"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
aa

Bảo Việt Nhân thọ giữ ngôi đầu, Techcom Life tăng tốc lọt top 5

Bản tin thị trường bảo hiểm toàn cầu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35.142 tỷ đồng, tăng 1,13% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 19.002 tỷ đồng, giảm 5,27%.

Trong đó, tổng doanh thu phí khai thác mới của khối bảo hiểm nhân thọ 2 tháng đầu năm ước đạt hơn 2.735 tỷ đồng, giảm 12,57% cùng kỳ. Diễn biến thị phần cho thấy cuộc cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm nhân thọ ngày càng quyết liệt. Bảo Việt Nhân thọ vẫn giữ vị trí dẫn đầu, song thị phần liên tục thu hẹp, từ 21,42% của cả năm 2025 xuống còn 18,3% lũy kế 2 tháng đầu năm. Trong khi đó, Generali gây chú ý khi tăng tốc mạnh trong tháng 1 với thị phần 17,07%, vươn lên nhóm dẫn đầu thị trường, trước khi giảm còn 11,5% sau 2 tháng nhưng vẫn duy trì vị thế cao.

Nguồn: Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm. Đồ họa: Ánh Tuyết

Dai-ichi Life và AIA tiếp tục duy trì sự ổn định trong nhóm top đầu quanh 11 - 12%. Trong khi đó, Techcom Life nổi lên là nhân tố đáng chú ý lọt top 5 toàn ngành với doanh thu phí khai thác mới, tăng từ 7,08% trong tháng 1 lên 8,3% trong tháng 2, vượt nhiều doanh nghiệp ngoại lâu năm như: Prudential, Manulife...

Trong khi đó, MB Life, Prudential và Manulife duy trì thị phần tương đối ổn định quanh mức 6 - 7%.

Xét theo thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ, Bảo Việt Nhân thọ tiếp tục dẫn đầu với 23,5%, theo sau là Manulife (17,4%), Dai-ichi Life (11,8%), AIA (11,6%) và Prudential (11,4%). Các doanh nghiệp còn lại như: Generali, FWD, MB Ageas, Hanwha, Cathay, Sun Life hay Techcom Life chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, nhưng cạnh tranh ngày càng quyết liệt.

Doanh nghiệp kỳ vọng chu kỳ tăng trưởng mới

Trao đổi với báo chí gần đây, ông Jens Lottner - Tổng Giám đốc Techcombank nhấn mạnh, mục tiêu của Techcombank là xây dựng sự kết nối giữa các dịch vụ tài chính, đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm, để khách hàng có thể tiếp cận toàn bộ giải pháp thuận tiện và xuyên suốt hơn.

Theo ông Jens Lottner, mô hình hệ sinh thái tài chính ngày càng quan trọng, bởi nhu cầu của khách hàng thường không thể được giải quyết chỉ bằng một sản phẩm đơn lẻ. Ông Jens Lottner dẫn chứng, khi đi khám sức khỏe, khách hàng có thể cần đồng thời bảo hiểm, dịch vụ thanh toán, thậm chí cả khoản vay để chi trả chi phí phát sinh. Bên cạnh đó, trải nghiệm liền mạch cũng là yếu tố then chốt. Nếu khách hàng phải làm việc với nhiều đơn vị khác nhau cho từng dịch vụ, họ sẽ phải lặp lại thông tin và mất nhiều thời gian xử lý.

Kỳ vọng tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm nhân thọ nâng lên 20 - 30%

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng Giám đốc Techcombank đánh giá, tiềm năng thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam vẫn còn rất lớn, khi tỷ lệ sử dụng sản phẩm bảo hiểm hiện mới khoảng 7 - 8%. Cùng với xu hướng thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng lên 6.000 USD/người, tỷ lệ sử dụng các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có xu hướng gia tăng, tương tự nhiều quốc gia có mức thu nhập tương đồng. Mức độ thâm nhập của bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hoàn toàn có thể đạt 20 - 30% trong vài năm tới, giải quyết vấn đề quy mô của thị trường.

Nhờ hiểu rõ dữ liệu và hành vi khách hàng, Techcombank có thể chấp nhận những rủi ro mà nhiều đối tác khác còn dè dặt, qua đó, mở rộng đáng kể quy mô phát hành bảo hiểm. Ngoài ra, hiện 95% hợp đồng bảo hiểm được phát hành hoàn toàn trên nền tảng số, với thời gian xử lý chỉ khoảng 5 phút.

“Chúng tôi đã tăng gấp đôi thị phần trong lĩnh vực bancassurance, từ khoảng 9% cuối năm 2025 lên 21% hiện nay. Dù mới tham gia thị trường khoảng 3 tháng, doanh thu từ hợp đồng bảo hiểm khai thác mới đã vươn lên vị trí thứ 5 toàn ngành và đang hướng tới nhóm top 3” - Tổng Giám đốc Techcombank nêu rõ.

