Cần cuộc “cách mạng” về đầu tư để chinh phục mục tiêu tăng trưởng
“Căn bệnh trầm kha” chưa giải quyết được
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ Nhất, trong ngày 20 và 21/4, Quốc hội sẽ thảo luận tại hội trường về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính - ngân sách, đầu tư công giai đoạn 5 năm tới.
Với mục tiêu tăng trưởng mang tính bước ngoặt, kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn tới dự kiến bố trí nguồn lực rất lớn, khoảng 8,22 triệu tỷ đồng, cao gần gấp 3 lần so với giai đoạn trước.
Tuy nhiên, tại các phiên thảo luận tổ của Quốc hội, nhiều đại biểu cho rằng, chi nhiều tiền là chưa đủ. Vấn đề cốt lõi là phải thực hiện một "cuộc cách mạng" trong giải ngân và sử dụng vốn để nguồn lực thực sự phát huy hiệu quả, kích hoạt các động lực tăng trưởng mới.
![]() |
| Cao tốc Đồng Đăng - Trà Lĩnh khi hoàn thành sẽ mở ra sinh kế mới cho người dân địa phương. Ảnh: Đức Thanh |
Nhìn từ thực tế giai đoạn vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội chỉ ra rằng “căn bệnh trầm kha” của đầu tư công vẫn chưa được giải quyết. Theo đại biểu Lê Hữu Trí (đoàn Khánh Hòa), câu chuyện giải ngân chậm, có tiền nhưng không tiêu được… vẫn tiếp diễn. Nhiều dự án đã có nguồn vốn, có kế hoạch nhưng thủ tục đầu tư vẫn chưa xong.
Nguyên nhân, theo các đại biểu là ở sự chồng chéo của hệ thống pháp luật, dù đã được tháo gỡ tích cực song vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Đại biểu Nguyễn Khánh Vũ (Quảng Trị) phân tích: "Điểm nghẽn lớn nhất hiện là sự chồng chéo và thiếu đồng bộ, nhất quán giữa các quy định của pháp luật, một dự án phải đi qua nhiều luật nhưng không luật nào chịu trách nhiệm đến cùng". Bên cạnh đó, công tác giải phóng mặt bằng vẫn tiếp tục là "điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn", tạo ra vòng luẩn quẩn: chậm tiến độ, đội vốn, rồi lại điều chỉnh và tiếp tục chậm.
Ngoài ra, có ý kiến cũng lưu ý áp lực giải ngân và hoàn thành tiến độ dự án đôi khi dẫn đến những hệ lụy về chất lượng. Đại biểu Nguyễn Tiến Hải (An Giang) dẫn chứng thực tế từ tuyến cao tốc Cần Thơ - Cà Mau, do bị ép tiến độ, cắt giảm thời gian gia tải trên nền đất yếu nên khi đưa vào khai thác không đạt yêu cầu chất lượng, có đoạn phải làm lại, gây tốn kém cả về thời gian lẫn nguồn lực đầu tư.
ICOR thấp đáng kể so với các nước trong khu vực
Những vướng mắc về thủ tục, giải phóng mặt bằng và chất lượng dự án không chỉ làm chậm tiến độ mà còn trực tiếp đẩy chi phí lên cao, thể hiện rõ nhất qua chỉ số ICOR (chỉ số hiệu quả sử dụng vốn).
Dẫn báo cáo của Chính phủ, đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng (Cần Thơ) cho biết, ICOR của Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025 ở mức 6,4, cao hơn khá nhiều so với các nước trong khu vực như Indonesia (5,2), Malaysia (4,5) hay Thái Lan (4,2). Như vậy về hiệu quả sử dụng vốn của Việt Nam còn khoảng cách đáng kể so với các nước trong khu vực.
Đầu tư có trọng tâm trọng điểmTrình bày tại Quốc hội về kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho hay, tổng nguồn vốn đầu tư công giai đoạn 2026 - 2030 là 8,22 triệu tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương là 3,8 triệu tỷ đồng và ngân sách địa phương là 4,42 triệu tỷ đồng. Chính phủ xác định đầu tư có trọng tâm trọng điểm, bám sát các nhiệm vụ, chương trình hành động được nêu tại Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng và Đại hội Đảng các cấp. Đồng thời, thực hiện rà soát, tính toán hiệu quả kinh tế - xã hội các chương trình, dự án đề xuất bố trí vốn, phấn đấu giảm ICOR, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa đầu tư công và đầu tư xã hội. Đáng chú ý, số dự án giai đoạn này sẽ giảm tối thiểu 30% so với giai đoạn trước, gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong đầu tư công.
|
Nguyên nhân khiến ICOR của Việt Nam cao, theo đại biểu Hùng, là do vốn đầu tư của chúng ta chưa đi kèm với bứt phá về công nghệ, trình độ lao động và một hệ thống thể chế hiệu quả. Ba khu vực có chỉ số ICOR cao được đại biểu chỉ ra gồm ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp khai khoáng, do vốn lớn, thi công kéo dài và sản xuất thô nên ICOR từ 7,5 đến 8,5. Ngành bất động sản dù đóng góp cho ngân sách nhiều nhưng ICOR cũng cao, do rất nhiều dự án vốn bị đóng băng, chi phí tài chính cao. Khu vực kinh tế nhà nước có ICOR cao do nhiều dự án không hiệu quả kéo dài, tồn đọng, lãng phí và đầu tư nhiều nhưng thu lại ít, các quá trình thoái vốn, cổ phần hóa không hiệu quả. “Đây có 3 khu vực đang được nhận diện là ICOR rất cao, cần phải tập trung giải pháp để xử lý” - đại biểu đề nghị.
