Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba "biến số" làm gia tăng áp lực nợ xấu

Ánh Tuyết
SSI Research cho rằng, ngành ngân hàng sẽ tiếp tục đối mặt áp lực thanh khoản, NIM thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu trong nửa cuối năm 2026. Đáng chú ý, rủi ro từ lãi suất thả nổi, nhu cầu tái cấp vốn cho chủ đầu tư bất động sản và điều chỉnh quy hoạch Hà Nội có thể tạo thêm áp lực lên nợ xấu.
aa
Các nhà băng tăng trích lập dự phòng, củng cố “bộ đệm” Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm Ngân hàng giữ “sức khỏe” tài sản, bảo đảm an toàn cho hành trình tăng trưởng cao

Rủi ro đến từ lãi suất thả nổi, tái cấp vốn chủ đầu tư bất động sản

Trong báo cáo chiến lược thị trường mới phát hành mang tựa đề “Xây nền dựng sóng”, Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư, Công ty cổ phần Chứng khoán SSI (SSI Research) cho rằng, sau kết quả quý I/2026 tích cực hơn kỳ vọng, ngành ngân hàng bước vào nửa cuối năm vẫn còn nhiều thách thức. Áp lực thanh khoản, biên lãi ròng (NIM) thu hẹp và chất lượng tài sản suy yếu đã bắt đầu bộc lộ từ những quý đầu năm và nhiều khả năng sẽ còn kéo dài.

Tuy nhiên, sẽ có sự phân hoá ngày càng lớn giữa các ngân hàng, với lợi thế nghiêng về các ngân hàng có nền tảng huy động vững chắc, năng lực vốn và kiểm soát chi phí hoạt động tốt. Trong bối cảnh hiện tại, yếu tố phân hóa không nằm ở việc né tránh áp lực, mà ở năng lực hấp thụ và kiểm soát áp lực này tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh.

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba

Về chất lượng tài sản, SSI Research cho rằng, cần theo dõi chặt chẽ xu hướng nợ xấu. Mặc dù quy mô rủi ro đã mở rộng hơn so với cuối năm 2025, nhưng chưa đến mức có thể kích hoạt một rủi ro hệ thống.

“Xu hướng hình thành nợ xấu sẽ tiếp tục gia tăng trong nửa cuối năm 2026 từ mức nền hiện tại vẫn ở mức có thể kiểm soát. Theo dự báo của chúng tôi cuối năm 2026, tỷ lệ nợ xấu (NPL) sẽ ở mức 1,8% (so với 1,76% cuối năm 2025), dư nợ nhóm 2 ở mức 1,4% (tăng 20 điểm cơ bản)” - nhóm phân tích SSI Research nhận định.

Nêu rõ những yếu tố cần được theo dõi chặt chẽ, SSI Research cho rằng, một là, rủi ro đến từ lãi suất thả nổi của các khoản vay mua nhà, “điểm rơi” rủi ro trong quý III/2026. Các khoản vay được giải ngân trong giai đoạn 2023 - 2024 với mức lãi suất trong thời gian ân hạn 2 - 3 năm sẽ chuyển sang giai đoạn thả nổi với lãi suất cao. Nếu lãi suất tiền gửi duy trì ở mức cao lâu hơn dự kiến, tốc độ hình thành nợ xấu trong phân khúc này có thể tăng nhanh trong quý III - IV/2026.

Áp lực kép từ tín dụng và trái phiếu bất động sản

“Dư nợ cho vay đối với chủ đầu tư đã tăng ròng thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng kể từ cuối năm 2023. Với kỳ hạn vay phổ biến 2 - 3 năm, nhu cầu tái cấp vốn sẽ gia tăng rõ rệt từ cuối năm 2026. Bên cạnh đó, trái phiếu doanh nghiệp (không tính trái phiếu ngân hàng) dự báo cũng sẽ đáo hạn khoảng 76 nghìn tỷ đồng trong nửa cuối năm 2026 và 108 nghìn tỷ đồng trong năm 2027” - SSI Research đánh giá.

