.4
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30231 30261 31987
GBP 34849 34899 36659
HKD 0 3355 0
JPY 162.27 162.77 173.28
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15230 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20207 20337 21070
THB 0 753.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16130000 16130000 16380000
SBJ 14000000 14000000 16380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,180 26,230 26,389
USD20 26,180 26,230 26,389
USD1 23,877 26,230 26,389
AUD 18,543 18,643 19,759
EUR 30,387 30,387 31,810
CAD 18,764 18,864 20,180
SGD 20,289 20,439 21,265
JPY 162.73 164.23 168.87
GBP 34,759 35,109 35,987
XAU 16,128,000 0 16,382,000
CNY 0 3,725 0
THB 0 790 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/05/2026 12:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80