Để giải bài toán trên, nhiều đại biểu thống nhất rằng giai đoạn 2026 - 2030 không thể tiếp tục làm đầu tư công theo tư duy cũ mà cần có “một cuộc cách mạng”, thay đổi từ tư duy đầu tư công cho đến thể chế, cơ chế, rà soát. Từ các phiên thảo luận, các đại biểu đã đề xuất nhiều giải pháp cốt lõi để nâng cao hiệu quả đầu tư công và kéo giảm chỉ số ICOR.
Phân bổ vốn gắn với hạch toán hiệu quả
Trước hết, thực hiện "hạch toán kinh tế - xã hội" đối với từng dự án và giao quyền tự chủ cho địa phương. Đại biểu Trịnh Xuân An (đoàn Đồng Nai) rất tán đồng với định hướng mới của Chính phủ là phân bổ vốn gắn với hạch toán kinh tế - xã hội, đánh giá hiệu quả đầu tư. Ông mạnh dạn đề xuất thay đổi phương pháp làm đầu tư công: thay vì hình thành một danh mục dự án chi tiết từ trên xuống, Trung ương nên "giao cho địa phương một gói, địa phương sẽ căn cứ vào tình hình thực tế để quyết xem là làm nhiệm vụ nào..., như vậy mới quản lý được đầu ra".
Đại biểu Nghiêm Xuân Thành (đoàn Khánh Hòa) cũng đồng tình với định hướng này, nhấn mạnh việc thay đổi từ phân bổ theo "nhu cầu" sang hạch toán hiệu quả, nghĩa là các công trình dự án phải làm rõ tính cấp thiết và tính hiệu quả của từng công trình dự án, trên cơ sở đó mới quyết định. Khi đặt vấn đề quyết định chủ trương đầu tư trong một dự án nào thì phải đánh giá hiệu quả của dự án đó sau mới tới đến chuyện phân bổ nguồn vốn, đại biểu Lê Hữu Trí cũng đề nghị.
Cùng với đó, các đại biểu đề nghị kiên quyết cắt giảm dàn trải và xử lý dứt điểm dự án tồn đọng. Để giảm ICOR, đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng đề xuất phải tập trung cắt giảm số lượng dự án, đặc biệt là các dự án không hiệu quả, đồng thời sớm tháo gỡ khó khăn cho các dự án tồn đọng kéo dài. "Riêng các dự án vướng mắc về bất động sản có khoảng độ hơn 3000 dự án và Chính phủ cho rằng nếu tháo gỡ được các dự án này, đưa vào vận hành thì đóng góp cho GDP khoảng 5% đến 7%" - ông dẫn chứng.
Về thể chế, để xóa bỏ "điểm nghẽn của mọi điểm nghẽn", đại biểu Nguyễn Khánh Vũ kiến nghị Chính phủ rà soát, thiết kế lại pháp luật theo hướng "một đầu mối, một quy trình, một trách nhiệm” nhằm tạo ra hành lang pháp lý minh bạch. Đồng thời, phải cho phép tách công tác giải phóng mặt bằng thành dự án độc lập và thực hiện trước khi phê duyệt dự án. Để bảo vệ những cán bộ dám nghĩ dám làm, cần tạo điểm tựa pháp lý an toàn để cán bộ yên tâm dốc toàn lực thúc đẩy dự án, xóa bỏ tâm lý e ngại về rủi ro pháp lý.
Theo đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng, để đạt tốc độ tăng trưởng GDP 10% với tỷ lệ đầu tư trên GDP hiện nay khoảng 35%, hệ số ICOR bắt buộc phải giảm xuống mức 3,5 (tức bằng khoảng một nửa hiện nay). Nếu tỷ lệ đầu tư tăng lên 40% GDP như mục tiêu Chính phủ dự kiến, ICOR cũng phải kéo giảm xuống mức 4,0. Đây là một nhiệm vụ vô cùng khó, nhưng bắt buộc phải làm, mới đạt được tốc độ tăng trưởng GDP như kỳ vọng, đại biểu nhấn mạnh.
Chỉ bằng cách thực hiện một "cuộc cách mạng" trong tư duy hạch toán kinh tế, kiên quyết chống dàn trải, tích hợp các thủ tục hành chính và khơi thông các dự án tồn đọng, nguồn vốn đầu tư công mới thực sự trở thành "vốn mồi", dẫn dắt dòng thác đầu tư từ khu vực tư nhân và FDI.
Dành cho bạn
Đọc thêm
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm kết thúc tốt đẹp chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tham quan Trung tâm trí tuệ nhân tạo Trung Quốc - ASEAN
Phát động Giải thưởng toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ XII: Mở rộng lan tỏa, thúc đẩy hội nhập trong giai đoạn mới
Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc
Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn hội kiến Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tiếp Bí thư Khu ủy Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây



