"Tân binh" tăng vốn, thị phần bảo hiểm nhân thọ biến động mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm nhân thọ hai tháng đầu năm 2026 ghi nhận doanh thu khai thác mới giảm hơn 12%, nhưng cuộc đua thị phần ngày càng sôi động, với sự nổi lên của “tân binh”.
aa

Bảo Việt Nhân thọ giữ ngôi đầu, Techcom Life tăng tốc lọt top 5

Bản tin thị trường bảo hiểm toàn cầu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm (Bộ Tài chính) cho thấy, tổng doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 2 tháng đầu năm 2026 ước đạt 35.142 tỷ đồng, tăng 1,13% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ ước đạt 19.002 tỷ đồng, giảm 5,27%.

Trong đó, tổng doanh thu phí khai thác mới của khối bảo hiểm nhân thọ 2 tháng đầu năm ước đạt hơn 2.735 tỷ đồng, giảm 12,57% cùng kỳ. Diễn biến thị phần cho thấy cuộc cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm nhân thọ ngày càng quyết liệt. Bảo Việt Nhân thọ vẫn giữ vị trí dẫn đầu, song thị phần liên tục thu hẹp, từ 21,42% của cả năm 2025 xuống còn 18,3% lũy kế 2 tháng đầu năm. Trong khi đó, Generali gây chú ý khi tăng tốc mạnh trong tháng 1 với thị phần 17,07%, vươn lên nhóm dẫn đầu thị trường, trước khi giảm còn 11,5% sau 2 tháng nhưng vẫn duy trì vị thế cao.

Nguồn: Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm. Đồ họa: Ánh Tuyết

Dai-ichi Life và AIA tiếp tục duy trì sự ổn định trong nhóm top đầu quanh 11 - 12%. Trong khi đó, Techcom Life nổi lên là nhân tố đáng chú ý lọt top 5 toàn ngành với doanh thu phí khai thác mới, tăng từ 7,08% trong tháng 1 lên 8,3% trong tháng 2, vượt nhiều doanh nghiệp ngoại lâu năm như: Prudential, Manulife...

Trong khi đó, MB Life, Prudential và Manulife duy trì thị phần tương đối ổn định quanh mức 6 - 7%.

Xét theo thị phần tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ, Bảo Việt Nhân thọ tiếp tục dẫn đầu với 23,5%, theo sau là Manulife (17,4%), Dai-ichi Life (11,8%), AIA (11,6%) và Prudential (11,4%). Các doanh nghiệp còn lại như: Generali, FWD, MB Ageas, Hanwha, Cathay, Sun Life hay Techcom Life chiếm tỷ trọng nhỏ hơn, nhưng cạnh tranh ngày càng quyết liệt.

Doanh nghiệp kỳ vọng chu kỳ tăng trưởng mới

Trao đổi với báo chí gần đây, ông Jens Lottner - Tổng Giám đốc Techcombank nhấn mạnh, mục tiêu của Techcombank là xây dựng sự kết nối giữa các dịch vụ tài chính, đặc biệt trong lĩnh vực bảo hiểm, để khách hàng có thể tiếp cận toàn bộ giải pháp thuận tiện và xuyên suốt hơn.

Theo ông Jens Lottner, mô hình hệ sinh thái tài chính ngày càng quan trọng, bởi nhu cầu của khách hàng thường không thể được giải quyết chỉ bằng một sản phẩm đơn lẻ. Ông Jens Lottner dẫn chứng, khi đi khám sức khỏe, khách hàng có thể cần đồng thời bảo hiểm, dịch vụ thanh toán, thậm chí cả khoản vay để chi trả chi phí phát sinh. Bên cạnh đó, trải nghiệm liền mạch cũng là yếu tố then chốt. Nếu khách hàng phải làm việc với nhiều đơn vị khác nhau cho từng dịch vụ, họ sẽ phải lặp lại thông tin và mất nhiều thời gian xử lý.

