Mở rộng nguồn lực vốn từ xã hội cho các dự án hạ tầng

Thu Hương
(TBTCO) - Nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về phát triển các kênh huy động vốn mới. Dự thảo Nghị định về trái phiếu PPP được kỳ vọng sẽ góp phần giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, mở rộng nguồn lực cho các dự án hạ tầng chiến lược và thúc đẩy vai trò của thị trường vốn.
aa

Giải bài toán vốn dài hạn cho hạ tầng

Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn tăng tốc đầu tư hạ tầng chiến lược với nhu cầu vốn trung và dài hạn rất lớn, việc xây dựng một khung pháp lý riêng cho trái phiếu doanh nghiệp dự án đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) được kỳ vọng sẽ mở thêm kênh dẫn vốn bền vững cho nền kinh tế. Hiện, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định việc chào bán trái phiếu ra công chúng của doanh nghiệp dự án PPP, hướng tới mục tiêu giảm phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng, thúc đẩy vai trò của thị trường vốn trong tài trợ hạ tầng, đồng thời nâng cao tính minh bạch và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư.

Thực tế cho thấy, nhu cầu phát triển các công cụ huy động vốn dài hạn đang trở nên cấp thiết khi Việt Nam đồng thời triển khai nhiều công trình trọng điểm quốc gia như đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, mục tiêu hoàn thành 3.000 km đường bộ cao tốc, hệ thống đường sắt đô thị tại các thành phố lớn, hạ tầng chuyển đổi số, năng lượng, cấp thoát nước và thích ứng biến đổi khí hậu. Đây đều là những dự án có tổng mức đầu tư lớn, thời gian hoàn vốn kéo dài và đòi hỏi nguồn lực tài chính ổn định trong nhiều năm.

Mở rộng nguồn lực vốn từ xã hội cho các dự án hạ tầng
Nhu cầu phát triển cho các dự án hạ tầng đang trở nên cấp thiết (trong ảnh: Dự án Cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng). Ảnh: Đức Thanh

Trong bối cảnh đó, mô hình PPP ngày càng được sử dụng rộng rãi trong các lĩnh vực giao thông, năng lượng, môi trường và y tế nhờ khả năng huy động sự tham gia của khu vực tư nhân vào quá trình đầu tư, xây dựng, vận hành và bảo trì công trình công cộng. Tuy nhiên, đặc thù của các dự án PPP là cần nguồn vốn đầu tư ban đầu lớn trong khi dòng tiền thường hình thành chậm và phụ thuộc vào quá trình khai thác công trình trong tương lai. Điều này khiến bài toán huy động vốn dài hạn trở thành một trong những vấn đề then chốt đối với doanh nghiệp dự án PPP.

Hiện nay, ngoài phần vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ và vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư, phần lớn nguồn vốn của doanh nghiệp dự án PPP vẫn đến từ các khoản vay của tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, việc phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng đang bộc lộ nhiều hạn chế mang tính cơ cấu.

Thúc đẩy vốn dài hạn cho hạ tầng

Dưới góc nhìn của doanh nghiệp, chia sẻ với phóng viên, ông Ngọ Trường Nam - Tổng Giám đốc, Công ty cổ phần Đầu tư hạ tầng giao thông Đèo Cả (HHV) cho biết, để thị trường trái phiếu doanh nghiệp trở thành kênh dẫn vốn bền vững cho hạ tầng giao thông, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý cho các công cụ huy động vốn dài hạn như trái phiếu dự án, quỹ đầu tư hạ tầng. Đồng thời, cần nghiên cứu cơ chế tài chính phù hợp cho các dự án hạ tầng quy mô lớn, tiếp tục tháo gỡ vướng mắc đối với một số dự án PPP/BOT và khuyến khích phát triển các sản phẩm tài chính chuyên biệt cho lĩnh vực hạ tầng.

Các tổ chức tín dụng phải tuân thủ chặt chẽ quy định về giới hạn cấp tín dụng, hệ số an toàn vốn cũng như yêu cầu cân đối giữa nguồn vốn huy động ngắn hạn với nhu cầu cho vay trung và dài hạn. Trong khi đó, nhiều dự án PPP có thời gian hoàn vốn kéo dài từ 15 - 25 năm hoặc lâu hơn, tạo áp lực lớn về lệch kỳ hạn và quản trị rủi ro đối với hệ thống ngân hàng.