Hai là, rủi ro tái cấp vốn của các chủ đầu tư bất động sản cần phải được theo dõi kỹ từ nửa cuối năm 2026 trở đi.

Việc lãi suất hạ nhiệt và tiến độ bán hàng cải thiện sẽ đóng vai trò then chốt để các chủ đầu tư tự tạo dòng tiền vận hành, qua đó giảm phụ thuộc vào kênh vay vốn từ ngân hàng.

Mức độ khả thi của kịch bản này sẽ quyết định xu hướng rủi ro và động lực của thị trường trái phiếu doanh nghiệp bước sang năm 2027.

Ba là, điều chỉnh quy hoạch tổng thể Hà Nội, đây là yếu tố theo dõi trung hạn.

Quá trình tái cấu trúc các khu vực phát triển đô thị tại Hà Nội có thể ảnh hưởng đến giá trị tài sản bảo đảm bằng bất động sản đang thế chấp tại ngân hàng. Đây chưa phải là yếu tố tác động tức thời lên kết quả kinh doanh, do ảnh hưởng được đo bằng năm chứ không phải quý.

“Tuy nhiên, vấn đề này đòi hỏi các ngân hàng chủ động đánh giá lại tài sản bảo đảm và duy trì kỷ luật trích lập dự phòng. Chúng tôi xem đây là một nội dung cần được đưa vào kế hoạch quản trị rủi ro cho năm 2027, hơn là rủi ro lợi nhuận trong ngắn hạn” - nhóm phân tích nhận định.

Tín dụng đổi hướng trong bối cảnh room bị giới hạn

Theo nhóm phân tích SSI, định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 tiếp tục được duy trì quanh mức 15%. Đến cuối tháng 5/2026, tín dụng toàn hệ thống tăng 5,71% so với đầu năm, tương đương 19% so với cùng kỳ, đạt 19,6 triệu tỷ đồng. Diễn biến này cho thấy dư địa tăng trưởng trong nửa cuối năm có thể thận trọng hơn khi các ngân hàng phải bám sát hạn mức được giao cho cả năm.

Chất lượng tài sản ngân hàng có dấu hiệu suy yếu, ba

Hạn mức tín dụng vẫn là công cụ điều hành chính sách trọng yếu của Ngân hàng Nhà nước, với cơ chế khuyến khích đi kèm ràng buộc. Theo đó, mức độ tuân thủ các mục tiêu chính sách có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng được nới hay siết hạn mức của từng ngân hàng.

Xét theo cơ cấu tín dụng, xu hướng dịch chuyển hình thành từ quý I/2026 vẫn đang tiếp diễn. SSI Research chỉ rõ, cho vay xây dựng và hạ tầng tiếp tục là động lực tăng trưởng chủ đạo, bao gồm các dự án BT, công trình dân dụng và triển khai dự án bất động sản. Phân khúc này tăng 47% so với cùng kỳ trong quý I/2026 và đà tăng vẫn có thể duy trì trong các quý tới.

Bên cạnh đó, nhà ở xã hội, nhà ở thương mại giá phù hợp và nhà ở cho thuê đang nhận được mức độ ưu tiên cao hơn từ cơ quan quản lý. Tuy nhiên, quy mô giải ngân thực tế và mức độ khả thi vẫn bị giới hạn bởi bài toán hiệu quả.

“Nếu thiếu cơ chế tái cấp vốn chuyên biệt với lãi suất ưu đãi, lợi suất cho vay ở nhóm dự án này có thể chưa đủ hấp dẫn về mặt thương mại trong môi trường chi phí vốn còn cao” - SSI Research nêu quan điểm.

Cho vay chủ đầu tư dự án thương mại đang có xu hướng tập trung vào nhóm ngân hàng còn dư địa hạn mức tín dụng và có lợi thế huy động tốt hơn.

Ngoài ra, cho vay mua nhà nhiều khả năng chỉ phục hồi rõ hơn khi mặt bằng lãi suất hạ nhiệt. Đây có thể là câu chuyện của năm 2027 hơn là của năm nay./.

