Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động đã đồng loạt hạ nhiệt sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, nhưng đà giảm đang có dấu hiệu chững lại sau khoảng 01 tháng gần đây. Hiện Agribank dẫn đầu nhóm “big 4” về lãi suất huy động kỳ hạn ngắn, trong khi MB nổi bật ở kỳ hạn dài 24 tháng. Các ngân hàng vẫn duy trì lãi suất tiền gửi online ở vùng cao sau khi cộng thêm lãi suất hấp dẫn.
aa

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Hơn 12,9 triệu tỷ đồng đổ vào ngân hàng, nhóm nhận chuyển giao “0 đồng” thành “nam châm” hút vốn Thị trường tiền tệ tuần 11 - 15/5: Tỷ giá trung tâm chạm đỉnh 4 tháng, lãi suất liên ngân hàng neo vùng cao 6 - 7%

Agribank nổi bật trong nhóm “big 4”, MB vượt trội ở kỳ hạn 24 tháng

Khảo sát biểu lãi suất niêm yết ngày 18/5 cho thấy, sau cuộc họp giữa Thống đốc Ngân hàng Nhà nước và lãnh đạo 46 ngân hàng thương mại ngày 9/4, mặt bằng lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng - kỳ hạn được nhiều người dân lựa chọn gửi tiết kiệm - đã giảm tại nhiều nhà băng. Mức điều chỉnh phổ biến dao động từ 5 - 60 điểm cơ bản. Tuy nhiên, đà giảm hiện có dấu hiệu chững lại khi phần lớn ngân hàng chỉ điều chỉnh giảm 01 lần trong hơn 01 tháng qua, trước khi duy trì mặt bằng lãi suất gần như đi ngang đến nay.

Trong bối cảnh các ngân hàng giảm lãi suất theo hiệu lệnh nhà điều hành, ở nhóm “big 4”, Agribank hiện niêm yết lãi suất cao nhất tại kỳ hạn 1 - 6 tháng, lần lượt ở mức 2,6%/năm; 2,9%/năm và 4%/năm. Trong khi đó, ở kỳ hạn 12 - 24 tháng, cả 4 ngân hàng quốc doanh đều niêm yết quanh 5,9 - 6%/năm, không có sự cạnh tranh nào về mặt lãi suất.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026
Đồ họa: Ánh Tuyết.
Tại kỳ hạn 24 tháng, MB đang dẫn đầu và thậm chí cao hơn cả các nhóm ngân hàng thương mại nhỏ và vừa, với lãi suất 7,2%/năm. Ở nhóm quy mô nhỏ hơn, MBV dẫn đầu với lãi suất niêm yết 7%/năm; PGBank, OCB và Sacombank cùng ở mức 6,8%/năm; BacABank 6,75%/năm; NCB 6,7%/năm...

Ở nhóm ngân hàng tư nhân lớn, VPBank đang dẫn đầu kỳ hạn 1 tháng với 4,45%/năm; kỳ hạn 3 tháng với 4,65%/năm. Techcombank niêm yết lãi suất cao nhất tại kỳ hạn 6 tháng với 5,95%/năm.

Đáng chú ý, MB hiện dẫn đầu kỳ hạn 12 tháng và 24 tháng, với mức 6,3%/năm và 7,2%/năm, cao nhất trong nhóm ngân hàng thương mại lớn.

Với các ngân hàng còn lại, tại kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng, nhiều ngân hàng thương mại đang niêm yết mức cao sát trần 4,75%/năm. Trong đó, PGBank, BVBank, OCB, Saigonbank, SACOMBANK, CIMB, PublicBank, PVcomBank cùng niêm yết 4,75%/năm ở cả hai kỳ hạn. Riêng VIB, VietABank và NCB cũng áp dụng mức 4,75%/năm tại kỳ hạn 3 tháng. Bên cạnh đó, UOB niêm yết 4,73%/năm cho kỳ hạn 1 tháng và 3 tháng, gần sát trần.

