Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
aa

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Agribank nổi bật trong nhóm “big 4”, MB vượt trội ở kỳ hạn 24 tháng

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết ngày 18/5 cho thấy, sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo 46 ngân hàng thương mại ngày 9/4, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn được nhiều người dân lựa chọn gửi tiết kiệm - đã giảm tại nhiều nhà băng. Mức điều chỉnh phổ biến dao động từ 5 - 60 điểm cơ bản. Tuy nhiên, đà giảm hiện có dấu hiệu chững lại khi phần lớn ngân hàng chỉ điều chỉnh giảm 01 lần trong hơn 01 tháng qua, trước khi duy trì mặt bằng lãi suất gần như đi ngang đến nay.

Trong bối cảnh các ngân hàng giảm lãi suất theo hiệu lệnh nhà điều hành, ở nhóm “big 4”, Agribank hiện niêm yết lãi suất cao nhất tại kỳ hạn 1 - 6 tháng, lần lượt ở mức 2,6%/năm; 2,9%/năm và 4%/năm. Trong khi đó, ở kỳ hạn 12 - 24 tháng, cả 4 ngân hàng quốc doanh đều niêm yết quanh 5,9 - 6%/năm, không có sự cạnh tranh nào về mặt lãi suất.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.
Tại kỳ hạn 24 tháng, MB đang dẫn đầu và thậm chí cao hơn cả các nhóm ngân hàng thương mại nhỏ và vừa, với lãi suất 7,2%/năm. Ở nhóm quy mô nhỏ hơn, MBV dẫn đầu với lãi suất niêm yết 7%/năm; PGBank, OCB và Sacombank cùng ở mức 6,8%/năm; BacABank 6,75%/năm; NCB 6,7%/năm...

Ở nhóm ngân hàng tư nhân lớn, VPBank đang dẫn đầu kỳ hạn 1 tháng với 4,45%/năm; kỳ hạn 3 tháng với 4,65%/năm. Techcombank niêm yết lãi suất cao nhất tại kỳ hạn 6 tháng với 5,95%/năm.

Đáng chú ý, MB hiện dẫn đầu kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng, với mức 6,3%/năm và 7,2%/năm, cao nhất trong nhóm ngân hàng thương mại lớn.

Với các ngân hàng còn lại, tại kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng, nhiều ngân hàng thương mại đang niêm yết mức cao sát trần 4,75%/năm. Trong đó, PGBank, BVBank, OCB, Saigonbank, SACOMBANK, CIMB, PublicBank, PVcomBank cùng niêm yết 4,75%/năm ở cả hai kỳ hạn. Riêng VIB, VietABank và NCB cũng áp dụng mức 4,75%/năm tại kỳ hạn 3 tháng. Bên cạnh đó, UOB niêm yết 4,73%/năm cho kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng, gần sát trần.

Ở kỳ hạn 6 tháng, nhóm ngân hàng có lãi suất cao nhất gồm Hong Leong Bank với 7,3%/năm, BacABank 6,85%/năm, PGBank đứng top ba khi trả lãi suất 6,6%/năm; MBV và VCBNeo cùng 6,5%/năm; BVBank 6,45%/năm; OCB và Saigonbank cùng 6,4%/năm.

Nhiều ngân hàng hiện vẫn áp dụng mức cộng thêm 1 - 2 điểm phần trăm cho tiền gửi online, đẩy lãi suất thực nhận lên vùng cao.

Đà giảm lãi suất chững lại gần 1 tháng qua

Trong báo cáo mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá việc các ngân hàng nhanh chóng hạ lãi suất huy động cho thấy tín hiệu đồng thuận của hệ thống ngân hàng trong việc thực hiện chủ trương giảm mặt bằng lãi suất nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất huy động hiện vẫn neo ở mức cao do đã tăng mạnh trong quý I/2026. Bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại ở mức 8,31%/năm, cao hơn 2,53 điểm phần trăm so với đầu năm.

Thống kê của MBS cho thấy, đến cuối tháng 4/2026, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng bình quân của nhóm ngân hàng thương mại quy mô lớn ở mức 8,16%/năm, mới giảm 25 điểm cơ bản so với trước chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại quy mô vừa và nhỏ ở mức 8,45%/năm, giảm 29 điểm cơ bản.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Sau đợt giảm lãi suất đồng loạt theo hiệu lệnh nhà điều hành, lãi suất huy động gần như đi ngang, ít chuyển động tại các ngân hàng.

