Giải “cơn khát vốn” của doanh nghiệp vừa và nhỏ qua cho vay không nhận tiền gửi
“Khát vốn” trung, dài hạn
Trao đổi với một doanh nghiệp trong khu công nghiệp hỗ trợ của Hà Nội giáp Hà Nam (cũ) cho thấy, rào cản vốn vẫn rất lớn với doanh nghiệp nội khi muốn tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Giám đốc doanh nghiệp này cho biết, để trở thành nhà cung ứng cho Samsung, doanh nghiệp phải đầu tư tối thiểu khoảng 300 tỷ đồng cho dây chuyền sản xuất. Tuy nhiên, để vay được vốn từ ngân hàng thương mại, phải có ít nhất 30% vốn đối ứng, tương đương khoảng 90 tỷ đồng. Với phần lớn doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMEs) Việt Nam, điều này gần như không tưởng.
SMEs đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. Đây là khu vực có khả năng hấp thụ lao động lớn, linh hoạt trong đổi mới công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi cung ứng và có sức lan tỏa mạnh tới khu vực kinh tế địa phương. Dù chiếm khoảng 97 - 98% tổng số doanh nghiệp đang hoạt động, đóng góp khoảng 45% GDP, hơn 30% thu ngân sách và tạo việc làm cho phần lớn lao động xã hội, nhưng khu vực này vẫn ở vị thế yếu trong tiếp cận tín dụng chính thức.
![]() |
| Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với nền kinh tế. (trong ảnh: nhà máy chế biến nông, lâm sản Queenfarm tại Thanh Hóa) Ảnh: An Thư |
Theo khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), có gần 80% SMEs gặp khó khăn do không đủ tài sản thế chấp, tỷ lệ có khả năng tiếp cận vốn ngân hàng giảm dần nhiều năm gần đây. Điều này tạo ra nghịch lý khu vực tạo nhiều việc làm nhất, đóng góp GDP cao, nhưng lại khó tiếp cận nguồn lực tài chính nhất. Trong khi đó, nhu cầu vốn chủ yếu là vốn trung dài hạn để đầu tư máy móc thiết bị; chuyển đổi công nghệ; xây dựng nhà xưởng; mở rộng sản xuất; chuyển đổi số; đáp ứng tiêu chuẩn ESG và chuỗi cung ứng toàn cầu.
Nếu chỉ hỗ trợ cho vay vốn ngắn hạn, SMEs sẽ khó tạo ra năng lực sản xuất bền vững. Đây là nguyên nhân khiến năng suất lao động và khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của doanh nghiệp Việt Nam còn vô cùng hạn chế.
Trong khi đó, hiện kênh tài trợ vốn của Việt Nam cho nền kinh tế vẫn phụ thuộc chủ yếu vào hệ thống ngân hàng thương mại (bank-based). Trong khi, bản chất nguồn vốn của ngân hàng phần lớn là vốn huy động ngắn hạn, nên việc cung ứng tín dụng trung dài hạn luôn đối mặt với áp lực kỳ hạn, rủi ro thanh khoản và giới hạn an toàn hệ thống.
Chính vì vậy, nếu tiếp tục chỉ dựa vào ngân hàng thương mại truyền thống sẽ rất khó giải quyết triệt để “cơn khát vốn” của SMEs, đặc biệt với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, sản xuất chế biến, đổi mới công nghệ, y tế tư nhân, logistics hay nông nghiệp công nghệ cao.
Thiếu các định chế tài chính trung gian cấp vốn cho doanh nghiệp sản xuất
Kinh nghiệm quốc tế từ các nền kinh tế thành công như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Đức đều phát triển mạnh hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi (non-deposit taking financial institutions), nhằm tạo kênh cung ứng vốn cho khu vực doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây chính là cấu phần khuyết thiếu lớn của thị trường tài chính Việt Nam.
Các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi là các định chế tài chính không được huy động tiền gửi dân cư, hoạt động bằng vốn tự có, chỉ được huy động vốn từ tổ chức, tự phát hành trái phiếu ra thị trường theo quy định chặt chẽ của pháp luật, không được mở tài khoản thanh toán như ngân hàng. Tuy nhiên, các định chế này được phép cung cấp tín dụng, nhất là tín dụng trung dài hạn hoặc tài trợ tài sản cho nền kinh tế.