Kỳ vọng tỷ lệ thâm nhập bảo hiểm nhân thọ nâng lên 20 - 30%

Ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng Giám đốc Techcombank đánh giá, tiềm năng thị trường bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam vẫn còn rất lớn, khi tỷ lệ sử dụng sản phẩm bảo hiểm hiện mới khoảng 7 - 8%. Cùng với xu hướng thu nhập bình quân đầu người tiếp tục tăng lên 6.000 USD/người, tỷ lệ sử dụng các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ có xu hướng gia tăng, tương tự nhiều quốc gia có mức thu nhập tương đồng. Mức độ thâm nhập của bảo hiểm nhân thọ tại Việt Nam hoàn toàn có thể đạt 20 - 30% trong vài năm tới, giải quyết vấn đề quy mô của thị trường.

Nhờ hiểu rõ dữ liệu và hành vi khách hàng, Techcombank có thể chấp nhận những rủi ro mà nhiều đối tác khác còn dè dặt, qua đó, mở rộng đáng kể quy mô phát hành bảo hiểm. Ngoài ra, hiện 95% hợp đồng bảo hiểm được phát hành hoàn toàn trên nền tảng số, với thời gian xử lý chỉ khoảng 5 phút.

“Chúng tôi đã tăng gấp đôi thị phần trong lĩnh vực bancassurance, từ khoảng 9% cuối năm 2025 lên 21% hiện nay. Dù mới tham gia thị trường khoảng 3 tháng, doanh thu từ hợp đồng bảo hiểm khai thác mới đã vươn lên vị trí thứ 5 toàn ngành và đang hướng tới nhóm top 3” - Tổng Giám đốc Techcombank nêu rõ.

Là một trong số các ngân hàng sở hữu cả hai doanh nghiệp bảo hiểm trong hệ sinh thái, bà Nguyễn Thị Thanh Nga - Giám đốc Tài chính MB cũng nhấn mạnh, hoạt động kinh doanh bảo hiểm là một mảng rất quan trọng của MB, ngân hàng hiện sở hữu hai công ty bảo hiểm và xác định đây sẽ là hai “engine” (động cơ) tạo nguồn thu dịch vụ cho MB.

Theo bà Nga, hiện đã có hơn 10.000 khách hàng phát sinh giao dịch mua bảo hiểm từ các công ty bảo hiểm của MB. Doanh thu bảo hiểm đạt khoảng 9.331 tỷ đồng, ghi nhận mức tăng trưởng khá ấn tượng.

Cùng chung quan điểm, theo ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Khối Ngân hàng bán lẻ thuộc ngân hàng Techcombank, giai đoạn 2023 - 2024 là thời kỳ gặp khó khăn của thị trường bảo hiểm nhân thọ sau giai đoạn tăng trưởng nhanh trước đó, khi nhiều sản phẩm, dịch vụ chưa thực sự phù hợp với nhu cầu, thu nhập của khách hàng; trong khi trải nghiệm tư vấn, mua bảo hiểm và dịch vụ sau bán hàng chưa được đảm bảo đầy đủ.

Ông Tuấn cho biết, Techcom Life bắt đầu thử nghiệm sản phẩm từ tháng 10 - 11/2025 và chính thức triển khai diện rộng từ quý I/2026, doanh nghiệp đã ghi nhận những kết quả ban đầu rất tích cực. Tuy nhiên, theo ông Tuấn, đây mới chỉ là bước khởi đầu. Không chỉ hướng đến về doanh số, chúng tôi hướng đến gắn kết lâu dài và sự hài lòng khách hàng” - lãnh đạo Techcombank nhấn mạnh.

Trong năm 2026, Techcombank xác định tập trung trước tiên vào kênh bancassurance, vốn là thế mạnh của ngân hàng nhiều năm qua, về dài hạn sẽ mở rộng thêm các kênh đại lý. Kết hợp với nền tảng dữ liệu và khả năng am hiểu khách hàng, Techcom Life sẽ đầu tư mạnh về hạ tầng công nghệ ngay từ đầu.