Là một trong số các ngân hàng sở hữu cả hai doanh nghiệp bảo hiểm trong hệ sinh thái, bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính MB cũng nhấn mạnh, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là một mảng rất quan trọng của MB, ngân hàng hiện sở hữu hai công ty bảo hiểm và xác định đây sẽ là hai “engine” (động cơ) tạo nguồn thu dịch vụ cho MB.

Theo bà Nga, hiện đã có hơn 10.000 khách hàng phát sinh giao dịch mua bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm của MB. Doanh thu bảo hiểm đạt khoảng 9.331 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng khá ấn tượng.

Cùng chung quan điểm, theo ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Khối Ngân hàng bán lẻ thuộc ngân hàng Techcombank, giai đoạn 2023 - 2024 là thời kỳ gặp khó khăn của thị trường bảo hiểm nhân thọ sau giai đoạn tăng trưởng nhanh trước đó, khi nhiều sản phẩm, dịch vụ chưa thực sự phù hợp với nhu cầu, thu nhập của khách hàng; trong khi trải nghiệm tư vấn, mua bảo hiểm và dịch vụ sau bán hàng chưa được đảm bảo đầy đủ.

Ông Tuấn cho biết, Techcom Life bắt đầu thử nghiệm sản phẩm từ tháng 10 - 11/2025 và chính thức triển khai diện rộng từ quý I/2026, doanh nghiệp đã ghi nhận những kết quả ban đầu rất tích cực. Tuy nhiên, theo ông Tuấn, đây mới chỉ là bước khởi đầu. Không chỉ hướng đến về doanh số, chúng tôi hướng đến gắn kết lâu dài và sự hài lòng khách hàng” - lãnh đạo Techcombank nhấn mạnh.

Trong năm 2026, Techcombank xác định tập trung trước tiên vào kênh bancassurance, vốn là thế mạnh của ngân hàng nhiều năm qua, về dài hạn sẽ mở rộng thêm các kênh đại lý. Kết hợp với nền tảng dữ liệu và khả năng am hiểu khách hàng, Techcom Life sẽ đầu tư mạnh về hạ tầng công nghệ ngay từ đầu.

Bảo hiểm liên kết đầu tư áp đảo doanh thu, tử kỳ dẫn đầu số hợp đồng mới

Về cơ cấu sản phẩm, số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, bảo hiểm liên kết đầu tư tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất, đóng góp 60,3% doanh thu phí khai thác mới hai tháng đầu năm. Tiếp theo là bảo hiểm tử kỳ với 6,11%, bảo hiểm hỗn hợp 5,99%; các nghiệp vụ còn lại như bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm hưu trí hay bảo hiểm sức khỏe chỉ chiếm khoảng 0,53%. Ngoài ra, doanh thu từ sản phẩm bảo hiểm bán kèm đóng góp tới 27,07% doanh thu khai thác mới toàn thị trường.

Về số lượng hợp đồng, toàn thị trường ghi nhận 194.253 hợp đồng khai thác mới. Trong đó, bảo hiểm tử kỳ dẫn đầu với 94.677 hợp đồng, chiếm 48,74%; tiếp theo là bảo hiểm liên kết đầu tư với 81.344 hợp đồng, tương đương 41,88%; bảo hiểm hỗn hợp đạt 10.311 hợp đồng, chiếm 5,31%. Các nghiệp vụ còn lại chiếm khoảng 4,08%.

Một chuyên gia cho rằng bảo hiểm tử kỳ tăng mạnh nhờ phí thấp, dễ tiếp cận và đáp ứng nhu cầu bảo vệ thuần túy, thay vì đầu tư, đặc biệt sau giai đoạn thị trường chịu nhiều biến động.

Như vậy, tính chung đến cuối tháng 2/2026, số lượng hợp đồng có hiệu lực trên toàn thị trường (không bao gồm sản phẩm bảo hiểm bán kèm) đạt 11,37 triệu hợp đồng, giảm 3,36% cùng kỳ. Trong cơ cấu tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm liên kết đầu tư tiếp tục chiếm ưu thế với tỷ trọng 72,4%, tiếp theo là bảo hiểm hỗn hợp 12,3%, trong khi doanh thu từ sản phẩm bán kèm đóng góp khoảng 13,8% tổng doanh thu phí toàn thị trường.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

SeABank công bố Khung Tài chính bền vững

SeABank công bố Khung Tài chính bền vững

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức công bố Khung Tài chính bền vững (Sustainable Finance Framework), được S&P Global Ratings đánh giá ý kiến độc lập (Second Party Opinion - SPO) ngày 24/09/2026. Đây là cơ sở để SeABank mở rộng huy động và phân bổ hiệu quả nguồn vốn cho các mục tiêu phát triển bền vững theo cam kết.
Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

Daiichi Life Việt Nam: Top 500 doanh nghiệp lợi nhuận tốt nhất và Top 50 doanh nghiệp lợi nhuận xuất sắc Việt Nam 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) tiếp tục được vinh danh trong “Top 500 Doanh nghiệp Lợi nhuận tốt nhất Việt Nam 2026” (PROFIT500 2026) và “Top 50 Doanh nghiệp Lợi nhuận Xuất sắc Việt Nam 2026” tại Lễ công bố Bảng xếp hạng PROFIT500 do Vietnam Report phối hợp cùng Báo VietNamNet tổ chức và trao giải.
Tỷ giá USD hôm nay 26/10: DXY suy yếu trước quyết định lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay 26/10: DXY suy yếu trước quyết định lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương

(TBTCO) - Sáng 26/10, tỷ giá trung tâm giữ nguyên ở mức 25.627 đồng, trong khi USD ngân hàng và thị trường tự do cùng tăng. Chỉ số DXY giảm 0,19%, xuống 101,62 điểm. Đồng bạc xanh chịu áp lực trước thềm các cuộc họp chính sách tiền tệ trong tuần này, khi ba ngân hàng trung ương lớn đều được dự báo giữ nguyên lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 26/10: Giá vàng thế giới duy trì dưới 4.000 USD, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới dao động quanh 3.998 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước biến động trái chiều giữa các thương hiệu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/10: Vàng miếng, vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/10: Vàng miếng, vàng nhẫn giảm 300.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục duy trì dưới mốc 4.000 USD/ounce. Bên cạnh đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng tiếp tục giảm 300.000 đồng/lượng.
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 19 - 23/10 ghi nhận, Ngân hàng Nhà nước chỉ bơm vốn "nhỏ giọt" trong 2 phiên, qua đó hút ròng gần 10.000 tỷ đồng, đưa lượng OMO lưu hành xuống đáy hơn 1 năm. Dù vậy, lãi suất qua đêm vẫn tương đối ổn định quanh 3-4%, trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

Từ ngày 22 - 24/10, tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế về Ngân hàng và Tài chính Việt Nam 2026 (Vietnam Symposium in Banking and Finance 2026 - VSBF 2026) diễn ra, với sự phối hợp tổ chức của Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), Học viện Ngân hàng, Hiệp hội Quốc tế về Phát triển Kinh tế Tài chính (ISAFE) và Đại học Massey.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Hà Nội - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Miền Tây - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 137,600 ▼400K 140,600 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,170
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,170
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,170
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,690 ▼30K 14,090 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,690 ▼30K 14,090 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,690 ▼30K 14,090 ▼30K
Trang sức 99.9 13,370 ▼30K 13,970 ▼30K
Trang sức 99.99 13,380 ▼30K 13,980 ▼30K
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,060 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 14,172
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 14,173
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cập nhật: 26/10/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17643 17916 18488
CAD 17909 18184 18798
CHF 30647 31023 31662
CNY 0 3833 3928
EUR 28335 28552 29628
GBP 33698 34087 35016
HKD 0 3163 3365
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14388 14974
SGD 19650 19931 20506
THB 680 743 796
USD (1,2) 25582 0 0
USD (5,10,20) 25620 0 0
USD (50,100) 25647 25661 26025
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,660 25,660 26,040
USD(1-2-5) 24,634 - -
USD(10-20) 24,634 - -
EUR 28,408 28,431 29,783
JPY 159.86 160.15 169.83
GBP 33,887 33,979 35,152
AUD 17,851 17,915 18,602
CAD 18,101 18,159 18,830
CHF 30,911 31,007 31,927
SGD 19,777 19,838 20,627
CNY - 3,802 3,948
HKD 3,228 3,238 3,374
KRW 17.99 18.76 20.41
THB 729.12 738.13 790.39
NZD 14,386 14,520 14,955
SEK - 2,557 2,649
DKK - 3,811 3,945
NOK - 2,718 2,817
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,911.57 - 6,671.42
TWD 715.73 - 867.19
SAR - 6,769.14 7,131.37
KWD - 81,652 86,892
AED - 6,782 7,309
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,620 25,650 26,030
EUR 28,399 28,542 29,771
GBP 33,935 34,106 35,141
HKD 3,221 3,240 3,358
CHF 30,814 30,969 31,915
JPY 159.70 161.31 169.29
AUD 17,781 17,906 18,504
SGD 19,769 19,949 20,547
THB 734 749 786
CAD 18,069 18,196 18,794
NZD 14,483 15,041
KRW 18.86 20.84
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25670 26030
AUD 17810 17910 18833
CAD 18082 18182 19194
CHF 30907 30937 32518
CNY 3815.9 3840.9 3976.3
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28509 28539 30264
GBP 34019 34069 35824
HKD 0 3300 0
JPY 160.93 161.43 171.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14504 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19822 19952 20674
THB 0 708.8 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13950000 13950000 14300000
SBJ 12500000 12500000 14300000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,556 25,676 25,970
USD20 25,526 25,676 25,970
USD1 25,506 25,676 25,970
AUD 17,747 17,897 19,069
EUR 28,310 28,410 30,066
CAD 18,030 18,130 19,435
SGD 19,902 20,052 20,606
JPY 161.4 162.9 168.48
GBP 33,917 34,067 35,129
XAU 13,868,000 0 14,172,000
CNY 0 3,796 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/10/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30