Ở kỳ hạn 6 tháng, nhóm ngân hàng có lãi suất cao nhất gồm Hong Leong Bank với 7,3%/năm, BacABank 6,85%/năm, PGBank đứng top ba khi trả lãi suất 6,6%/năm; MBV và VCBNeo cùng 6,5%/năm; BVBank 6,45%/năm; OCB và Saigonbank cùng 6,4%/năm.

Nhiều ngân hàng hiện vẫn áp dụng mức cộng thêm 1 - 2 điểm phần trăm cho tiền gửi online, đẩy lãi suất thực nhận lên vùng cao.

Đà giảm lãi suất chững lại gần 1 tháng qua

Trong báo cáo mới phát hành, Công ty cổ phần Chứng khoán MB (MBS) đánh giá việc các ngân hàng nhanh chóng hạ lãi suất huy động cho thấy tín hiệu đồng thuận của hệ thống ngân hàng trong việc thực hiện chủ trương giảm mặt bằng lãi suất nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, mặt bằng lãi suất huy động hiện vẫn neo ở mức cao do đã tăng mạnh trong quý I/2026. Bình quân lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng của các ngân hàng thương mại ở mức 8,31%/năm, cao hơn 2,53 điểm phần trăm so với đầu năm.

Thống kê của MBS cho thấy, đến cuối tháng 4/2026, lãi suất huy động kỳ hạn 12 tháng bình quân của nhóm ngân hàng thương mại quy mô lớn ở mức 8,16%/năm, mới giảm 25 điểm cơ bản so với trước chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Trong khi đó, nhóm ngân hàng thương mại quy mô vừa và nhỏ ở mức 8,45%/năm, giảm 29 điểm cơ bản.

Top ngân hàng có lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 5/2026

Sau đợt giảm lãi suất đồng loạt theo hiệu lệnh nhà điều hành, lãi suất huy động gần như đi ngang, ít chuyển động tại các ngân hàng.

Áp lực lạm phát cản đà giảm lãi suất

Nhóm phân tích VNDirect kỳ vọng lãi suất các chương trình ưu đãi giảm thêm khoảng 0,5 - 1 điểm phần trăm. Tuy nhiên, lãi suất niêm yết khó giảm sâu hơn trong bối cảnh lạm phát bình quân đang tiến sát mốc 4%. Nếu giá dầu thế giới tiếp tục duy trì trên 100 USD/thùng, lạm phát bình quân cả năm có thể vượt 5%, khiến dư địa điều hành chính sách tiền tệ bị thu hẹp đáng kể.

Theo quan sát từ Công ty cổ phần Chứng khoán VnDirect, lãi suất huy động theo các chương trình ưu đãi cũng có xu hướng chững lại nhưng vẫn ở mức cao, khoảng 7,5 - 8%/năm tại các ngân hàng quốc doanh và lên tới 8,9%/năm tại một số ngân hàng tư nhân.

Ở chiều cho vay, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, lãi suất cho vay bình quân của các ngân hàng thương mại trong nước đến tháng 3/2026 ở mức 7,4 - 9,7%/năm, tăng 0,3 điểm phần trăm so với tháng trước và tăng 0,7 điểm phần trăm so với cuối năm 2025.

Diễn biến thực tế cho thấy, tại kỳ hạn 6 tháng, VPBank là ngân hàng giảm lãi suất mạnh nhất sau cuộc họp ngày 9/4 giữa Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại. Hiện ngân hàng này niêm yết lãi suất 5,8%/năm, thấp hơn 0,6 điểm phần trăm so với trước đó, sau hai lần điều chỉnh giảm liên tiếp gồm giảm 0,5 điểm phần trăm ngay sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước và giảm thêm 0,1 điểm phần trăm sau đó. Tuy nhiên, gần một tháng trở lại đây, VPBank không tiếp tục điều chỉnh lãi suất niêm yết.

Dù đã giảm khá mạnh, mặt bằng lãi suất hiện tại của VPBank vẫn cao hơn khoảng 1 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, do toàn hệ thống ngân hàng đã bước vào chu kỳ tăng mạnh lãi suất huy động từ cuối quý III năm ngoái.

Trong khi đó, HDBank hiện niêm yết 4,9%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với trước ngày 9/4 và là một trong số ít ngân hàng vẫn duy trì mặt bằng lãi suất thấp hơn 0,3 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025, bất chấp xu hướng tăng lãi suất huy động diện rộng vừa qua.

Vikki Bank hiện niêm yết 5,9%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với ngày 9/4 nhưng vẫn tăng 0,6 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025. BaoVietBank niêm yết 5,5%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với sau cuộc họp và tăng 0,7 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025. PVcomBank hiện ở mức 5%/năm, giảm 0,5 điểm phần trăm so với ngày 9/4 và tăng 0,8 điểm phần trăm so với cuối quý III/2025.

PublicBank Việt Nam và ACB cùng niêm yết lần lượt 5,8%/năm và 4,5%/năm, đều giảm 0,5 điểm phần trăm...

Ở nhóm giảm nhẹ 0,1 điểm phần trăm, MB hiện niêm yết 4,6%/năm, Standard Chartered 3,76%/năm, NCB 6,2%/năm, VCBNeo 6,5%/năm, Shinhan Bank 4,4%/năm, Saigonbank 6,4%/năm...

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

MoMoCare và dấu ấn đổi mới của Chubb Life Việt Nam trong hành trình bảo hiểm số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại hạng mục “Sáng kiến Đổi mới Sản phẩm Bảo hiểm của năm tại Việt Nam” (Insurance Product Innovation of the Year - Vietnam) trong khuôn khổ Giải thưởng Bảo hiểm châu Á 2026 (Insurance Asia Awards 2026) với sản phẩm MoMoCare | Bảo hiểm Sức khỏe+ (MoMoCare). Giải thưởng ghi nhận nỗ lực của Chubb Life Việt Nam trong việc đổi mới trải nghiệm bảo hiểm, giúp khách hàng tiếp cận giải pháp bảo vệ một cách đơn giản, nhanh chóng và thuận tiện hơn.
Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

Hệ sinh thái ngân hàng tạo sức bật cho bancassurance

(TBTCO) - Kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) tiếp tục là trụ cột tăng trưởng của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có ngân hàng mẹ hậu thuẫn. Tuy nhiên, để tận dụng dư địa và phát triển bền vững kênh này, doanh nghiệp cần đặt chất lượng tư vấn và tính minh bạch lên hàng đầu.
LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

LPBank lập "cú đúp" tại HR Asia 2026: Khi chiến lược phát triển con người trở thành lợi thế cạnh tranh

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) vừa được HR Asia Awards 2026 vinh danh ở hai hạng mục danh giá gồm “Nơi làm việc tốt nhất châu Á 2026” và “Doanh nghiệp Dẫn đầu công nghệ 2026”. Cú đúp giải thưởng ghi nhận những nỗ lực nổi bật của LPBank trong xây dựng văn hóa doanh nghiệp, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy chuyển đổi số toàn diện.
Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

Giá vàng hôm nay ngày 12/7: Vàng miếng đi ngang, vàng nhẫn giảm tại một số doanh nghiệp

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước hầu như đi ngang, phổ biến ở mức 149,9 triệu đồng/lượng chiều bán ra, trong khi một số thương hiệu điều chỉnh giảm giá vàng nhẫn.
Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

Tỷ giá USD hôm nay (11/7): Tỷ giá trung tâm nối dài chuỗi tăng, chờ CPI Mỹ tháng 6 phát tín hiệu cho Fed