Nhóm phân tích SSI Research điều chỉnh dự báo tăng trưởng lợi nhuận trước thuế ngành ngân hàng trong nửa cuối năm 2026 lên 17,6%, tăng nhẹ so với mức 17% trước đây. Mặc dù lợi nhuận trước thuế toàn ngành trong quý I/2026 tăng khoảng 20% cùng kỳ, vượt kỳ vọng, dự báo cả năm hầu như không thay đổi, do môi trường hoạt động trong các quý còn lại được đánh giá sẽ thách thức hơn, đặc biệt liên quan đến chi phí vốn và áp lực lên NIM.

Việc điều chỉnh tăng dự báo chủ yếu mang tính kỹ thuật, phản ánh việc cập nhật mô hình đối với HDBank sau khi nâng tỷ lệ sở hữu tại HDBank Securities (90% từ 30%) và HDSaison (75% từ 50%). Dự báo đối với các ngân hàng khác trong phạm vi theo dõi của SSI Research nhìn chung không có thay đổi đáng kể.

Luận điểm đầu tư của năm 2026 đang dịch chuyển theo hướng dựa nhiều hơn vào hiệu quả chi phí và thu nhập phí, thay vì kỳ vọng mở rộng NIM, đến từ ba ngân hàng nổi bật là Vietcombank, VietinBankMB. Trong kịch bản tích cực hơn, khi chính sách tài khóa được đẩy nhanh hơn kỳ vọng và thanh khoản hệ thống cải thiện sớm, HDBankVPBank là hai cái tên đáng lưu ý, khi cả hai đều có độ nhạy cao hơn các ngân hàng khác trong chu kỳ mở rộng tín dụng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Tỷ giá USD hôm nay (25/7): USD nối dài chuỗi tăng, thị trường chờ quyết định lãi suất các ngân hàng trung ương

Sáng 25/7, tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.283 đồng, tăng 29 đồng so với cuối tuần trước, nối dài chuỗi tăng lên 11 tuần liên tiếp và chỉ còn cách đỉnh lịch sử 15 đồng. Chỉ số DXY lên 101,46 điểm, cao nhất từ cuối tháng 3/2025, tâm điểm thị trường tuần tới sẽ là các cuộc họp chính sách, lãi suất của các ngân hàng trung ương lớn Fed, BoE và BoJ.
Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

Giá vàng hôm nay ngày 25/7: Vàng thế giới tăng nhẹ, vàng trong nước tiếp đà giảm sâu

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch quanh mức 4.053 USD/ounce, tăng nhẹ so với cùng thời điểm sáng qua. Trong khi đó, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, với vàng miếng tại nhiều doanh nghiệp giảm tới 6,5 triệu đồng/lượng.
Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

Siết xử lý doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp tục tăng cường thanh tra, kiểm tra, phối hợp xử lý nghiêm các doanh nghiệp chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội; đồng thời triển khai nhiều giải pháp bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc có thể bị phạt đến 150 triệu đồng

(TBTCO) - Từ ngày 10/9/2026, hành vi trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc sẽ bị xử lý nghiêm theo Nghị định số 283/2026/NĐ-CP của Chính phủ. Trong đó, hành vi trốn đóng có thể bị phạt đến 75 triệu đồng đối với người sử dụng lao động là cá nhân và lên đến 150 triệu đồng với tổ chức vi phạm.
Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

Từ thanh toán số đến bệnh viện thông minh: LPBank đồng hành chuyển đổi số ngành y tế

(TBTCO) - Hưởng ứng chủ trương chuyển đổi số quốc gia, LPBank đang phát triển LPBank Healthcare - hệ sinh thái tài chính số chuyên biệt cho lĩnh vực y tế, đồng hành cùng các cơ sở khám chữa bệnh xây dựng bệnh viện thông minh, tối ưu vận hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt.
Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 24/7: Vàng thế giới giảm sâu, vàng trong nước bốc hơi tới 7 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 75 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt lao dốc, nhiều thương hiệu điều chỉnh giảm tới 7 triệu đồng/lượng chỉ sau một phiên giao dịch.
Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