Không chỉ vậy, biến động lãi suất và chi phí vốn theo từng giai đoạn cũng có thể ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả tài chính và khả năng hoàn vốn của dự án. Điều này cho thấy nhu cầu phát triển và đa dạng hóa các kênh huy động vốn dài hạn, đặc biệt thông qua thị trường vốn và thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đang trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết.

Việc huy động vốn qua trái phiếu không chỉ giúp giảm áp lực lên hệ thống tín dụng mà còn góp phần hình thành cơ chế phân bổ vốn theo nguyên tắc thị trường, mở rộng khả năng tham gia của các nhà đầu tư tổ chức vào phát triển hạ tầng quốc gia.

Ba tác động lớn khi pháp lý được hoàn thiện

Trao đổi với phóng viên, Phùng Xuân Minh - Chủ tịch Saigon Ratings cho rằng, việc xây dựng khung pháp lý riêng cho trái phiếu PPP có ý nghĩa lớn bởi doanh nghiệp dự án PPP có đặc thù rất khác so với doanh nghiệp thông thường. Đây thường là các doanh nghiệp được thành lập để triển khai một dự án hạ tầng cụ thể, có thời gian đầu tư dài, vốn ban đầu lớn và dòng tiền phụ thuộc chủ yếu vào quyền khai thác công trình trong tương lai. Vì vậy, dự thảo Nghị định đã tiếp cận theo hướng “tài trợ dự án” thay vì chỉ dựa vào lịch sử lợi nhuận của doanh nghiệp.

Theo đó, dự thảo xác định trái phiếu PPP là loại trái phiếu không chuyển đổi, không kèm chứng quyền và có cơ chế bảo đảm thanh toán. Tài sản bảo đảm có thể bao gồm tài sản, quyền kinh doanh công trình hoặc hệ thống hạ tầng của tổ chức phát hành hay bên thứ ba. Đây được xem là nền tảng quan trọng để hình thành thêm một kênh huy động vốn dài hạn cho các dự án hạ tầng chiến lược, đồng thời tạo cơ sở để mở rộng sự tham gia của các nhà đầu tư tổ chức dài hạn như bảo hiểm, quỹ hưu trí và các quỹ đầu tư.

Bên cạnh mục tiêu mở rộng khả năng huy động vốn, ông Minh chỉ ra rằng, dự thảo cũng đặt ra nhiều yêu cầu nhằm tăng cường tính minh bạch và chuẩn hóa thị trường. Các đợt phát hành phải đáp ứng yêu cầu về xếp hạng tín nhiệm, có công ty chứng khoán tư vấn, đại diện người sở hữu trái phiếu, thực hiện niêm yết sau phát hành và công bố thông tin theo quy định. Những yêu cầu này không chỉ góp phần nâng cao khả năng kiểm soát rủi ro mà còn củng cố niềm tin của nhà đầu tư đối với sản phẩm trái phiếu hạ tầng.

Đánh giá về tác động của khung pháp lý mới, đại diện Saigon Ratings cho biết, nếu được hoàn thiện và vận hành hiệu quả, trái phiếu PPP có thể tạo ra ba tác động lớn đối với nền kinh tế.

Thứ nhất, mở rộng nguồn lực xã hội cho phát triển hạ tầng, giảm áp lực lên ngân sách nhà nước và tín dụng ngân hàng.

Thứ hai, giúp doanh nghiệp dự án PPP có thêm công cụ cơ cấu vốn dài hạn phù hợp với vòng đời dự án, qua đó giảm áp lực tái cấp vốn và rủi ro lãi suất.

Thứ ba, thúc đẩy thị trường vốn Việt Nam phát triển theo chiều sâu thông qua việc nâng cao vai trò của xếp hạng tín nhiệm, bảo lãnh thanh toán, đại diện trái chủ và chuẩn hóa công bố thông tin.

Tuy nhiên, để thị trường phát triển bền vững, trái phiếu PPP không nên được hiểu là công cụ “nới chuẩn” phát hành mà cần trở thành công cụ chuẩn hóa rủi ro cho thị trường hạ tầng. Mỗi đợt phát hành cần có hồ sơ pháp lý đầy đủ, phương án tài chính khả thi, dòng tiền dự án được giám sát chặt chẽ, tài sản bảo đảm có khả năng thực thi và kết quả xếp hạng tín nhiệm được cập nhật định kỳ.