Nhóm này gồm: công ty cho thuê tài chính; công ty factoring (bao thanh toán); công ty tài chính phát triển; quỹ đầu tư tín dụng; tổ chức tài chính chuỗi cung ứng; định chế tài chính xanh; quỹ đầu tư cơ sở hạ tầng doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Dư nợ cho thuê tài chính chiếm 0,4% GDP, thấp xa nhiều quốc giaTại Việt Nam, dư nợ cho thuê tài chính mới chỉ chiếm 1% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế của hệ thống các tổ chức tín dụng, tương đương khoảng 0,4% GDP, thấp hơn rất nhiều so với các quốc gia phát triển. Theo số liệu của Hiệp hội Cho thuê tài chính Việt Nam, tổng dư nợ cho thuê tài chính chỉ khoảng 47 nghìn tỷ đồng, một tỷ lệ rất nhỏ so với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp. Điều này cho thấy cấu trúc thị trường tài chính Việt Nam đang mất cân đối nghiêm trọng. Trong khi ngân hàng thương mại “gánh” quá nhiều vai trò; thị trường vốn phát triển chưa tương xứng; các định chế tài chính trung gian còn rất yếu. |
Tại nhiều quốc gia, các định chế này chiếm vai trò rất lớn trong cung ứng vốn trung dài hạn, giảm gánh nặng vốn lên hệ thống ngân hàng. Ví dụ tại Hoa Kỳ, tín dụng thiết bị thông qua cho thuê tài chính chiếm tỷ trọng rất cao trong đầu tư doanh nghiệp. Tại Trung Quốc, cho thuê tài chính trở thành công cụ thúc đẩy công nghiệp hóa và đổi mới công nghệ. Tại Đức, các định chế tài chính phát triển hỗ trợ mạnh mẽ doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất.
Trong hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, cho thuê tài chính là mô hình đặc biệt phù hợp với SMEs. Khác với tín dụng ngân hàng truyền thống, cho thuê tài chính tài trợ trực tiếp tài sản hình thành từ vốn vay, doanh nghiệp không nhất thiết phải có tài sản thế chấp bổ sung. Điều này giúp giải quyết “điểm nghẽn” lớn của SMEs và mô hình này đặc biệt phù hợp với các doanh nghiệp sản xuất. Công ty cho thuê tài chính có thể mua tài sản và cho doanh nghiệp thuê lại trong thời gian dài. Sau khi hết thời hạn thuê, doanh nghiệp được mua lại tài sản với giá tượng trưng.
Hình thức cho thuê tài chính cũng có nhiều ưu điểm như: giảm áp lực thế chấp; tài trợ đúng mục đích; kiểm soát dòng tiền tốt hơn; hạn chế đầu cơ vốn; khuyến khích đổi mới công nghệ. Đặc biệt, đây là kênh cung cấp vốn trung dài hạn rất quan trọng thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ; chuyển đổi xanh; tự động hóa sản xuất; chuyển đổi số và hiện đại hóa y tế tư nhân.
Cho thuê tài chính cần có đủ “không gian” để phát triển
Tại Việt Nam, ngành cho thuê tài chính phát triển rất chậm do khung pháp lý chưa hoàn chỉnh, các chỉ số về an toàn kinh doanh vẫn bị cơ quan quản lý nhà nước “đối xử” như ngân hàng thương mại làm hạn chế không gian phát triển của ngành này; thiếu ưu đãi thuế.
Một khó khăn lớn khác là dù tài sản cho thuê thuộc quyền sở hữu của chính công ty cho thuê tài chính, nhưng khi phát sinh nợ xấu, quá trình thu hồi và xử lý tài sản vẫn thiếu cơ chế xử lý nhanh, dẫn tới việc thu hồi tài sản gặp nhiều khó khăn. Ngoài ra, bản thân các công ty cho thuê tài chính thiếu nguồn vốn trung dài hạn lớn. Các doanh nghiệp và người dân kinh doanh cũng chưa biết nhiều về cho thuê tài chính.
Để phát triển hệ thống các tổ chức cho vay không nhận tiền gửi, Việt Nam cần cải cách đồng bộ nhiều nội dung.
Trong đó, ưu tiên hàng đầu là hoàn thiện khung pháp lý, cần xây dựng luật riêng hoặc chương riêng điều chỉnh các hoạt động như cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh tín dụng và tài trợ chuỗi cung ứng. Pháp luật cần phản ánh đúng bản chất hoạt động của các định chế tài chính này, thay vì quản lý tương tự ngân hàng thương mại truyền thống.
Bên cạnh đó, cần phát triển mạnh số lượng các tổ chức tài chính trung gian, hướng tới khoảng 400 công ty cho thuê tài chính và khoảng 100 công ty tài chính tổng hợp. Định hướng là các công ty cho thuê tài chính hoặc công ty tài chính tổng hợp sẽ nằm trong các tập đoàn công nghiệp hoặc tập đoàn tài chính lớn, nhằm có đủ nguồn lực để tài trợ máy móc, thiết bị, dây chuyền sản xuất dưới cả hai hình thức cho thuê tài chính và cho thuê vận hành, qua đó, tăng cường hỗ trợ SMEs tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, từng bước trở thành lực lượng doanh nghiệp trung tâm của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Dành cho bạn
Đọc thêm
Manulife Việt Nam nhận giải thưởng quốc tế về hoạt động cộng đồng
Tỷ giá USD hôm nay (20/5): Tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng, DXY giữ đà phục hồi trên 99 điểm
Giá vàng hôm nay ngày 20/5: Vàng miếng lùi về vùng 163,5 triệu đồng/lượng
Lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ lập đỉnh, Chứng khoán KB lưu ý áp lực tỷ giá và chi phí vốn
Danh mục đầu tư mở rộng, Dai-ichi Life Việt Nam giữ vững lợi nhuận nghìn tỷ
Vietcombank mở rộng thanh toán QR xuyên biên giới tới Nhật Bản và Hồng Kông