Bảo hiểm liên kết đầu tư áp đảo doanh thu, tử kỳ dẫn đầu số hợp đồng mới

Về cơ cấu sản phẩm, số liệu từ Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm cho thấy, bảo hiểm liên kết đầu tư tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn nhất, đóng góp 60,3% doanh thu phí khai thác mới hai tháng đầu năm. Tiếp theo là bảo hiểm tử kỳ với 6,11%, bảo hiểm hỗn hợp 5,99%; các nghiệp vụ còn lại như bảo hiểm trọn đời, bảo hiểm hưu trí hay bảo hiểm sức khỏe chỉ chiếm khoảng 0,53%. Ngoài ra, doanh thu từ sản phẩm bảo hiểm bán kèm đóng góp tới 27,07% doanh thu khai thác mới toàn thị trường.

Về số lượng hợp đồng, toàn thị trường ghi nhận 194.253 hợp đồng khai thác mới. Trong đó, bảo hiểm tử kỳ dẫn đầu với 94.677 hợp đồng, chiếm 48,74%; tiếp theo là bảo hiểm liên kết đầu tư với 81.344 hợp đồng, tương đương 41,88%; bảo hiểm hỗn hợp đạt 10.311 hợp đồng, chiếm 5,31%. Các nghiệp vụ còn lại chiếm khoảng 4,08%.

Một chuyên gia cho rằng bảo hiểm tử kỳ tăng mạnh nhờ phí thấp, dễ tiếp cận và đáp ứng nhu cầu bảo vệ thuần túy, thay vì đầu tư, đặc biệt sau giai đoạn thị trường chịu nhiều biến động.

Như vậy, tính chung đến cuối tháng 2/2026, số lượng hợp đồng có hiệu lực trên toàn thị trường (không bao gồm sản phẩm bảo hiểm bán kèm) đạt 11,37 triệu hợp đồng, giảm 3,36% cùng kỳ. Trong cơ cấu tổng doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm liên kết đầu tư tiếp tục chiếm ưu thế với tỷ trọng 72,4%, tiếp theo là bảo hiểm hỗn hợp 12,3%, trong khi doanh thu từ sản phẩm bán kèm đóng góp khoảng 13,8% tổng doanh thu phí toàn thị trường.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

Nới trần vốn ngắn hạn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn

(TBTCO) - Thông tư 25/2026/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước được kỳ vọng giúp giảm áp lực huy động vốn, mở rộng dư địa cho vay trung và dài hạn, qua đó tăng khả năng cung ứng tín dụng cho các dự án hạ tầng, đầu tư quy mô lớn và hỗ trợ thanh khoản hệ thống.
TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

TPBank và Tinh Hà “Say Hi”: Cuộc gặp gỡ của những thương hiệu tiên phong trải nghiệm và phong cách sống

(TBTCO) - Đồng hành cùng Tinh Hà Say Hi với vai trò Nhà tài trợ Kim cương là Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) - luôn được biết đến với hình ảnh “ngân hàng dành cho giới trẻ” và chiến lược “lifestyle banking” - đưa banking đồng hành trong từng hơi thở của nhịp sống hiện đại.
Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

Prudential Việt Nam tiên phong nâng chuẩn đội ngũ tư vấn viên, góp phần xây dựng niềm tin bền vững ngành bảo hiểm

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam (Prudential) chính thức triển khai chiến dịch Be The One - Start As One | Khởi đầu từ vị thế Tiên phong, chương trình tuyển dụng và phát triển thế hệ tư vấn viên mới, nhằm góp phần nâng cao chuẩn mực nghề tư vấn viên tài chính và hướng đến trải nghiệm khách hàng toàn diện hơn.
BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

BVBank trước thềm niêm yết HOSE: Lợi nhuận bứt phá, nợ xấu còn "nặng gánh"

(TBTCO) - HOSE vừa chấp thuận niêm yết hơn 640,8 triệu cổ phiếu BVB của ngân hàng BVBank, mở đường cho kế hoạch chuyển sàn từ UPCoM sang HOSE sau nhiều năm chuẩn bị. Trong bối cảnh đó, BVBank ghi nhận lợi nhuận quý I/2026 tăng 168,8%, nhưng áp lực chất lượng tài sản vẫn hiện hữu khi quy mô nợ xấu gia tăng và nợ có khả năng mất vốn chiếm tỷ trọng cao.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Kim TT/AVPL 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,300 ▼100K 14,600 ▼100K
Nguyên Liệu 99.99 13,100 ▼200K 13,300 ▼200K
Nguyên Liệu 99.9 13,050 ▼200K 13,250 ▼200K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▼200K 14,200 ▼200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▼200K 14,150 ▼200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▼200K 14,130 ▼200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Nghệ An 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
Miếng SJC Thái Bình 14,250 ▼150K 14,620 ▼80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼50K 14,550 ▼50K
NL 99.90 12,900 ▼50K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950 ▼50K
Trang sức 99.9 13,740 ▼50K 14,440 ▼50K
Trang sức 99.99 13,750 ▼50K 14,450 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,432 ▲1288K 14,622 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,432 ▲1288K 14,623 ▼80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,431 ▼8K 1,461 ▼8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,431 ▼8K 1,462 ▲1315K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼8K 1,446 ▼8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,168 ▲122472K 143,168 ▲128772K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,111 ▼600K 108,611 ▼600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,988 ▼544K 98,488 ▼544K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,865 ▼488K 88,365 ▼488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,496 ▼67931K 8,446 ▼76481K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,954 ▼334K 60,454 ▼334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,432 ▲1288K 1,462 ▲1315K
Cập nhật: 25/06/2026 11:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17627 17899 18480
CAD 17975 18250 18865
CHF 31828 32209 32852
CNY 0 3829 3922
EUR 29312 29533 30608
GBP 33912 34301 35232
HKD 0 3228 3430
JPY 156 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14545 15132
SGD 19765 20046 20621
THB 704 767 820
USD (1,2) 26067 0 0
USD (5,10,20) 26108 0 0
USD (50,100) 26136 26151 26456
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,136 26,136 26,456
USD(1-2-5) 25,091 - -
USD(10-20) 25,091 - -
EUR 29,435 29,459 30,794
JPY 158.56 158.85 168.05
GBP 34,096 34,188 35,284
AUD 17,842 17,906 18,537
CAD 18,173 18,231 18,856
CHF 32,067 32,167 33,029
SGD 19,906 19,968 20,699
CNY - 3,797 3,932
HKD 3,295 3,305 3,436
KRW 15.71 16.38 17.77
THB 752.21 761.5 813.84
NZD 14,557 14,692 15,096
SEK - 2,657 2,745
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,629 2,716
LAK - 0.9 1.25
MYR 5,979.03 - 6,738.5
TWD 748.34 - 904.41
SAR - 6,902.61 7,253.07
KWD - 83,317 88,439
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,116 26,136 26,456
EUR 29,333 29,451 30,630
GBP 34,037 34,174 35,183
HKD 3,290 3,303 3,419
CHF 31,856 31,984 32,893
JPY 158.69 159.33 167.11
AUD 17,806 17,878 18,464
SGD 19,942 20,022 20,598
THB 768 771 806
CAD 18,162 18,235 18,794
NZD 14,615 15,144
KRW 16.30 17.91
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26140 26140 26456
AUD 17803 17903 18828
CAD 18148 18248 19261
CHF 32032 32062 33644
CNY 3805.5 3830.5 3966
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29459 29489 31211
GBP 34178 34228 35996
HKD 0 3355 0
JPY 159.32 159.82 170.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14650 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19918 20048 20781
THB 0 732.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14320000 14320000 14620000
SBJ 13000000 13000000 14620000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,160 26,101 26,456
USD20 26,160 26,101 26,456
USD1 23,938 26,101 26,456
AUD 17,876 17,976 19,091
EUR 29,624 29,624 31,046
CAD 18,102 18,202 19,515
SGD 20,013 20,163 20,726
JPY 159.89 161.39 166.02
GBP 34,100 34,450 35,584
XAU 14,398,000 0 14,702,000
CNY 0 3,716 0
THB 0 769 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/06/2026 11:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80