Lãi suất khó giảm sâu, thanh khoản ngân hàng kỳ vọng cải thiện nhưng còn nhiều áp lực

(TBTCO) - Các chuyên gia đánh giá, mặt bằng lãi suất nhiều khả năng sẽ đi ngang hoặc tăng nhẹ trong nửa cuối năm. Dù thanh khoản được kỳ vọng cải thiện nhờ các chính sách hỗ trợ, rủi ro về nguồn vốn và thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 23/7: Vàng thế giới tăng lên 4.123 USD/ounce, vàng trong nước giảm trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 23/7: Vàng thế giới tăng lên 4.123 USD/ounce, vàng trong nước giảm trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng mạnh 43 USD/ounce lên 4.123,3 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm, với mức điều chỉnh cao nhất lên đến 1,4 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 136,200 141,200
Hà Nội - PNJ 136,200 141,200
Đà Nẵng - PNJ 136,200 141,200
Miền Tây - PNJ 136,200 141,200
Tây Nguyên - PNJ 136,200 141,200
Đông Nam Bộ - PNJ 136,200 141,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,750 14,150
Miếng SJC Nghệ An 13,750 14,150
Miếng SJC Thái Bình 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 14,150
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 14,150
NL 99.99 13,100
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000
Trang sức 99.9 13,340 14,040
Trang sức 99.99 13,350 14,050
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,375 14,152
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,375 14,153
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 137 141
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 137 1,411
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 134 139
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 130,624 137,624
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,461 10,441
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,879 94,679
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 75,148 84,948
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 71,395 81,195
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 48,319 58,119
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,375 1,415
Cập nhật: 26/07/2026 06:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17839 18112 18697
CAD 18141 18417 19040
CHF 31530 31910 32550
CNY 0 3846 3939
EUR 29293 29513 30596
GBP 34260 34651 35605
HKD 0 3225 3429
JPY 153 158 164
KRW 0 16 18
NZD 0 14925 15515
SGD 19849 20131 20717
THB 696 759 813
USD (1,2) 26059 0 0
USD (5,10,20) 26100 0 0
USD (50,100) 26129 26138 26508
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,510
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 29,454 29,478 30,884
JPY 156.29 156.57 166.01
GBP 34,433 34,526 35,714
AUD 18,033 18,098 18,781
CAD 18,347 18,406 19,086
CHF 31,824 31,923 32,853
SGD 19,953 20,015 20,797
CNY - 3,810 3,955
HKD 3,288 3,298 3,436
KRW 16.54 17.25 18.77
THB 742.92 752.1 805.37
NZD 14,882 15,020 15,468
SEK - 2,655 2,748
DKK - 3,940 4,079
NOK - 2,691 2,786
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,009.56 - 6,783.53
TWD 734.06 - 888.62
SAR - 6,891.48 7,258.53
KWD - 83,201 88,517
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,130 26,510
EUR 29,404 29,522 30,713
GBP 34,445 34,583 35,612
HKD 3,288 3,301 3,419
CHF 31,698 31,825 32,743
JPY 156.63 157.26 165.08
AUD 18,010 18,082 18,678
SGD 20,018 20,098 20,686
THB 759 762 797
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 14,971 15,514
KRW 17.17 19.04
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26130 26130 26520
AUD 18051 18151 19074
CAD 18341 18441 19457
CHF 31837 31867 33445
CNY 3827.4 3852.4 3987.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29526 29556 31282
GBP 34554 34604 36362
HKD 0 3355 0
JPY 157.3 157.8 168.34
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.4 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15029 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 20010 20140 20864
THB 0 726.6 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13550000 13550000 14050000
SBJ 12600000 12600000 14050000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,147 26,180 26,510
USD20 26,147 26,180 26,510
USD1 24,019 26,180 26,510
AUD 18,028 18,128 19,309
EUR 29,245 29,345 31,096
CAD 18,230 18,330 19,710
SGD 20,020 20,170 20,804
JPY 157.09 158.59 164.88
GBP 34,371 34,521 35,685
XAU 13,548,000 0 14,052,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/07/2026 06:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80