“Nếu có quy định chuyên biệt và cơ chế vận hành hiệu quả, thị trường trái phiếu hạ tầng có thể trở thành kênh huy động vốn quan trọng từ năm 2026, góp phần huy động nguồn lực xã hội cho các dự án chiến lược, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia” - ông Minh nhấn mạnh.

Thu Hương

Đọc thêm

Việt Nam tuân thủ nghiêm túc các quy định của ILO, các điều ước quốc tế về lao động

Việt Nam tuân thủ nghiêm túc các quy định của ILO, các điều ước quốc tế về lao động

(TBTCO) - Việt Nam nghiêm cấm mọi hình thức lao động cưỡng bức, tuân thủ nghiêm túc các quy định của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), các điều ước quốc tế và hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên.
Quảng Ninh: Tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp đạt gần 62%

Quảng Ninh: Tỷ lệ lấp đầy đất công nghiệp đạt gần 62%

(TBTCO) - Tỷ lệ lấp đầy trên diện tích đất công nghiệp đã được giao tại Quảng Ninh hiện đạt 61,95%. Kết quả này cho thấy hạ tầng công nghiệp của tỉnh đang phát huy hiệu quả, đồng thời vẫn còn dư địa tiếp nhận các dự án quy mô lớn, công nghệ cao.
Việt Nam chuyển “tầm ngắm” để “lọc” dự án FDI chất lượng

Việt Nam chuyển “tầm ngắm” để “lọc” dự án FDI chất lượng

(TBTCO) - Theo các chuyên gia kinh tế, triển vọng thu hút FDI của Việt Nam vẫn tích cực, nhưng trọng tâm chính sách cần chuyển từ quy mô vốn đăng ký sang chất lượng dự án, mức độ chuyển giao công nghệ và khả năng đưa doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Đầu tư hạ tầng logistics, tăng năng lực cạnh tranh chuỗi cung ứng

Đầu tư hạ tầng logistics, tăng năng lực cạnh tranh chuỗi cung ứng

(TBTCO) - Việt Nam đang đứng trước cơ hội tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và phân phối toàn cầu. Tuy nhiên, để biến cơ hội thành lợi thế cạnh tranh, việc phát triển hạ tầng logistics hiện đại, xanh và số được xem là yêu cầu cấp thiết.
Doanh nghiệp mới tại Gia Lai tăng cả về số lượng và quy mô vốn

Doanh nghiệp mới tại Gia Lai tăng cả về số lượng và quy mô vốn

(TBTCO) - Từ đầu năm đến ngày 22/7, Gia Lai có 2.292 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 35.884 tỷ đồng, tăng khoảng 196% so với cùng kỳ năm 2025. Cùng kỳ, số doanh nghiệp thành lập mới cũng tăng khoảng 36%, đạt 32,74% chỉ tiêu phát triển doanh nghiệp của cả năm.
Đà Nẵng mở không gian kinh tế tầm thấp

Đà Nẵng mở không gian kinh tế tầm thấp

(TBTCO) - Để đón đầu sự phát triển của thị trường kinh tế tầm thấp được dự báo đạt tỷ USD, Đà Nẵng sẵn sàng rót ngân sách, kiến tạo bệ phóng hạ tầng, từng bước hoàn thiện cơ chế, chính sách. Đây là nỗ lực nhằm tạo động lực phát triển mới cho địa phương.
Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng cao nhưng dư địa ổn định thu hẹp

Kinh tế Việt Nam nửa đầu năm 2026: Tăng trưởng cao nhưng dư địa ổn định thu hẹp

Sáu tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng cao, các động lực chính cùng vận hành, sức chống chịu được cải thiện. Tuy nhiên, khi nền kinh tế tăng tốc, các cân đối về lạm phát, tỷ giá và lãi suất trở nên nhạy cảm và bài toán ổn định vĩ mô cũng khó hơn.
Tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế, đẩy mạnh cải cách thể chế

Tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế, đẩy mạnh cải cách thể chế

(TBTCO) - Trả lời phỏng vấn của phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, ông Bùi Minh Giáp - Chuyên gia Kinh tế trưởng của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, cho rằng Việt Nam không nên lựa chọn giữa tăng trưởng và ổn định vĩ mô, mà cần theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao trên nền tảng duy trì ổn định kinh tế và đẩy mạnh cải cách thể chế. Việt Nam vẫn có thể theo đuổi tăng trưởng cao mà không phải đánh đổi ổn định vĩ mô, nếu lựa chọn đúng chính sách.
Xem thêm