Áp lực lạm phát cản đà giảm lãi suất

Nhóm phân tích VNDirect kỳ vọng lãi suất các chương trình ưu đãi giảm thêm khoảng 0,5 - 1 điểm phần trăm. Tuy nhiên, lãi suất niêm yết khó giảm sâu hơn trong bối cảnh lạm phát bình quân đang tiến sát mốc 4%. Nếu giá dầu thế giới tiếp tục duy trì trên 100 USD/thùng, lạm phát bình quân cả năm có thể vượt 5%, khiến dư địa điều hành chính sách tiền tệ bị thu hẹp đáng kể.

Theo quan sát từ Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect, lãi suất huy động theo các chương trình ưu đãi cũng có xu hướng chững lại nhưng vẫn ở mức cao, khoảng 7,5 - 8%/năm tại các ngân hàng quốc doanh và lên tới 8,9%/năm tại một số ngân hàng tư nhân.

Ở chiều cho vay, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại trong nước đến tháng 3/2026 ở mức 7,4 - 9,7%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước và tăng 0,7 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.

Diễn biến thực tế cho thấy, tại kỳ hạn 6 tháng, VPBank là ngân hàng giảm lãi suất mạnh nhất sau cuộc họp ngày 9/4 giữa Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Hiện ngân hàng này niêm yết lãi suất 5,8%/năm, thấp hơn 0,6 điểm phần trăm so với trước đó, sau hai lần điều chỉnh giảm liên tiếp gồm giảm 0,5 điểm phần trăm ngay sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước và giảm thêm 0,1 điểm phần trăm sau đó. Tuy nhiên, gần một tháng trở lại đây, VPBank không tiếp tục điều chỉnh lãi suất niêm yết.

Dù đã giảm khá mạnh, mặt bằng lãi suất hiện tại của VPBank vẫn cao hơn khoảng 1 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, do toàn hệ thống ngân hàng đã bước vào chu kỳ tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III năm ngoái.

Trong khi đó, HDBank hiện niêm yết 4,9%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với trước ngày 9/4 và là một trong số ít ngân hàng vẫn duy trì mặt bằng lãi suất thấp hơn 0,3 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, bất chấp xu hướng tăng lãi suất huy động diện rộng vừa qua.

Vikki Bank hiện niêm yết 5,9%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với ngày 9/4 nhưng vẫn tăng 0,6 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025. BaoVietBank niêm yết 5,5%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với sau cuộc họp và tăng 0,7 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025. PVcomBank hiện ở mức 5%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với ngày 9/4 và tăng 0,8 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025.

PublicBank Việt Nam và ACB cùng niêm yết lần lượt 5,8%/năm và 4,5%/năm, đều giảm 0,5 điểm phần trăm...

Ở nhóm giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm, MB hiện niêm yết 4,6%/năm, Standard Chartered 3,76%/năm, NCB 6,2%/năm, VCBNeo 6,5%/năm, Shinhan Bank 4,4%/năm, Saigonbank 6,4%/năm...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

Vốn đầu tư vượt 1 triệu tỷ đồng giữ nhịp sinh lời, vững cam kết bảo hiểm

(TBTCO) - Dòng vốn đầu tư của ngành Bảo hiểm đã vượt 1 triệu tỷ đồng và chứng kiến sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu danh mục. Dù mang “khẩu vị” đầu tư khác nhau, các doanh nghiệp bảo hiểm vẫn kiên định bài toán cân bằng giữa hiệu quả sinh lời, an toàn tài chính và bảo đảm quyền lợi khách hàng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 30/8: Vàng thế giới và trong nước đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về 4.453 USD/ounce, giảm khoảng 24 USD trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt giảm giá.
Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

Tỷ giá USD hôm nay (29/8): USD trong nước ít biến động, DXY áp sát 100 điểm sau thông điệp “diều hâu” từ Fed