(TBTCO) - Sáng 11/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở 25.214 đồng, tăng 8 đồng trong cả tuần, nối dài chuỗi tăng lên 8 tuần liên tiếp. Trong khi đó, chỉ số DXY tăng nhẹ 0,03%, lên 100,97 điểm. Tuần tới, thị trường sẽ hướng sự chú ý đến chỉ số CPI tháng 6 của Mỹ và phiên điều trần của Chủ tịch Fed Kevin Warsh để tìm thêm tín hiệu về lộ trình lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 11/7: Vàng thế giới giữ trên 4.120 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 11/7: Vàng thế giới giữ trên 4.120 USD/ounce, vàng trong nước tăng tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch trên ngưỡng 4.120 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều thương hiệu, với mức điều chỉnh cao nhất lên tới 1 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Kim TT/AVPL 14,300 14,650 ▼30K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 14,650 ▼30K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼100K 13,300 ▼100K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼100K 13,250 ▼100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,600 ▼100K 14,100 ▼100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,550 ▼100K 14,050 ▼100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,480 ▼100K 14,030 ▼100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Hà Nội - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Miền Tây - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 ▲300K 147,000 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▼90K 14,750 ▼90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,320 ▼30K 14,670 ▼30K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,860 ▼30K 14,560 ▼30K
Trang sức 99.99 13,870 ▼30K 14,570 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▼9K 14,752 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▼9K 14,753 ▼90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,435 ▼9K 147 ▼1332K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,435 ▼9K 1,471 ▲1323K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 141 ▼1278K 145 ▼1314K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,564 ▼891K 143,564 ▼891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼675K 108,911 ▼675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,896 ▼80676K 9,876 ▼89496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,809 ▼549K 88,609 ▼549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,893 ▼525K 84,693 ▼525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,821 ▼375K 60,621 ▼375K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▼9K 1,475 ▼9K
Cập nhật: 14/07/2026 14:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17664 17937 18518
CAD 18045 18320 18934
CHF 31605 31985 32627
CNY 0 3832 3924
EUR 29269 29489 30567
GBP 34277 34668 35599
HKD 0 3218 3420
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14895 15480
SGD 19763 20044 20610
THB 699 762 815
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26026 0 0
USD (50,100) 26055 26069 26429
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,389 29,413 30,814
JPY 157.33 157.61 167.11
GBP 34,436 34,529 35,713
AUD 17,832 17,896 18,572
CAD 18,216 18,274 18,944
CHF 31,841 31,940 32,880
SGD 19,864 19,926 20,709
CNY - 3,798 3,944
HKD 3,283 3,293 3,431
KRW 16.21 16.9 18.39
THB 747.41 756.64 810.27
NZD 14,840 14,978 15,420
SEK - 2,656 2,751
DKK - 3,932 4,070
NOK - 2,640 2,734
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,013.38 - 6,789.76
TWD 736.1 - 891.68
SAR - 6,874 7,239.79
KWD - 83,037 88,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,346 29,464 30,654
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 31,699 31,826 32,746
JPY 157.68 158.31 166.21
AUD 17,822 17,894 18,487
SGD 19,941 20,021 20,608
THB 764 767 803
CAD 18,230 18,303 18,876
NZD 14,926 15,469
KRW 16.82 18.61
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26070 26070 26430
AUD 17849 17949 18872
CAD 18224 18324 19339
CHF 31848 31878 33452
CNY 3812.4 3837.4 3972.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29446 29476 31199
GBP 34570 34620 36373
HKD 0 3355 0
JPY 158.21 158.71 169.22
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15001 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19914 20044 20772
THB 0 728.1 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14450000 14450000 14750000
SBJ 13000000 13000000 14750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,090 26,140 26,450
USD20 26,090 26,140 26,450
USD1 26,090 26,140 26,450
AUD 17,877 17,977 19,085
EUR 29,260 29,360 31,016
CAD 18,169 18,269 19,577
SGD 19,981 20,131 20,820
JPY 158.74 160.24 165.77
GBP 34,473 34,623 35,685
XAU 14,378,000 0 14,682,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 763 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/07/2026 14:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80