(TBTCO) - Sáng 29/8, tỷ giá USD trong nước khép lại tuần với biên độ biến động hẹp, tỷ giá trung tâm tăng 10 đồng lên 25.610 đồng/USD, trong khi tỷ giá USD tại ngân hàng và trên thị trường tự do giảm nhẹ. Chỉ số DXY tăng 0,55% lên 99,67 điểm sau thông điệp “diều hâu” của Chủ tịch Fed tại Hội nghị Jackson Hole, củng cố kỳ vọng Mỹ có thể tăng lãi suất vào cuối năm.
Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 29/8: Vàng thế giới lao dốc, vàng trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 155 USD/ounce trong 24 giờ qua. Trong nước, vàng miếng tăng nhẹ, trong khi giá vàng nhẫn phân hóa giữa các thương hiệu.
“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

“Kho” đầu tư gần 370.000 tỷ đồng giúp doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sinh sôi lợi nhuận

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, “kho” đầu tư hơn 367.000 tỷ đồng của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết mang về 7.930,4 tỷ đồng lợi nhuận tài chính, tăng 14,6%. "Ông lớn" Bảo Việt chiếm ưu thế áp đảo, trong khi hiệu quả sinh lời giữa các doanh nghiệp phân hóa rõ.
Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

Bảo hiểm Bảo Việt đứng đầu 26 doanh nghiệp bảo hiểm uy tín trong lĩnh vực hàng hải

(TBTCO) - Đứng đầu danh sách 26 tổ chức bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải do Bộ Tài chính công bố, Bảo hiểm Bảo Việt tiếp tục khẳng định nền tảng tài chính vững chắc, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm quản trị những rủi ro có quy mô lớn, tính chất phức tạp.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,700 148,700
Hà Nội - PNJ 145,700 148,700
Đà Nẵng - PNJ 145,700 148,700
Miền Tây - PNJ 145,700 148,700
Tây Nguyên - PNJ 145,700 148,700
Đông Nam Bộ - PNJ 145,700 148,700
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,570 14,870
Miếng SJC Nghệ An 14,570 14,870
Miếng SJC Thái Bình 14,570 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,530 14,870
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,530 14,870
NL 99.99 13,800
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,700
Trang sức 99.9 14,180 14,780
Trang sức 99.99 14,190 14,790
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,457 14,872
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,457 14,873
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,452 1,482
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,452 1,483
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,427 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,743 145,743
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,761 110,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,456 100,256
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,151 89,951
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,176 85,976
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,739 61,539
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,457 1,487
Cập nhật: 02/09/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18131 18406 19000
CAD 18218 18494 19126
CHF 31569 31949 32610
CNY 0 3834 3932
EUR 29570 29792 30889
GBP 34482 34874 35831
HKD 0 3195 3399
JPY 156 159 167
KRW 0 17 19
NZD 0 15099 15701
SGD 19907 20189 20780
THB 702 765 819
USD (1,2) 25813 0 0
USD (5,10,20) 25853 0 0
USD (50,100) 25881 25895 26275
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,890 25,890 26,270
USD(1-2-5) 24,855 - -
USD(10-20) 24,855 - -
EUR 29,775 29,799 31,209
JPY 159.07 159.36 169
GBP 34,806 34,900 36,105
AUD 18,430 18,497 19,195
CAD 18,477 18,536 19,220
CHF 31,997 32,097 33,041
SGD 20,101 20,164 20,953
CNY - 3,805 3,951
HKD 3,259 3,269 3,406
KRW 17.5 18.25 19.86
THB 754.4 763.72 817.96
NZD 15,205 15,346 15,797
SEK - 2,695 2,790
DKK - 3,994 4,135
NOK - 2,749 2,850
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,047.4 - 6,827.28
TWD 744.85 - 902.38
SAR - 6,827.09 7,191.1
KWD - 82,706 88,002
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,860 25,890 26,270
EUR 29,827 29,947 31,143
GBP 34,830 34,970 36,005
HKD 3,258 3,271 3,388
CHF 31,884 32,012 32,947
JPY 159.62 160.26 168.24
AUD 18,424 18,498 19,096
SGD 20,166 20,247 20,845
THB 772 775 812
CAD 18,490 18,564 19,158
NZD 15,283 15,831
KRW 18.09 20.07
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25896 25896 26250
AUD 18401 18501 19423
CAD 18453 18553 19567
CHF 32005 32035 33625
CNY 3816.1 3841.1 3976.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29872 29902 31627
GBP 34879 34929 36692
HKD 0 3330 0
JPY 159.62 160.12 170.66
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15297 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20117 20247 20971
THB 0 735.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14720000 14720000 15020000
SBJ 13000000 13000000 15020000
Cập nhật: 02/09/2026 21:00
Ngân hàng